Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHÓ HOÀ BÌNH

TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 78/2024/HSST

Ngày: 21-6 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đinh Thị Ngọc Hà

  • - Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Lan và Bà Ngô Thị Như Hoa

  • - Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Quỳnh Nga - Thư ký Toà án.

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình tham gia phiên tòa: Ông Đinh Việt Thái - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 64/2024/HSST ngày 10 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị H, sinh ngày 06/5/1990 tại M, Hà Nội.

Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Tổ A, phường P, TP H, tỉnh Hòa Bình.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Số CCCD: [...], nơi cấp: Cục C1 - Bộ C2; Con ông Nguyễn Văn Q và bà Dương Thị H1; Có chồng là Đinh Quốc T (Đã ly hôn năm 2016) và 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2019.

Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân:

  • - Ngày 12/5/2006 bị Công an quận L, Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 441653 ngày 08/8/2006.

  • - Ngày 25/8/2010 bị Công an phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Đánh nhau.

Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/12/2023 đến ngày 19/01/2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn sang Bảo lĩnh. Có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Nguyễn Thị Minh B, sinh năm 1990; Trú tại tổ D, phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

  2. Chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1991, trú tại xóm B, xã B, huyện C, tỉnh Hòa Bình. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

  3. Anh Nguyễn Danh K, sinh năm 1981, trú tại xóm T, xã T, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

  4. Anh Nguyễn Văn P1, sinh năm 1978, trú tại tiểu khu K, thị trấn Đ, tỉnh Hòa Bình. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thị H làm nghề lao động tự do, không có công ăn việc làm ổn định. Do cần có tiền để chi tiêu sử dụng cá nhân, Nguyễn Thị H đã nảy sinh ý định thông qua các mối quan hệ xã hội của mình để thực hiện hành vi cho người khác có nhu cầu vay tiền với lãi suất cao.

Từ tháng 02/2023 đến ngày 15/12/2023, Nguyễn Thị H đã cho nhiều người vay tiền có tính lãi suất, khi có khách đến vay tiền Nguyễn Thị H trực tiếp thỏa thuận lãi suất, thời hạn trả lãi, số tiền vay với người vay và dùng số tài khoản ngân hàng Q1 số 8500155656666 của mình chuyển tiền vào tài khoản cho người vay hoặc đưa tiền trực tiếp. Sau đó, H hướng dẫn người vay viết giấy vay tiền và yêu cầu khách vay trả tiền lãi khi đến thời hạn (thường là 10 ngày trả lãi một lần). Khi đến thời hạn trả lãi H sẽ gọi điện thoại cho người vay và yêu cầu trả tiền vào tài khoản ngân hàng Q1 số 8500155656666 hoặc trực tiếp đến nhà riêng của H để trả tiền. Trong số những người vay, có 04 người H cho vay với tổng số tiền 432.000.000 đồng, mức lãi suất 5.000 đồng đến 7.000 đồng/1triệu/1ngày, 10 ngày trả lãi một lần tương đương là 182,5% - 258,9%/1năm. Mức lãi suất cho vay nêu trên vượt quá từ 9,1 đến 12,9 lần mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật dân sự và Nguyễn Thị H đã thu lời bất chính số tiền 153.138.493 đồng. Cụ thể như sau:

  1. Cho chị Nguyễn Thị Minh B, sinh năm 1990, trú tại tổ D, phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình vay 02 lần, gồm:

    • - Khoản vay thứ Nhất: ngày 25/02/2023, chị B có vay của Nguyễn Thị H số tiền là 20.000.000 đồng, thoả thuận lãi suất 5.000 đồng/ 1triệu/ 1ngày, 10 ngày trả lãi một lần tương đương là 182,5%/ 1 năm, vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật dân sự là 9,125 lần. Thực tế, từ khi vay tiền đến ngày 05/7/2023 (130 ngày), chị B đã trả lãi cho Nguyễn Thị H bằng cách chuyển tiền vào tài khoản của H số tiền 13.000.000 đồng, tương đương với mức lãi suất là 182,5%/1 năm, vượt quá 9,1 lần lãi suất quy định của Bộ luật dân sự), trong đó:

      • + Số tiền lãi hợp pháp mà Nguyễn Thị H được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 1.424.658 đồng.

      • + Số tiền mà Nguyễn Thị H thu lợi bất chính từ khoản vay thứ Nhất của chị B là 11.575.342 đồng.

    • - Khoản vay thứ Hai: ngày 17/7/2023, chị B có vay thêm của Nguyễn Thị H số tiền là 12.000.000 đồng (cộng với khoản vay lần thứ Nhất thì chị B vay H số tiền 32.000.000 đồng), thoả thuận lãi suất 5.000 đồng/ 1triệu/ 1ngày, 10 ngày trả lãi một lần tương đương là 182,5%/ 1 năm, vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật dân sự là 9,125 lần. Thực tế, từ khi vay tiền đến ngày 28/10/2023 (103 ngày), chị B đã trả lãi cho Nguyễn Thị H bằng cách chuyển tiền vào tài khoản của H số tiền 16.500.000 đồng, tương đương với mức lãi suất là 182,7%/1 năm, vượt quá 9,1 lần lãi suất quy định của Bộ luật dân sự), trong đó:

      • + Số tiền lãi hợp pháp mà Nguyễn Thị H được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 1.806.027 đồng.

      • + Số tiền mà Nguyễn Thị H thu lợi bất chính từ khoản vay thứ Hai của chị B là 14.693.973 đồng.

    Quá trình điều tra xác định tổng số tiền Nguyễn Thị H thu lợi bất chính đối với 02 (hai) lần từ chị Nguyễn Thị Minh B là: 11.575.342 đồng + 14.693.973 đồng = 26.269.315 đồng. Tổng số tiền gốc Nguyễn Thị H đã cho chị B vay 02 lần là 32.000.000 đồng. Hiện chị B vẫn nợ Nguyễn Thị H số tiền gốc là 32.000.000 đồng.

  2. Cho chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1991, trú tại xóm B, xã B, huyện C, tỉnh Hòa Bình vay 02 lần, gồm:

    • - Khoản vay thứ Nhất: ngày 23/6/2023, chị P có vay của Nguyễn Thị H số tiền là 35.000.000 đồng, thoả thuận lãi suất 7.000 đồng/ 1triệu/ 1ngày, 10 ngày trả lãi một lần tương đương là 255,6%/ 1 năm, vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật dân sự là 12,7 lần. Thực tế, từ khi vay tiền đến ngày 03/9/2023 (73 ngày), chị P đã trả lãi cho Nguyễn Thị H bằng cách chuyển tiền vào tài khoản của H số tiền 17.650.000 đồng, tương đương với mức lãi suất là 255,6%/1 năm, vượt quá 12,8 lần lãi suất quy định của Bộ luật dân sự), trong đó:

      • + Số tiền lãi hợp pháp mà Nguyễn Thị H được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 1.380.822 đồng.

      • + Số tiền mà Nguyễn Thị H thu lợi bất chính từ khoản vay thứ Nhất của chị P là 16.269.178 đồng.

    • - Khoản vay thứ Hai: ngày 15/7/2023, chị P có vay của Nguyễn Thị H số tiền là 15.000.000 đồng, thoả thuận lãi suất 7.000 đồng/ 1triệu/ 1ngày, 10 ngày trả lãi một lần tương đương là 255,6%/ 1 năm, vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật dân sự là 12,7 lần. Thực tế, từ khi vay tiền đến ngày 31.8.2023 (47 ngày), chị P đã trả lãi cho Nguyễn Thị H bằng cách chuyển tiền vào tài khoản của H số tiền 5.000.000 đồng, tương đương với mức lãi suất là 258,9%/1 năm, vượt quá 12,9 lần lãi suất quy định của Bộ luật dân sự), trong đó:

      • + Số tiền lãi hợp pháp mà Nguyễn Thị H được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 386.301 đồng.

      • + Số tiền mà Nguyễn Thị H thu lợi bất chính từ khoản vay thứ Hai của chị P là 4.613.699 đồng.

    Quá trình điều tra xác định tổng số tiền Nguyễn Thị H thu lợi bất chính đối với 02 (hai) lần từ chị Nguyễn Thị P là: 16.269.178 đồng + 4.613.699 đồng = 20.882.877 đồng. Tổng số tiền gốc Nguyễn Thị H đã cho chị P vay 02 lần là 50.000.000 đồng. Chị P2 đã trả cho H tổng số tiền gốc là 35.000.000 đồng. Hiện chị P vẫn nợ Nguyễn Thị H số tiền gốc là 15.000.000 đồng.

  3. Cho anh Nguyễn Danh K, sinh năm 1981, trú tại xóm T, xã T, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình vay 01 lần, cụ thể:

    Ngày 16/7/2023, anh K có vay của Nguyễn Thị H số tiền là 200.000.000 đồng, thoả thuận lãi suất 5.000 đồng/ 1triệu/ 1ngày, 10 ngày trả lãi một lần tương đương là 182,5%/ 1 năm, vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật dân sự là 9,125 lần. Thực tế, từ khi vay tiền đến ngày 18/9/2023 (64 ngày), anh K đã trả lãi cho Nguyễn Thị H số tiền 64.000.000 đồng, tương đương với mức lãi suất là 182,5%/1 năm, vượt quá 9,1 lần lãi suất quy định của Bộ luật dân sự), trong đó:

    • + Số tiền lãi hợp pháp mà Nguyễn Thị H được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 7.013.699 đồng.

    • + Số tiền mà Nguyễn Thị H thu lợi bất chính từ khoản vay của anh K là 56.986.301 đồng.

    Hiện anh K đã trả cho Nguyễn Thị H số tiền gốc là 60.000.000 đồng, anh K còn nợ H số tiền 140.000.000 đồng.

  4. Cho anh Nguyễn Văn P1, sinh năm 1978, trú tại tiểu khu K, thị trấn Đ, tỉnh Hòa Bình vay 01 lần, cụ thể:

    Ngày 20/6/2023, anh P1 có vay của Nguyễn Thị H số tiền là 150.000.000 đồng, thoả thuận lãi suất 5.000 đồng/ 1triệu/ 1ngày, 10 ngày trả lãi một lần tương đương là 182,5%/ 1 năm, vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật dân sự là 9,125 lần. Thực tế, từ khi vay tiền đến ngày 01/9/2023 (73 ngày), anh P1 đã trả lãi cho Nguyễn Thị H số tiền 55.000.000 đồng, tương đương với mức lãi suất là 183,3%/1 năm, vượt quá 9,2 lần lãi suất quy định của Bộ luật dân sự), trong đó:

    • + Số tiền lãi hợp pháp mà Nguyễn Thị H được hưởng tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 6.000.000đồng.

    • + Số tiền mà Nguyễn Thị H thu lợi bất chính từ khoản vay của anh P1 là 49.000.000 đồng.

    Hiện anh Nguyễn Văn P1 còn nợ Nguyễn Thị H số tiền gốc là 150.000.000 đồng.

Các ngày 13, 16/12/2023, chị P, chị B, anh D và anh K đã đến cơ quan Công an tố cáo hành vi phạm tội của Nguyễn Thị H.

Ngày 15/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh H đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Thị H thu giữ nhiều tài liệu liên quan đến hoạt động cho vay nặng lãi. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh H ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Thị H.

Ngày 21/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh H có Công văn số 1565/CSHS(Đ2) gửi Ngân hàng N Chi nhánh tỉnh H về việc phối hợp xác định tiền lãi và số tiền thu lợi bất chính của đối tượng Nguyễn Thị H đối với các giao dịch trên.

Ngày 22/12/2023, Ngân hàng N - Chi nhánh tỉnh H có Công văn số 78/TTGSNH về việc xác nhận kết quả tính lãi và số tiền thu lợi bất chính của Nguyễn Thị H đối với các giao dịch liên quan đến các chị Nguyễn Thị Minh B, Nguyễn Thị P và các anh Nguyễn Danh K, Nguyễn Văn P1 xác định: số tiền lãi Nguyễn Thị H đã thu là 171.150.000 đồng (trong đó, số tiền lãi tối đa theo Bộ luật Dân sự mà Nguyễn Thị H được hưởng là 18.011.507 đồng; số tiền vượt so với mức tối đa theo Bộ luật Dân sự mà Nguyễn Thị H đã thu là: 153.138.493 đồng) với lãi suất thấp nhất là 182,5%/1 năm, lãi suất cao nhất là 258,9%/1 năm; vượt quá từ 9,1 đến 12,9 lần lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự .

Về vật chứng trong vụ án: quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành thu giữ 01 (một) quyển vở ô ly, kích thích 170x240cm, nhãn hiệu HONG HA, bên trong ghi chép nội dung liên quan đến việc cho vay lãi của Nguyễn Thị H đối với các chị Nguyễn Thị Minh B, Nguyễn Thị P và các anh Nguyễn Danh K, Nguyễn Văn P1. Vật chứng trên được lưu theo hồ sơ vụ án.

Cáo trạng số 28/CT-VKS-P2 ngày 10/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hoà Bình đã truy tố Nguyễn Thị H về tội “ Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 2 Điều 201 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình giữ nguyên quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hoà Bình và đề nghị Hội đồng xét xử Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo H về tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự, đề nghị HĐXX áp dụng khoản 2, khoản 3 Điều 201; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 35; Điều 65; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H từ 09 năm đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung từ 35.000.000 – 40.000.000 đồng.

Về biện pháp tư pháp:

  • - Truy thu từ bị cáo số tiền lãi bị cáo đã hưởng theo mức lãi suất 20%/năm của Bộ luật Dân sự là 18.011.507 đồng và số tiền gốc mà người vay đã trả là 95 triệu đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.

  • - Truy thu từ những người vay số tiền gốc chưa trả là 327 triệu đồng để sung vào ngân sách nhà nước.

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử lý vật chứng, tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến bào chữa hay tranh luận gì.

Trình bày lời nói sau cùng, bị cáo đã nhận thức được hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật và xin được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội:

Tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng thu được cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở xác định bị cáo Nguyễn Thị H đã thực hiện hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự để kiếm lời bất hợp pháp. Cụ thể:

Trong khoảng thời gian từ tháng 02/2023 đến ngày 15/12/2023 Nguyễn Thị H đã nhiều lần cho 04 người vay và thu tiền lãi với mức lãi suất thực tế từ 182,5% - 258,9%/1năm (vượt quá từ 9,1 đến 12,9 lần lãi suất cao nhất quy định của Bộ luật Dân sự). Tổng số tiền mà bị cáo đã thu lời bất chính là 153.138.493 đồng, trong đó có hai lần bị cáo thực hiện hành vi cho vay lãi nặng và thu lời bất chính trên 30 triệu đồng.

Hành vi mà bị cáo đã thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành của tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự là hành vi bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng vì hám lợi mà bị cáo vẫn cố tình nhiều lần thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật sự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, đồng thời xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ. Do đó cần có hình phạt tương ứng với mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội để giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:

Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Thị H không có tiền án, tiền sự; Nhân thân bị cáo từng hai lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy và hành vi Đánh nhau, đều đã được xóa án tích.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, có thái độ ăn năn hối cải; Bị cáo đã tự nguyện trả toàn bộ số tiền 153.138.493 đồng thu lời bất chính cho những người vay, đồng thời những người vay tiền đã có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; Bị cáo có ông ngoại là Dương Văn C đã tham gia kháng chiến chống Pháp cứu nước; ngoài ra bị cáo đã ly hôn chồng, chồng bị cáo đang phải chấp hành án không thể cấp dưỡng nuôi con chung, bị cáo phải một mình nuôi 02 con còn nhỏ, bản thân bị cáo là lao động chính trong gia đình. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng cho bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng: Trong các lần thực hiện hành vi cho vay lãi nặng, Nguyễn Thị H đã hai lần thu lời bất chính trên 30 triệu đồng. Cụ thể, lần thứ nhất bị cáo cho anh Nguyễn Danh K vay 200.000.000 đồng và thu lời bất chính từ khoản vay này là 56.986.301 đồng; Lần thứ 2, bị cáo cho anh Nguyễn Văn P1 vay số tiền 150.000.000 đồng và thu lời bất chính từ khoản vay này là 49.000.000 đồng. Do đó bị cáo Nguyễn Thị H phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Xét thấy, bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, có nơi cư trú địa chỉ rõ ràng, có hai con nhỏ không ai chăm sóc, bị cáo có khả năng tự cải tạo mà không cần phải cách ly khỏi đời sống xã hội nên việc áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với bị cáo không làm ảnh hưởng đến công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm chung.

[4] Hình phạt bổ sung: Xét bị cáo Nguyễn Thị H đã xâm phạm đến hoạt động quản lý kinh tế của Nhà nước để thu lời bất chính nên cần áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về biện pháp tư pháp:

Đối với số tiền gốc bị cáo dùng để cho vay lãi nặng xác định là phương tiện phạm tội, cần truy thu sung ngân sách Nhà nước; Số tiền gốc những người vay chưa trả được cho bị cáo cần truy thu sung vào ngân sách Nhà nước.

Đối với số tiền lãi bị cáo đã hưởng theo mức 20%/năm của Bộ luật Dân sự là 18.011.507 đồng, xác định là tiền do phạm tội mà có, cần truy thu sung vào ngân sách Nhà nước.

Đối với khoản tiền lãi bị cáo đã thu của những người vay vượt mức 20%/năm theo quy định của Bộ luật Dân sự, xác định là tiền thu lời bất chính, tại giai đoạn điều tra truy tố bị cáo đã hoàn trả toàn bộ cho những người vay nên không đề cập giải quyết.

Cụ thể như sau:

STT Họ và tên Tiền gốc thu từ bị cáo Tiền gốc thu từ người vay Tiền lãi hợp pháp thu của bị cáo nộp ngân sách Tiền lãi thu lời bất chính trả cho người vay
1 Chị Nguyễn Thị Minh Bích 0 32.000.000 3.230.685 0
2 Chị Nguyễn Thị Phượng 35.000.000 15.000.000 1.767.123 0
3 Anh Nguyễn Danh Kiên 60.000.000 140.000.000 7.013.699 0
4 Anh Nguyễn Văn Phong 0 150.000.000 6.000.000 0
Tổng 95.000.000 337.000.000 18.011.507 0

[6] Về vật chứng:

Đối với 01 (một) quyển vở ô ly, kích thích 170x240cm, nhãn hiệu HONG HA, bên trong ghi chép nội dung liên quan đến việc cho vay lãi của Nguyễn Thị H đối với các chị Nguyễn Thị Minh B, Nguyễn Thị P và các anh Nguyễn Danh K, Nguyễn Văn P1, xét đây là tài liệu chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, cần tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án.

[7] Về án phí: bị cáo Nguyễn Thị H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố Nguyễn Thị H phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”

2. Về hình phạt:

Căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 201; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều, Điều 35, 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 09 (Chín) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao Nguyễn Thị H cho Ủy ban nhân dân phường P, thành phố H, tỉnh Hòa Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân trong việc giám sát, giáo dục người chấp hành án. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách thì Tòa án quyết định hình phạt đối với tội phạm mới và tổng hợp hình phạt với bản án trước theo quy định tại Điều 55,56 Bộ luật hình sự

3. Hình phạt bổ sung:

Buộc bị cáo Nguyễn Thị H phải nộp 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) vào ngân sách Nhà nước.

4. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 01/2021/NQ – HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao:

  • 4.1 Truy thu của bị cáo Nguyễn Thị H số tiền gốc dùng cho vay là 95.000.000 đồng (Chín mươi lăm triệu đồng) và số tiền 18.011.507 đồng (Mười tám triệu không trăm mười một nghìn năm trăm linh bảy đồng) do phạm tội mà có để sung vào ngân sách Nhà nước.

  • 4.2 Truy thu những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan nộp lại số tiền gốc chưa trả để sung vào ngân sách nhà nước, cụ thể:

    • - Truy thu chị Nguyễn Thị Minh B phải nộp lại số tiền 32.000.000 đồng (Ba mươi hai triệu) là số tiền gốc chưa trả để sung vào ngân sách Nhà nước.

    • - Truy thu chị Nguyễn Thị P phải nộp lại số tiền 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng) là số tiền gốc chưa trả để sung vào ngân sách Nhà nước.

    • - Truy thu anh Nguyễn Danh K phải nộp lại số tiền 140.000.000 đồng (Một trăm bốn mươi triệu đồng) là số tiền gốc chưa trả để sung vào ngân sách Nhà nước.

    • - Truy thu anh Nguyễn Văn P1 phải nộp lại số tiền 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng) là số tiền gốc chưa trả để sung vào ngân sách Nhà nước.

5. Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Thị H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hoặc được cấp, tống đạt hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh HB;
  • - VKSND tỉnh HB;
  • - VKSND thành phố HB;
  • - Công an thành phố HB;
  • - Thi hành án hình sự TPHB;
  • - Chi cục THA DS TPHB;
  • - Sở Tư pháp tỉnh HB;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - UBND P. Phương Lâm
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

(đã ký)

Đinh Thị Ngọc Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 78/2024/HSST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 78/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị H phạm tội Cho vay lãi nặng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger