Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 78/2024/DS-ST

Ngày: 24 - 05 - 2024

Về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản".

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Phan Minh Trâm
  • - Các Hội thẩm nhân dân.
    • + Ông Tạ Công Minh;
    • + Ông Phùng Văn Long.
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo, là thư ký Tòa án nhân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Trà My - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 05 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 06/2024/TLST-DS ngày 09 tháng 01 năm 2024, về việc tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2024/QĐXX-DS ngày 22/04/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 46/2024/QĐHPT-ST ngày 07/05/2022, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần A (A1).

    Trụ sở chính: 1,2,3 Tòa nhà G, Số C H, Phường Ô, quận Đ, thành phố Hà Nội.

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Đao Mạnh K, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

    Đại diện theo uỷ quyền ông: Nguyễn Mạnh Q – chức vụ: Phó tổng giám đốc thường trực ngân hàng TMCP A. Theo giấy ủy quyền số 15/UQ-TGĐ.23 ngày 26/06/2023.

    Ông Nguyễn Mạnh Quân ủy q lại cho: Ông Nguyễn Chí T, sinh năm 1995 - Chức vụ: Nhân viên xử lý nợ - ban xử lý nợ. Địa chỉ: Số A P, phường B, quận T, thành phố Hồ Chí Minh. Theo giấy ủy quyền số 894 ngày 07/11/2023.

  2. Bị đơn:
    1. Chị Văn Thị Thanh T1, sinh năm 1988;

      Địa chỉ: Ấp Tây Hoà, xã Song Thuận, huyện Châu Thành, Tiền Giang.

      HKTT: Ấp Đăng Phong, xã Thanh Bình, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang

    2. Anh Trần Văn K1, sinh năm 1988.

      HKTT: Ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

      Chổ ở hiện nay: Cơ sở Cai nghiện tỉnh Tiền Giang. Địa chỉ ấp E xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

    (Anh T có mặt; chị T1, anh K1 vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện ngày 07/11/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án anh Nguyễn Chí T là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Chị Văn Thị Thanh T1 và anh Trần Văn K1 là vợ chồng có đăng ký kết hôn. Vào ngày 27/01/2022 Ngân hàng thương mại cổ phần A có ký hợp đồng cho vay từng lần số 0730/22/TD/XXVI với vợ chồng anh Trần Văn K1 và chị Văn Thị Thanh T1 với số tiền 300.000.000 đồng, thời hạn vay là 120 tháng ngày đáo hạn hợp đồng là ngày 27/01/2032, mục đích vay tiêu dùng, phương thức trả nợ vốn gốc và lãi theo định kỳ hàng tháng. Lãi suất thỏa thuận theo giấy nhận nợ ngày 27/01/2022 gồm có lãi suất trong hạn và lãi suất quá hạn cùng với lãi chậm trả.

  • - Lãi suất trong hạn gồm: Lãi suất ưu đãi 12 tháng đầu là 7,99%/ năm; Từ tháng 13 đến tháng thứ 36 là Lãi suất cơ sở + biên độ 3,4% năm. Từ tháng 37 trở đi thì lãi suất áp dụng đến kỳ thay đổi lãi suất bằng lãi suất cơ sở tại thời kỳ đổi lãi tương ứng + biên độ 3,9% năm. (Thời điểm thay đổi lãi suất: tần suất thay đổi lãi suất: 03tháng/1 lần kể từ thời điểm 27/01/2023.
  • - Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn.

Tại đơn khởi kiện Ngân hàng yêu cầu chị T1 anh K1 trả vốn gốc là 262.499.998 đồng, nợ lãi tạim tính đến ngày 02/11/2023 là 19.154.123 đồng. Tổng cộng vốn gốc và lãi là 281.654.121 đồng.

Tại phiên toà anh T đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày, quá trình vay anh K1 chị T1 có trả được vốn gốc là 37.500.000 đồng và tiền lãi là 33.466.741 đồng, trong đó trả tiền lãi từ ngày 28/02/2022 đến ngày 27/01/2023 theo lãi suất ưu đãi 7,99%/ năm, thành tiền là 22.867.817 đồng và lãi suất từ ngày 27/02/2023 đến ngày 27/05/2023 với lãi suất 14,90% năm (lãi suất cơ bản + biên độ 3,4%/ năm) thành tiền là 9.904.924 đồng. Đến ngày 19/03/2024 chị T1 anh K1 có trả thêm vốn gốc là 25.000.000 đồng. Như vậy tổng số tiền vốn gốc đã trả là 62.500.000 đồng và tiền lãi 33.466.741 đồng, tổng vốn gốc và lãi 95.966.741 đồng. Từ ngày 27/05/2023 anh K1 chị T1 thì ngưng trả lãi và vốn gốc cho đến nay.

Nay anh K1, chị T1 còn nợ lại ngân hàng vốn gốc là 237.500.000 đồng, lãi trong hạn là 37.249.338 đồng, lãi quá hạn là 2.487.627 đồng (tạm tính từ ngày 27/5/2023 đến ngày xét xử), tổng cộng vốn gốc và lãi là 277.236.964 đồng. Do anh K1 chị T1 vi phạm hợp đồng nên ngân hàng khởi kiện yêu cầu trả số tiền trên khi án có hiệu lực pháp luật.

Để đảm bảo khoản vay cho ngân hàng, chị T1 anh K1 có ký hợp đồng thế chấp tài sản số 0730/22/TC/XXVI ngày 27/01/2022 là quyền sử dụng sử dụng đất thửa 4567 diện tích 498,7m² tờ bản đồ số 02 toạ lạc tại Ấp T, xã S, huyện C, Tiền Giang do chị Văn Thị Thanh T1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CT 398818 cấp ngày 03/10/2019.

Tại phiên tòa, anh T đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng yêu cầu Tòa án buộc chị T1 anh K1 trả cho Ngân hàng số nợ nêu trên, thực hiện trả khi án có hiệu lực pháp luật. Ngoài ra, yêu cầu chị T1 anh K1 phải tiếp tục trả số tiền lãi phát sinh kể từ ngày xét xử theo lãi suất được quy định trong hợp đồng tín dụng và Giấy nhận nợ đã ký. Sau khi trả xong các khoản nợ thì Ngân hàng trả lại bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do chị Văn Thị Thanh T1 đứng tên cho vợ chồng chị T1 anh K1.

* Bị đơn là chị Văn Thị Thanh T1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo kết quả phiên họp, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn không có ý kiến và không có mặt để dự phiên tòa.

* Tại bản tự khai của bị đơn là anh Trần Văn K1 trình bày: Anh và chị Văn Thị Thanh T1 có ký hợp đồng vay tiền của ngân hàng thương mại cổ phần A vào ngày 27/01/2022 với số tiền vay là 300.000.000 đồng, thời hạn vay là 120 tháng, lãi suất thoả thuận theo hợp đồng mà hai bên đã ký. Để đảm bảo khoản vay vợ chồng anh có thế chấp cho ngân hàng là quyền sử dụng đất thửa số 4567 diện tích 498,7m² tờ bản đồ số 02 toạ lạc tại Ấp T, xã S, huyện C, tỉnh Tiền Giang do chị Văn Thị Thanh T1 đứng tên cấp ngày 03/10/2019. Quá trình vay vợ chồng anh có trả vốn gốc và lãi cho ngân hàng nhưng không nhớ rõ là bao nhiêu. Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu trả vốn gốc là 262.499.998 đồng và tiền lãi tạm tính là 19.154.123 đồng anh thống nhất.

Anh và chị T1 đã ly hôn vào năm 2023 tại Toà án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang. Hiện nay anh đang bị đưa vào cai nghiện tại cơ sở cai nghiện ma tuý tại Cơ sở cai nghiện Tiền Giang nên anh không có làm kinh tế được. Anh đồng ý để ngân hàng phát mãi tài sản đã thế chấp để thu hồi nợ. Đồng thời anh xin vắng mặt phiên họp kiểm tra công khai chứng cứ, phiên hoà giải và xét xử do bị bệnh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang phát biểu:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và nội dung giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa xét xử đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục được pháp luật quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đúng pháp luật. Bị đơn chị Văn Thị Thanh T1 không chấp hành đúng pháp luật tố tụng; anh Trần văn K2 thực hiện đúng theo pháp luật.

Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc anh Trần Văn K1 và chị Văn Thị Thanh T1 trả số tiền vốn gốc và lãi là 277.236.964 đồng, trong đó vốn gốc là 237.500.000 đồng, lãi trong hạn là 37.249.338 đồng và lãi quá hạn là 2.487.627 đồng đồng. Đồng thời phải tiếp tục trả số tiền lãi phát sinh kể từ ngày xét xử theo lãi suất được quy định trong hợp đồng tín dụng và Giấy nhận nợ đã ký đồng. Thời gian thực hiện trả khi án có hiệu lực pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Bị đơn chị Văn Thị Thanh T1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn không có mặt để tham dự phiên tòa. Anh Trần Văn K1 có đơn xin vắng mặt. Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị T1, anh K1 theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ tranh chấp: Ngân hàng thương mại cổ phần A khởi kiện yêu cầu anh Trần Văn K1 và chị Văn Thị Thanh T1 phải thanh toán nợ theo các Hợp đồng tín dụng có mục đích vay vốn để tiêu dùng. Đây là tranh chấp về hợp đồng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

[3] Về thẩm quyền giải quyết: Chị Văn Thị Thanh T1 và anh Trần Văn K1 ký Hợp đồng vay từng lần và G nhận nợ tại Ngân hàng thương mại cổ phần A - Chi nhánh M. Nên tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành theo quy định tại khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[4] Xét yêu cầu khởi kiện: Đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn yêu cầu chị T1 anh K1 trả vốn gốc và lãi tổng cộng là 277.236.964 đồng trong đó vốn gốc là 237.500.000 đồng, lãi trong hạn là 37.249.338 đồng và lãi quá hạn là 2.487.627 đồng. Tuy nhiên suốt quá trình giải quyết vụ án chị Văn Thị Thanh T1 không có ý kiến phản đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đối với anh Trần Văn K1 có văn bản đồng ý trả số nợ cho Ngân hàng, nhưng hiện nay do anh đang bị cai nghiện tại Cơ sở Cai nghiện tỉnh Tiền Giang và hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không có khả năng trả nợ. Anh đồng ý để ngân hàng phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Xét thấy yêu cầu của Ngân hàng là có cơ sở, bởi lẽ anh K1 chị T1 đã vi phạm về nghĩa vụ trả nợ, xâm phạm trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng. Nên cần buộc anh K1, chị T1 trả số tiền trên ngay khi án có hiệu lực pháp luật và tiếp tục trả lãi theo hợp đồng tín dụng đã ký kết là phù hợp với quy định tại Điều 466 Bộ luật dân sự và Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng.

[5] Xét hợp đồng thế chấp

Để bảo đảm cho khoản vay trên, chị T1 đã thế chấp quyền sử dụng sử dụng đất thửa 4567 diện tích 498,7m² tờ bản đồ số 02 toạ lạc tại Ấp T, xã S, huyện C, Tiền Giang do chị Văn Thị Thanh T1 đứng tên cấp ngày 03/10/2019 cho Ngân hàng thương mại cổ phần A theo hợp đồng thế chấp bất động sản số 0730/2022/TC/XXVI vào ngày 27/01/2022. Nhận thấy hợp đồng thế chấp được ký kết giữa ngân hàng với chị Văn Thị Thanh T1 tại Phòng C, tỉnh Tiền Giang trên tinh thần hoàn toàn tự nguyện, không bị lừa dối hay ép buộc. Vì vậy hợp đồng thế chấp phù hợp với quy định của pháp luật và có hiệu lực kể từ ngày ký kết, đăng ký.

- Về xử lý tài sản thế chấp: Trong điều khoản của hợp đồng thế chấp Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước xử lý tài sản thế chấp để thu hồi dư nợ của bên thế chấp. Như vậy, yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của Ngân hàng là theo sự thỏa thuận của hợp đồng số 0730/2022/TC/XXVI vào ngày 27/01/2022 được qui định tại điềm J khoản 2 Điều 7 và phù hợp với qui định pháp luật tại Điều 317, Điều 318 và Điều 319 Bộ luật dân sự, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng, nên được chấp nhận.

Nếu chị T1 anh K1 thực hiện xong nghĩa vụ trả tiền thì Ngân hàng phải trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bản chính cho chị Văn Thị Thanh T1 theo sự thỏa thuận của các bên được qui định tại điểm b khoản 1 Điều 5 của Hợp đồng thế chấp số 0730/2022/TC/XXVI vào ngày 27/01/2022

[6] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng được Hội đồng xét xử chấp nhận nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Anh Trần Văn K1 và chị Văn Thị Thanh T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (277.236.964 đồng x 5%) là 13.861.848 đồng, theo qui định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xét phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 463; Điều 466; Điều 317; Điều 318; Điều 319 Bộ luật dân sự;

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng;

Căn cứ khoản 2 điều 26 nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án.

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần A (viết tắt A1).

    Buộc Trần Văn K1 và chị Văn Thị Thanh T1 có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần A (viết tắt A1) số tiền còn nợ của Hợp đồng cho vay từng lần số 0730/22/TD/XXVI ngày 27/01/2022 vốn gốc và lãi là 277.236.964 đồng tính đến ngày xét xử. Trong đó số tiền vốn gốc là 237.500.000 đồng và tiền lãi trong hạn là 37.249.338 đồng, lãi quá hạn là 2.487.627 đồng.

    - Nếu chị T1 anh K1 đã thực hiện xong nghĩa vụ trả tiền cho Ngân hàng thương mại cổ phần A (viết tắt A1), thì Ngân hàng phải trả lại các tài sản đã thế chấp là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bản chính số CT398818 do chị Văn Thị Thanh T1 đứng tên cấp ngày 03/10/2019 cho chị T1;

    - Trường hợp chị T1 anh K1 không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ khoản nợ trên cho Ngân hàng thương mại cổ phần A (A1) thì ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản đảm bảo là quyền sử dụng đất thửa số 4567 diện tích 498,7m² tờ bản đồ số 02 toạ lạc tại Ấp T, xã S, huyện C, Tiền Giang do chị Văn Thị Thanh T1 đứng tên cấp ngày 03/10/2019 để thu hồi nợ.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án (tính tiếp theo sau ngày 24/5/2024) theo mức lãi suất hai bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số Hợp đồng cho vay từng lần số 0730/22/TD/XXVI ngày 27/01/2022 và giấy nhận nợ số giấy nhận nợ số 0730/TD/XXVI.01 ngày 27/01/2022

  2. Về án phí:

    Chị Văn Thị Thanh T1 và anh Trần Văn K1 phải chịu 13.861.848 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

    - H lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần A (A1) số tiền 7.042.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0010788 ngày 03/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.

  3. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo qui định các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận

  • - TAND Tỉnh Tiền Giang.
  • - VKSND huyện Châu Thành.
  • - Chi cục THA DS.
  • - Đương sự.
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trịnh Phan Minh Trâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 78/2024/DS-ST ngày 24/05/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 78/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp vay tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger