Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 78/2024/HS - ST

Ngày: 23-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Như Quỳnh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Giới

Ông Nguyễn Văn Bẩy

Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Đức Trọng - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã

Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều tham gia phiên tòa:

Ông Hoàng Minh Công - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại phòng xử án Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 73/2024/TLST - HS ngày 09 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84/2024/QĐXXST- HS ngày 10 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Dương Trung N; sinh ngày 11/10/2000, tại thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: tổ B, khu V, phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Công nhân Công ty T2; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Quang T và bà Phạm Thị Bích H; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không có; bị cáo bị bắt quả tang ngày 17/6/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Đ, có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Thị Bích H; nơi cư trú: tổ B, khu V, phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.

- Người chứng kiến: Ông Đoàn Ngọc V và ông Nguyễn Anh T1; đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên tối ngày 17/6/2024, Dương Trung N điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda SH, biển kiểm soát 14Z1- 472.21, đi đến khu vực gốc đa thuộc phường M, thị xã K, tỉnh Hải Dương, gặp và mua của một người đàn ông (không rõ lai lịch, địa chỉ) 02 túi nilon chứa ma túy (01 túi chứa 02 viên ma túy dạng nén và 01 túi chứa ma túy dạng tinh thể) với giá 1.500.000 đồng. Sau khi mua, N điều khiển xe mô tô đi tìm nơi sử dụng. Khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, khi N đi đến đoạn đường dân sinh thuộc khu V, phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh, thì bị Tổ công tác của Công an thị xã Đ kiểm tra phát hiện, bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ của N: Trong lòng bàn tay trái có 01 túi nilon kích thước (4x8)cm chứa 02 viên nén đa giác màu trắng (kí hiệu M1) và 01 túi nilon kích thước (2x2,5)cm chứa chất tinh thể màu trắng (kí hiệu M2). Ngoài ra còn tạm giữ của N 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH, biển kiểm soát 14Z1-472.21.

Tại bản Kết luận giám định số 937/KL-KTHS ngày 24/6/2024, của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận:

Mẫu vật kí hiệu M1 gửi giám định là ma túy, loại MDMA, khối lượng 0,996g (không phẩy chín chín sáu gam). Mẫu vật kí hiệu M2 gửi giám định là ma túy, loại Ketamine, khối lượng 0,274g (không phẩy hai bảy bốn gam).

(MDMA và Ketamine nằm trong danh mục Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất).

Đối với xe mô tô biển kiểm soát 14Z1 – 472.21, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của bà Phạm Thị Bích H (mẹ đẻ của bị cáo N), việc N sử dụng xe mô tô trên đi mua ma túy bà H không biết. Ngày 31/7/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà H.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Dương Trung N khai nhận như nội dung bản cáo trạng đã truy tố.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị Bích H có lời khai tại phiên tòa thể hiện: năm 2020, bà mua chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH 150i màu đen ở một cửa hàng xe máy ở thành phố H với giá 110.300.000đ (một trăm mười triệu ba trăm nghìn đồng). Khi mua xe về bà làm thủ tục đăng ký sở hữu là bà và được cấp biển kiểm soát 14Z1 - 472.21. Từ đó đến nay bà vẫn sử dụng để đi làm hàng ngày. Tối ngày 17/6/2024, N hỏi mượn xe của bà để đi chơi với bạn nên bà đã đồng ý cho N mượn. Bà không biết N mượn xe của bà để đi mua ma túy về sử dụng. Hiện nay, bà đã được Cơ quan cảnh sát điều tra trả lại chiếc xe trên. Bà không có đề nghị gì thêm.

Người chứng kiến ông Đoàn Ngọc V và ông Nguyễn Anh T1 vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai tại cơ quan điều tra thể hiện: vào khoảng 22 giờ 30 phút ngày 17/6/2024, các ông được lực lượng Công an mời đến đoạn đường dân sinh thuộc khu V, phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh để chứng kiến việc lực lượng công an lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với nam thanh niên có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Cơ quan công an phát hiện tại lòng bàn tay trái của nam thanh niên đang cầm 01 (một) túi nilon, kích thước khoảng (4 x 8)cm, bên trong túi này chứa: 02 (hai) viên nén giống nhau đều hình đa giác màu trắng nâu và 01 (một) túi nilon kích thước khoảng (2 x 2,5)cm chứa chất tinh thể màu trắng. Tại chỗ, nam thanh niên khai nhận tên Dương Trung N, sinh năm 2000, địa chỉ phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Chất tinh thể màu trắng trong túi nilon trên là ma túy loại Ketamine, còn 02 (hai) viên nén hình đa giác màu trắng nâu nói trên là ma túy loại “kẹo” (tức ma túy tổng hợp), N mua để sử dụng. Sau đó cơ quan Công an lập biên bản thu giữ vật chứng theo quy định của pháp luật.

Tại Cáo trạng số: 1869/CT - VKSĐT ngày 06 - 9 - 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều truy tố bị cáo Dương Trung N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo theo bản Cáo trạng. Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo từ 21 (hai mươi mốt) đến 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 17/6/2024.

- Về hình phạt bổ sung: bị cáo không có tài sản riêng, bản thân nghiện ma túy nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng.

- Về xử lý vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

+ Tịch thu, tiêu huỷ 01 (một) phong bì niêm phong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định số 937/KL - KTHS ngày 24/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q;

Lưu kèm trong hồ sơ vụ án 01 (một) phong bì của Công an thị xã Đ ghi nội dung “Đĩa DVD Dương Trung N"

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ cũng như hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập và hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về việc định tội đối với bị cáo: lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của những người chứng kiến, với biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an thị xã Đ, lập hồi 22 giờ 40 phút ngày 17/6/2024 tại khu V, phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh, với biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ, với vật chứng thu giữ của bị cáo, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: khoảng 22 giờ 30 phút ngày 17/6/2024, tại đường dân sinh thuộc khu V, phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh, Dương Trung N có hành vi tàng trữ trái phép 0,996g (không phẩy chín chín sáu gam) ma tuý, loại MDMA và 0,274g (không phẩy hai bảy bốn gam) ma túy, loại Ketamine, nhằm mục đích sử dụng thì bị Công an phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Do bị cáo tàng trữ 02 (hai) chất ma túy, nên hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều truy tố và kết luận về hành vi phạm tội đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Bị cáo là người trưởng thành, có khả năng nhận thức được tác hại của ma túy, biết hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an xã hội.

[3] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: bị cáo không có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có ông nội là ông Dương Mạnh D được tặng thưởng nhiều huân, huy chương kháng chiến; bố bị cáo là ông Dương Quang T bị ung thư A, mẹ bị cáo là bà Phạm Thị Bích H bị u ác thanh quản từng điều trị tại bệnh viện nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của bị cáo như đã phân tích, Hội đồng xét xử xét thấy phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, buộc bị cáo phải cách ly khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm.

[5] Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Xét bị cáo không có tài sản riêng, mua ma túy về sử dụng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng: số ma túy hoàn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ cần tịch thu tiêu hủy.

[7] Về các vấn đề khác: đối với người đàn ông không quen biết bán ma túy theo lời khai của N, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ xử lý.

Lưu kèm trong hồ sơ vụ án 01 (một) phong bì của Công an thị xã Đ ghi nội dung “Đĩa DVD Dương Trung N”.

[8] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo: bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

Căn cứ: điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự

Tuyên bố bị cáo Dương Trung N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt bị cáo Dương Trung N 21 (hai mươi mốt) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt 17/6/2024.

2. Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

+ Tịch thu, tiêu huỷ 01 (một) phong bì niêm phong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định số 937/KL - KTHS ngày 24/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q;

(Số vật chứng, tài sản trên có tình trạng và đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng số 112 ngày 06 tháng 9 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Đ và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh).

3. Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Bị cáo Dương Trung N phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan;
  • - Cơ quan điều tra Công an thị xã Đông Triều;
  • - Cơ quan THAHS Công an thị xã Đông Triều;
  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Thị xã Đông Triều;
  • - Viện kiểm sát ND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Chi cục THA DS Thị xã Đông Triều;
  • - Nhà tạm giữ Công an thị xã Đông Triều;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh;
  • - Lưu hồ sơ, VP./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Trần Thị Như Quỳnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 78/2024/HS - ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH về vụ án hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 78/2024/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Dương Trung Ngh
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger