TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 78/2024/HSST Ngày: 23/5/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Danh Hùng
Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Văn Dũng và bà Hoàng Thị Thủy
- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Vân - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hân - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 35/2024/HSST ngày 14/3/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2024/QĐXXST - HS ngày 10 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hồ Công N; giới tính: Nam; tên gọi khác: không; Sinh ngày: 28/01/1996 tại xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: xóm A, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Họ và tên cha: Hồ Công Đ, sinh năm 1938 (Đã chết); Họ và tên mẹ: Phạm Thị Q, sinh năm 1953; Anh chị em ruột có 06 người, bị cáo là con thứ sáu; Vợ: Khổng Thị T, sinh năm 1995; Con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ từ ngày 10/01/2024 đến ngày 19/01/2024, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, “Tạm hoãn xuất cảnh” từ ngày 19/01/2024 đến ngày 19/3/2024. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Võ Thị Thanh H, sinh năm 1996
Trú tại: khối E, thị trấn D, huyện D, tỉnh Nghệ An. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 09 giờ 00 phút ngày 09/01/2024, Hồ Công N đi bộ từ nhà ở xóm A, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An đến cửa hàng điện thoại di động “Sơn Huyền”, địa chỉ tại khối E, thị trấn D, huyện D, tỉnh Nghệ An do Võ Thị Thanh H, sinh năm 1996, trú tại khối A, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An làm chủ, mục đích mua điện thoại. Khi đi đến quán điện thoại, thấy không có người trông coi, N nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Lúc này N phát hiện tủ trưng bày điện thoại sát tường phía Nam không khóa cửa nên kéo cửa tủ lấy trộm 02 (Hai) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 12 PROMAX bỏ vào túi áo khoác bên trái rồi đi về nhà cất giấu.
Ngày 09/01/2024, Võ Thị Thanh H làm đơn trình báo Công an thị trấn D, huyện D, tỉnh Nghệ An.
Ngày 10/01/2024, nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, Hồ Công N đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại Bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự ngày 11/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân huyện D, tỉnh Nghệ An kết luận:
- + 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xám, số máy MGDC3RU/A, số seri F2LFK8E10D53, dung lượng bộ nhớ 256GB, chất lượng còn 99%, đã qua sử dụng, có giá trị hiện tại là 13.500.000 đồng (Mười ba triệu năm trăm nghìn đồng).
- + 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh, số máy MG913LL/A, số seri F2LF4Q9R0D42, dung lượng bộ nhớ 128GB, chất lượng còn 97%, đã qua sử dụng, có giá trị hiện tại là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).
Tổng giá trị tài sản Hồ Công N trộm cắp ngày 09/01/2024 là 23.500.000 đồng (Hai mươi ba triệu năm trăm nghìn đồng).
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:
+01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xám, số máy MGDC3RU/A, số seri F2LFK8E10D53, dung lượng bộ nhớ 256GB, chất lượng còn 99%, đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh, số máy MG913LL/A, số seri F2LF4Q9R0D42, dung lượng bộ nhớ 128GB, chất lượng còn 97%, đã qua sử dụng. Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D đã trả lại cho Võ Thị Thanh H theo quy định.
Bản cáo trạng số 54/CT - VKS - DC ngày 12/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu truy tố bị cáo Hồ Công N về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 điều 173; điểm b, i, s khoản 1, 2 điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Chị Võ Thị Thanh H đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Về vật chứng: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xám, số máy MGDC3RU/A, số seri F2LFK8E10D53, dung lượng bộ nhớ 256GB, chất lượng còn 99%, đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh, số máy MG913LL/A, số seri F2LF4Q9R0D42, dung lượng bộ nhớ 128GB, chất lượng còn 97%, đã qua sử dụng. Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D đã trả lại cho Võ Thị Thanh H theo quy định nên miễn xét.
Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận gì về tội danh, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng truy tố.
Xét lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án thì đã có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 09 giờ 00 phút ngày 09/01/2024, tại cửa hàng điện thoại di động “Sơn Huyền” thuộc khối E, thị trấn D, huyện D, tỉnh Nghệ An, lợi dụng sơ hở của chủ tài sản, Hồ Công N đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của chị Võ Thị Thanh H, sinh năm 1996, trú tại khối A, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An (chủ cửa hàng S) 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 12 PROMAX, màu xám và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 12 PROMAX, màu xanh, đã qua sử dụng, tổng trị giá 23.500.000 đồng (Hai mươi ba triệu năm trăm nghìn đồng).
Bị cáo thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp, động cơ, mục đích phạm tội nhằm chiếm đoạt bất hợp pháp tài sản của người khác. Bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực trách nhiệm hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội.
Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp các chứng cứ, tài liệu thu thập có tại hồ sơ vụ án thì đã có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Hồ Công N phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 điều 173 của Bộ luật hình sự.
[3] Xét tính chất vụ án: Tính chất vụ án ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, xâm phạm đến trật tự trị an nơi thôn xóm, hành vi của bị cáo là táo bạo, liều lĩnh, bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, phạm tội đều với lỗi cố ý; lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của người bị hại đã có hành vi lén lút, bí mật trộm cắp tài sản là hai chiếc điện thoại tại cửa hàng điện thoại di động Sơn H1 đến bán lấy tiền tiêu xài cá nhân, hành vi phạm tội của bị cáo gây mất trật tự trị an trên địa bàn, gây tâm lý hoang mang bất an đối với người dân nên cần thiết phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi của bị cáo và phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội nhằm mục đích răn đe và phòng ngừa chung.
[4] Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đầu thú; quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tự nguyện trả lại tài sản cho bị hại, bố mẹ là người có công với cách mạng. Do đó cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1, 2 điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tình tiết tăng nặng: không
Hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 điều 173 BLHS quy định: “Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng”, do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có thu nhập, điều kiện kinh tế khó khăn. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Chị Võ Thị Thanh H đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên miễn xét.
[6] Về vật chứng: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xám, số máy MGDC3RU/A, số seri F2LFK8E10D53, dung lượng bộ nhớ 256GB, chất lượng còn 99%, đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh, số máy MG913LL/A, số seri F2LF4Q9R0D42, dung lượng bộ nhớ 128GB, chất lượng còn 97%, đã qua sử dụng. Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D đã trả lại cho Võ Thị Thanh H theo quy định nên miễn xét.
[7] Về án phí hình sự: Căn cứ vào điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14. Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điều 38 của Bộ luật hình sự
- - Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Về tội danh và hình phạt:
Tuyên bố bị cáo Hồ Công N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Hồ Công N 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 10/01/2024 đến ngày 19/01/2024.
2. Về án phí:
Buộc bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo:
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Danh Hùng |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
HỘI THẨM NHÂN DÂN Nguyễn Văn Dũng | HỘI THẨM NHÂN DÂN Hoàng Thị Thủy | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Danh Hùng |
Bản án số 78/2024/HSST ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 78/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xp tù
