Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BẾN CẦU

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc

Bản án số: 78/2024/HSST

Ngày 06-9-2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Thanh Tùng

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Bùi Quốc Hưng

2. Ông Huỳnh Thiện Khiêm

- Thư ký phiên tòa: Ông Trang Hoàng Mỹ – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Kiều Tranh - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 68/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Đức V; sinh ngày 23 tháng 9 năm 1980, tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: khu phố C, thị trấn B, huyện B, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn K (chết) và bà Hà Thị C; vợ Trần Kim Q (đã ly hôn); có 01 người con sinh năm 2004; tiền sự, tiền án: không; nhân thân: ngày 24/12/2008, bị Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh, xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 05/11/2009, bị Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh, xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, tổng hợp hình phạt bị cáo phải chấp hành hình phạt chung hai bản án là 03 năm 09 tháng tù, bị cáo chấp hành xong ngày 19/3/2012; bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 18-6-2024; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: khoảng 19 giờ ngày 17/6/2024, Nguyễn Đức V điều khiển xe mô tô đến khu vực vòng xoay G thì gặp người thanh niên tên T (không rõ lai lịch) nên dừng lại nói chuyện. Tại đây, T biết V còn sử dụng ma túy nên đưa cho V 01 bịch ma túy đá về nhà sử dụng. Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 18/6/2024, V điện thoại rủ Lâm Thị Thu H đến quán C1 thuộc ấp B, xã T, huyện B, tỉnh Tây Ninh để sử dụng ma túy, thì H đồng ý. V lấy bịch ma túy và quẹt gas cất giấu vào túi quần rồi chạy xe đạp đến quán C1 vào chòi số 02; V gọi 02 chai nước 247 và 01 chai nước suối đổ ra lấy chai làm dụng cụ sử dụng ma túy; V đổ hết ma túy vào bộ dụng cụ rồi chờ H đến, khoảng 16 giờ cùng ngày H đến chòi số 02 gặp V, lúc này V lấy bật lửa đun chất ma túy sử dụng rồi đưa cho H sử dụng thì Công an đến bắt quả tang. Trong ngày 18/6/2024, kiểm tra nhanh ma túy trong cơ thể đối với Nguyễn Đức V và Lâm Thị Thu H, cho kết quả dương tính với chất ma túy, loại Methamphetamine.

Tại Kết luận giám định số 1235/KL-KTHS ngày 26/6/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: mẫu tinh thể màu trắng (kí hiệu M) bên trong 01 (một) đoạn ống thủy tinh trong suốt có một đầu là ụ tròn gửi đến giám định là chất ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng 0,0875 gam.

Tại Bản cáo trạng số: 71/CT-VKSBC ngày 12 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu truy tố bị cáo Nguyễn Đức V về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: giữ nguyên bản Cáo trạng truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức V phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức V từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Biện pháp tư pháp: căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ Luật tống tụng hình sự: xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không tranh luận và nói lời sau cùng: xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, kết luận giám định, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án có căn cứ xác định. Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 18/6/2024, V điện thoại rủ Lâm Thị Thu H đến quán C1 thuộc ấp B, xã T, huyện B, tỉnh Tây Ninh sử dụng ma túy, thì H đồng ý. V lấy bịch ma túy và quẹt gas cất giấu vào túi quần rồi chạy xe đạp đến quán C1 vào chòi số 02; V gọi 02 chai nước 247 và 01 chai nước suối đổ ra lấy chai làm dụng cụ sử dụng ma túy; V đổ hết ma túy vào dụng cụ rồi chờ H đến, khoảng 16 giờ cùng ngày H đến chòi số 02 gặp V; lúc này V lấy bật lửa đun nóng chất ma túy sử dụng rồi đưa cho H sử dụng thì Công an đến bắt quả tang.

Như vậy, bị cáo là người rủ H đến sử dụng ma túy; hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Vụ án mang tính chất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; bị cáo biết việc tổ chức, sử dụng ma túy nhà nước cấm, nhưng bị cáo rủ người khác tham gia sử dụng, thể hiện tính xem thường pháp luật; gây mất trật tự trị an tại địa phương; cần xử lý nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa.

[4] Khi quyết định hình phạt có xem xét:

[4.1] Tình tiết tăng nặng: bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

[4.2] Tình tiết giảm nhẹ: bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Vật chứng: 01 gói niêm phong vụ số: 1235/KL-KTHS bên trong chứa 01 đoạn ống thủy tinh trong suốt, 01 đầu là ụ tròn, 01 vỏ chai nước bằng nhựa có chữ Wake up 247; 01 ống hút bằng nhựa màu trắng; 01 quẹt gas. Đây là vật cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 xe đạp màu xanh trắng, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động màu vàng hiệu Iphone XS Max, số sêri: C39XGNY3KPH6, số iemi: 357292091832529 đã qua sử dụng, mặt sau bị rạng nứt, màn hình bị hư hỏng. Đây là phương tiện dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

[6] Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức V phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  2. Căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
  3. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức V 02 (hai) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18-6-2024.
  4. Các biện pháp tư pháp: căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
    1. Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong vụ số: 1235/KL-KTHS bên trong chứa 01 đoạn ống thủy tinh trong suốt, 01 đầu là ụ tròn, 01 vỏ chai nước bằng nhựa có chữ Wake up 247; 01 ống hút bằng nhựa màu trắng; 01 quẹt gas.
    2. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 xe đạp màu xanh trắng, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động màu vàng hiệu Iphone XS Max, số sêri: C39XGNY3KPH6, số iemi: 357292091832529 đã qua sử dụng, mặt sau bị rạng nứt, màn hình bị hư hỏng.
  5. Về án phí: bị cáo Nguyễn Đức V phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
  7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - CQĐT Công an huyện Bến Cầu;
  • - VKSND huyện Bến Cầu;
  • - Nhà tạm giữ Công an huyện Bến Cầu;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh;
  • - THADS tỉnh Tây Ninh;
  • - Công an cấp xã, phường, thị trấn nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu tập án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thanh Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 78/2024/HSST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH về hình sự (tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 78/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NG DUC VINH - TO CHUC SD MA TUY
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger