Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 78/2024/HS-ST

Ngày: 23-4-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Thanh Quyên
  • - Các Hội thẩm nhân dân.
  • 1. Ông Nguyễn Văn Bảng
  • 2. Bà Nguyễn Thị Vượng
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hà Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Đặng Minh Hà – Kiểm sát viên.

Trong ngày 23/4/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 68/2024/HSST ngày 29/03/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2024/QĐXXST – HS ngày 03/4/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Văn K, sinh năm 1989; Nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố C, thị trấn T, huyện P, tỉnh Hưng Yên; Chỗ ở: Thôn N, xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo:Không; Nghề nghiệp:Công nhân; Trình độ học vấn: 12/12; Bố: Trần Văn K1, sinh năm 1965; Mẹ: Hoàng Thị S, sinh năm 1968; Gia đình có 2 anh em, bị cáo là thứ nhất; Vợ: Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 1987; Có 02 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2019.

Nhân thân: Năm 2010, bị Công an huyện P, tỉnh Hưng Yên xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ ngày 12/01/2024 đến ngày 21/01/2024, được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại và có mặt tại phiên toà.

* Bị hại: Công ty TNHH M

Đại diện theo pháp luật: Ông Cheon Jong K2 – Chức vụ: Giám đốc

Địa chỉ: Lô B, Khu công nghiệp S, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

1

Đại diện theo uỷ quyền: Chị Trần Thị H1 - Sinh năm 1984 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Số A, đường L, tổ dân phố G, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Hoàng Xuân H2, sinh năm 1995 (Vắng mặt)
  2. HKTT: Thôn Yên Phú, xã Xuân Thu, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội

    Nơi ở: Thôn Tiên Phong, xã Nội Hoàng, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang

  3. Chị Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 1987 (Có mặt)
  4. Địa chỉ: Thôn N, xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Văn K, sinh năm 1989, trú tại thị trấn T, huyện P, tỉnh Hưng Yên là công nhân tại xưởng 1-2, C, Công ty TNHH M thuộc KCN S - N, xã S, thành phố B.

Khoảng 11 giờ 30 ngày 09/01/2024, sau khi đi ăn cơm tại bếp của công ty xong K đi đến xưởng số 3, C của công ty X có tài sản gì sơ hở để trộm cắp. Khi đi đến gần khu vực máy nung thiếc, xưởng số C1, K thấy có 01 thỏi thiếc đang để ở đó nên nảy sinh ý định trộm cắp thỏi thiếc đem bán. K cầm thỏi thiếc cho vào bao đựng rác ở gần đó rồi cho khoảng 10 trục bobin bằng nhựa vào bao này để che giấu thỏi thiếc tránh để người khác phát hiện. Sau khi cất giấu tài sản trộm cắp trong bao đựng rác thì K để nguyên bao tại vị trí cũ rồi đi ra khỏi xưởng. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, lợi dụng lúc công nhân trong xưởng 3 đi ăn cơm tối ở nhà bếp công ty, K lấy xe kéo hàng của công ty sang xưởng 3 rồi lấy bao đựng thỏi thiếc mà K đã cất giấu trước đó đặt lên xe kéo để kéo về phòng họp bộ phận sản xuất. Tiếp đó, K dùng dây vải buộc thỏi thiếc vào người mình để che giấu thỏi thiếc bên trong áo khoác. K đi ra rồi trèo qua hàng rào công ty và đi bộ về phòng trọ ở thôn N, xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang để cất giấu thỏi thiếc. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, K một mình điều khiển xe mô tô Honda Airblade, màu sơn đỏ-đen, BKS: 89G1-080.46 đi từ phòng trọ đến cửa hàng thu mua phế liệu trên đường Q, thôn T, xã N, huyện Y. Tại đây, K bán thỏi thiếc đã trộm cắp được cho anh Hoàng Xuân H2, sinh năm 1995 trú tại thôn Y, xã X, huyện S, thành phố Hà Nội, là chủ cửa hàng thu mua phế liệu với giá 440.000 đồng/1kg x 15,1kg = 6.644.000 đồng, anh H2 đã sử dụng tài khoản 0978148972 mở tại Ngân hàng TMCP Q1, chủ tài khoản là ĐỊNH THỊ SINH, chuyển khoản vào số tài khoản 108880006136 mở tại ngân hàng V, chủ tài khoản TRAN VAN KHUONG số tiền 6.650.000 đồng. Số tiền này, K đã sử dụng tiêu sài cá nhân hết.

2

Ngày 12/01/2024, chị Trần Thị H1, sinh năm 1984, trú tại tổ dân phố G, phường D, thành phố B là đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH M có đơn trình báo cơ quan công an và cung cấp 08 file video trích xuất từ camera an ninh tại xưởng ghi lại hành vi trộm cắp của K vào ngày 09/01/2024. Cùng ngày, K đến công an xin đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội và giao nộp 01 điện thoại Oppo A53.

Kết luận định giá tài sản số 20/KL-HĐ ngày 18/01/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: 01 thỏi kim loại bằng thiếc nguyên khối có khối lượng 15,1kg trị giá 9.489.368 đồng.

Tại bản cáo trạng số 74/CT - VKS ngày 27/3/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang đã truy tố bị cáo Trần Văn K ra trước Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang để xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà: Bị cáo Trần Văn K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố. Viện kiểm sát truy tố bị cáo là không oan, bị cáo nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình là sai, bị cáo rất hối hận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt. Về trách nhiệm dân sự bị cáo đã bồi thường cho Công ty số tiền 9.500.000 đồng. Đối với chiếc điện thoại di động Oppo A53 bị cáo đề nghị được xin lại.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị Ngọc H xác nhận số tiền 9.500.000 đồng bị cáo K bồi thường cho Công ty là tiền chung của vợ chồng chị. Đến nay chị không yêu cầu bị cáo K phải trả lại cho chị.

Đại diện theo uỷ quyền của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh H2 vắng mặt được Hội đồng xét xử công bố lời khai. Bị cáo không có ý kiến gì về những lời khai đó.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
  • Xử phạt bị cáo Trần Văn K từ 8 đến 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 16 đến 24 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • Giao bị cáo cho UBND xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
  • Do bị cáo không có tài sản riêng, hiện đang làm lao động tự do và là lao động chính trong gia đình nên không cần áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
  • - Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho Công ty TNHH M 9.500.000 đồng. Đến nay đại diện Công ty không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét.

3

  • - Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
  • +Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO A53 màu đen, số Imei 864326055373413, gắn số sim 0978042006 nhưng được giữ lại để đảm bảo công tác thi hành án.
  • Ngoài ra, cần áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc bị cáo K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh luận, trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, bị hại, người liên quan.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình Điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát và Kiểm sát viên đều hợp pháp.

[2] Về việc vắng mặt đại diện theo uỷ quyền của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Tại phiên tòa đại diện theo uỷ quyền của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Tuy nhiên, họ đã có lời khai trong hồ sơ và xét thấy việc vắng mặt họ không ảnh hưởng tới kết quả xét xử, do vậy Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự để xét xử vắng mặt đại diện theo uỷ quyền của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là có căn cứ.

[3] Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Trần Văn K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình gây ra. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận:

Ngày 09/01/2024, tại Công ty TNHH M thuộc KCN S - N, xã S, thành phố B, Trần Văn K là công nhân công ty đã có hành vi trộm cắp 01 thỏi kim loại bằng thiếc nguyên khối có khối lượng 15,1kg trị giá 9.489.368 đồng.

4

[4] Như vậy, hành vi của bị cáo Trần Văn K đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo 01 lần thực hiện hành vi phạm tội với tổng giá trị tài sản trộm cắp là 9.489.368 đồng. Do vậy, cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ.

[5] Hành vi phạm tội của bị cáo mặc dù ít nghiêm trọng xong đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương nơi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định mức án phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.

[6] Về nhân thân: Năm 2010, bị công an huyện P, tỉnh Hưng Yên xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc”.

[7] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[8] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Sau khi phạm tội bị cáo đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả. Ngoài ra, bị cáo còn tự nguyện ra đầu thú và được đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng cho bị cáo.

[9] Xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, điều luật đã viện dẫn. Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo phạm tội lần đầu và có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1,2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; có nơi cư trú ổn định, rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú cũng đủ để cải tạo bị cáo trở thành người tốt cho xã hội.

Do bị cáo không có tài sản riêng, hiện đang là lao động tự do và lao động chính trong gia đình nên không cần áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung và cần áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

[10] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho Công ty TNHH M số tiền 9.500.000 đồng. Đến nay đại diện Công ty TNHH M không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên về trách nhiệm dân sự Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này.

[11] Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;

5

  • +Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO A53 màu đen, số Imei 864326055373413, gắn số sim 0978042006 là tài sản cá nhân bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng được giữ lại để đảm bảo công tác thi hành án.
  • [12] Đối với thỏi thiếc anh H2 mua của K đã bán cho người không quen biết thu mua phế liệu nên cơ quan điều tra không có căn cứ thu hồi. Anh H2 không biết là tài sản trộm cắp nên cơ quan điều tra không xem xét xử lý là có căn cứ.
  • [13] Ngoài ra cần áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; khoản 2 Điều 136; các Điều 331, Điều 332, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự để buộc bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
  • 1. Xử phạt bị cáo Trần Văn K 9 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (23/4/2024).
  • Giao bị cáo K cho UBND xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
  • Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
  • Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
  • 2. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
  • Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO A53 màu đen, số Imei 864326055373413, gắn số sim 0978042006 nhưng được giữ lại để đảm bảo công tác thi hành án.
  • 3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc bị cáo K phải chịu 200.000 đồng tiền án phí Hình sự sơ thẩm.
  • Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

6

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Báo cho bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt biết quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt biết quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang(1b);
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang.
  • - VKSND thành phố Bắc Giang (2b);
  • - THADS thành phố Bắc Giang (4 b);
  • - Lưu HS.VP (1b);
  • - Công an thành phố Bắc Giang;
  • - UBND xã Nội Hoàng, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang
  • - Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Lương Thị Thanh Quyên

7

CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lương Thị Thanh Quyên

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang(1b);
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang.
  • - VKSND thành phố Bắc Giang (2b);
  • - THADS thành phố Bắc Giang (4 b);
  • - Lưu HS.VP (1b);
  • - Công an thành phố Bắc Giang;
  • - UBND thị trấn Mậu A, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái
  • - Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Lương Thị Thanh Quyên

8

CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lương Thị Thanh Q

9

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 78/2024/HS-ST ngày 23/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 78/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn K phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger