Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NINH KIỀU

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 78/2024/HS-ST

Ngày: 24/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Mai

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Trần Thị Dung
  2. Ông Lê Anh Khoa

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Quang Tú – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Lộc – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Ninh Kiều xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 81/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 405/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2024, đối với các các bị cáo:

  1. Nguyễn Hoài T, Sinh ngày 01/01/1974; Giới tính: Nam; Nơi ĐKTT: 71/25, Tổ A, khu vực T, phường T, quận B, thành phố Cần Thơ; Nơi ở hiện nay: 7, Tổ A, khu vực T, phường T, quận B, thành phố Cần Thơ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): 03/12; Nghề nghiệp: tự do; Con ông Nguyễn Văn Q và bà Võ Thị S; Vợ: Trần Kim Đ; Con: có 02 người, sinh năm 1998 và 2005; Tiền án, tiền sự: Không.
  2. Bị cáo bị tạm giam trong vụ án khác tại Nhà tạm giữ - Công an quận C, thành phố Cần Thơ từ ngày 29/7/2023 (Có mặt tại phiên tòa)

  3. Phạm Hoàng A, Sinh ngày 16/5/1985; Giới tính: Nam; Nơi ĐKTT: Khu vực B, phường P, quận Ô, thành phố Cần Thơ; Nơi ở hiện nay: Khu V, phường P, quận Ô, thành phố Cần Thơ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; Nghề nghiệp: tài xế; Con ông Phạm Văn T1 và bà Sa Li A1; C sống như vợ chồng với Võ Thị Thùy D; Con: có 02 người, sinh năm 2008 và 2020; Tiền án, tiền sự: Không.
  4. Bị cáo bị tạm giam trong vụ án khác tại Nhà tạm giữ - Công an quận C, thành phố Cần Thơ từ ngày 29/7/2023 (Có mặt tại phiên tòa)

  5. Nguyễn Thanh D1, sinh năm 2002; Giới tính: Nam; Nơi ĐKTT: 71/35 khu vực T, phường T, quận B, thành phố Cần Thơ; Nơi ở: 7 khu V, phường T, quận B, thành phố Cần Thơ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; Nghề nghiệp: công nhân; Con ông Nguyễn Thanh N và bà Trần Thị L; bị cáo chưa có vợ, con;
  6. Tiền án: Không.

    Tiền sự: Bị Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 18 tháng theo Quyết định số 22/QĐ-TA ngày 30/6/2023.

    Bị tạm giam từ ngày 16/01/2024 (Có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại: Ông Võ Văn H, sinh năm 1964 (Có mặt)

Địa chỉ: A khu vực B, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Lê Thanh T2, sinh năm 1973 (Có mặt)
  2. Địa chỉ: 1 khu V, phường T, quận B, TP .

  3. Ông Nguyễn Hoàng S1, sinh năm 1992 (Vắng mặt)
  4. Địa chỉ: 1 hẻm C M, phường X, quận N, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 03/7/2023, Phạm Hoàng A chở khách vào khu đô thị M, phường A, quận N thì phát hiện có 04 con bò đang cột ở bãi đất trống trong khu dân cư. Sau khi đưa khách xong, Hoàng A đến nhà Nguyễn Hoài T (làm nghề mua bán thịt bò) nói việc phát hiện 04 con bò với T, T kêu Hoàng A tìm xe tải để đi bắt trộm bò, Hoàng A đồng ý. Chiều ngày 05/7/2023, Hoàng A đến nhà T nói đã thuê được xe tải khoảng 22 giờ có xe, T yêu cầu Hoàng A chạy qua chở Nguyễn Thanh D1 với mục đích để D1 cảnh giới và tiếp dắt bò khi trộm được. T nói Hoàng A chở D1 đến quán cà phê đối diện bệnh viện S2, xong quay lại đón T cùng đến quán cà phê. T và Hoàng A ngồi uống cà phê còn D1 nằm ngủ. Đến khoảng 23 giờ, Hoàng A điều khiển xe mô tô Wave biển số 65E1-299.72 đi lấy xe tải, Hoàng A để xe mô tô của mình tại bãi xe thuộc khu dân cư Đ và thuê xe tải biển số 65C-125.17 đến quán cà phê. Khoảng 01 giờ sáng ngày 06/7/2023, T kêu Hoàng A và D1 đi đến chỗ buộc bò trong khu H. Hoàng A lái xe tải chở D1 và T vào khu dân cư H, khi đến gần nơi 04 con bò của ông Võ Văn H đang cột tại bãi đất trống, Hoàng A dừng xe lại, T xuống xe và kêu D1 cùng xuống để theo T đến nơi có 04 bò, Hoàng A lái xe ra hướng đầu khu dân cư nơi gò đất cao ngang thùng xe để dễ đưa bò lên xe. Hoàng A ngồi trên xe chờ, T và D1 đến nơi cột bò, T mở dây buộc bò dẫn 01 con bò lớn ra, T cầm dây kéo con bò đi, D1 đi phía sau dắt bò tiếp, mỗi lần bò quay đầu ra sau không chịu đi thì D1 giơ tay lên dọa để bò sợ đi nhanh, khi ra đến đường nhựa, T kêu D1 đứng lại canh chừng, T cầm dây kéo bò ra xe, Hoàng A mở cửa thùng xe tiếp đẩy bò lên xe, xong T quay lại để tiếp tục dẫn thêm 01 con bò đưa lên xe, Hoàng A đóng thùng xe lại rồi lái xe chở T và D1 về. Trên đường đi T nói Hoàng A đưa D1 1.000.000đồng để D1 tiêu xài, Hoàng A chở D1 về gần nhà rồi D1 tự đi bộ về. Hoàng A chở T đến bãi đất trống gần nhà T, tiếp T đưa 02 con bò vừa trộm được xuống xe, sau đó Hoàng A lái xe về, sáng hôm sau trả xe.

Ngày 09/7/2023, Thanh xẻ thịt bán 01 con bò được 15.800.000đồng, T đưa Hoàng A số tiền 7.000.000đồng bao gồm tiền chia cho Hoàng A đã cùng T bắt trộm bò và tiền thuê xe là 700.000đồng, tiền rửa xe và tiền đã cho D1 1.000.000đồng. Sau khi trừ hết chi phí, Hoàng A còn lại 5.000.000đồng tiêu xài cá nhân hết. Con bò còn lại T bán cho Lê Thanh T2 là người quen ở gần nhà T với số tiền 20.500.000đồng và tự giữ tiền chưa chia cho Hoàng A và D1.

Vật chứng thu giữ: 01 con bò cái có chửa, màu trắng vàng, cân nặng khoảng 400kg.

Tại Kết luận định giá tài sản số 1694/KL-HĐĐG ngày 28/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tổ tụng hình sự quận N định giá 02 con bò có tổng trọng lượng 750kg, giá trị 41.250.000đồng.

Gia đình Phạm Hoàng A nộp 10.000.000đồng, gia đình Nguyễn Thanh D1 nộp 1.000.000đồng tại Cơ quan điều tra để bồi thường cho bị hại.

Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo Phạm Hoàng A, Nguyễn Hoài T và Nguyễn Thanh D1 đã thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản là 02 con bò của ông Võ Văn H. Quá trình điều tra xác định, ngoài vụ trộm trên Phạm Hoàng A và Nguyễn Hoài T đã thực hiện 06 vụ trộm cắp bò trên địa bàn quận C, thành phố Cần Thơ và 01 vụ trộm cắp bò trên địa bàn huyện C, tỉnh Hậu Giang. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận C đã khởi tố và tạm giam Phạm Hoàng A và Nguyễn Hoài T để điều tra làm rõ xử lý theo quy định của pháp luật.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã xác minh rõ nguồn gốc và đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại tài sản cho bị hại Võ Văn H 01 con bỏ và 11.000.000đồng, bị hại đã nhận lại xong.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Võ Văn H đã nhận lại 01 con bò, con bò còn lại đã bị Thanh xẻ thịt bán ông yêu cầu bồi thường số tiền 35.000.000 đồng, gia đình các bị cáo Nguyễn Thanh D1 và Phạm Hoàng A khắc phục số tiền 11.000.000đồng, còn lại ông H yêu cầu các bị cáo tiếp tục bồi thường số tiền 24.000.000đồng.

Ông Lê Thanh T2 là người đã mua con bò do Nguyễn Hoài T bán với số tiền 20.500.000đồng, ông T2 không biết bò này do T trộm cắp có nên không đề cập xử lý về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Đối với số tiền ông T2 mua bò đã được gia đình Nguyễn Hoài T bồi thường số tiền 1.000.000đồng, ông T2 yêu cầu bồi thường số tiền còn lại 19.500.000đồng.

Ông Nguyễn Hoàng S1 là người cho Phạm Hoàng A thuê xe biển số 65C-12517 với giá 700.000đồng vào ngày 05/7/2023. Hoàng A sử dụng xe trên cùng đồng bọn đi trộm cắp bò vào ngày 06/7/2023. Việc Hoàng A sử dụng xe trên để đi trộm bò ông S1 không biết nên không đề cập xử lý đối với S1.

Quá trình điều tra các bị cáo Nguyễn Hoài T, Phạm Hoàng A, Nguyễn Thanh D1 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

Bản Cáo trạng số 94/CT-VKSNK ngày 10/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều truy tố các bị cáo Nguyễn Hoài T, Phạm Hoàng A, Nguyễn Thanh D1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo, không bổ sung gì thêm, đồng thời phân tích tính chất, mức độ, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo T từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù, xử phạt bị cáo Hoàng A từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù; áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo D1 từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù.

Bị cáo T nhờ gia đình bồi thường cho ông Võ Văn H, số tiền gia đình bị cáo T bồi thường được cho ông H tại phiên tòa là 5.000.000đồng. Ông H đã nhận số tiền này, không yêu cầu gì thêm và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo với mong muốn sau này các bị cáo sống tốt hơn, không vi phạm pháp luật nữa.

Ông Lê Thanh T2 không yêu cầu giải quyết số tiền ông đã bỏ ra mua bò từ bị cáo T, do là bạn bè cùng xóm nên sau này giữa ông và gia đình bị cáo Thanh tự giải quyết với nhau.

Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không có ý kiến bào chữa và xin được giảm nhẹ hình phạt để sớm hòa nhập xã hội, trở thành công dân tốt trong lời nói sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

[2] Các bị cáo Nguyễn Hoài T, Phạm Hoàng A, Nguyễn Thanh D1 đã có hành vi lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản, lấy của ông Võ Văn H 02 con bò, theo Kết luận định giá tài sản số 1694/KL-HĐĐG ngày 28/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận N định giá 02 con bò có tổng trọng lượng 750kg, giá trị 41.250.000đồng. Hành vi các bị cáo thực hiện nêu trên đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Vì vậy, cáo trạng truy tố các bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ.

Trong vụ án, các bị cáo cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội nhưng với vai trò khác nhau: Bị cáo T là người thực hiện hành vi phạm tội với vai trò chủ động, tích cực nhất, là người trực tiếp lấy tài sản, tiêu thụ tài sản và phân chia giá trị tài sản chiếm đoạt được; bị cáo Hoàng A cũng là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội, chuẩn bị phương tiện để thực hiện; bị cáo D1 phạm tội với vai trò ít quan trọng nhất.

Các bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi, có sức khỏe nhưng không tích cực lao động, chỉ vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân mà đã lợi dụng sơ hở của bị hại để chiếm đoạt tài sản một cách bất hợp pháp. Các bị cáo biết rõ lấy trộm tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản được Luật hình sự bảo vệ và xâm phạm đến an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, cần có hình phạt nghiêm để răn đe, giáo dục các bị cáo đồng thời góp phần vào công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm trong tình hình hiện nay.

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, một phần tài sản đã thu hồi được trả cho bị hại, tài sản không thu hồi được đã được gia đình các bị cáo bồi thường và bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo nên Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo D1 phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại đểm i Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Với những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng một hình phạt tương xứng và cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để các bị cáo có điều kiện học tập, tu dưỡng để trở thành người có ích cho xã hội sau này. Vì vậy, mức hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị là phù hợp.

[3] Về xử lý vật chứng:

Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bị hại Võ Văn H 01 con bỏ và 11.000.000đồng, bị hại đã nhận lại tài sản là phù hợp nên ghi nhận.

[4] Về trách nhiệm dân sự:

Ông Võ Văn H và ông Lê Thanh T2 không có yêu cầu gì đối với các bị cáo nên không đặt ra xem xét.

[5] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Hoài T, Phạm Hoàng A, Nguyễn Thanh D1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hoài T 02 (Hai) năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/7/2023.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Hoàng A 01 (Một) năm 06 (S) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/7/2023.

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm b, s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh D1 01 (Một) năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/01/2024.

- Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Mỗi bị cáo (Nguyễn Hoài T, Phạm Hoàng A, Nguyễn Thanh D1) phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - VKSND Q. Ninh Kiều;
  • - VKSND TP. Cần Thơ;
  • - CQCSĐT Công an Q. Ninh Kiều;
  • - Nhà tạm giữ Công an Q. Ninh Kiều;
  • - Chi cục THADS Q. Ninh Kiều;
  • - Tòa án nhân dân TP. Cần Thơ;
  • - Sở Tư pháp TP. Cần Thơ;
  • - Lưu: hồ sơ vụ án, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thúy Mai

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 78/2024/HS-ST ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 78/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hoài T, Phạm Hoàng A, Nguyễn Thanh D1 bị xét xử về tội "Trộm cắp tài sản" theo Khoản 1 Điều 173 BLHS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger