Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 78/2025/HS-ST

Ngày: 05 - 3 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thương.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Bửu Huệ.
  2. Bà Bùi Thị Thúy Lan.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Ngọc Linh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Phùng Thị Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 3 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An và điểm cầu thành phần tại Công an thành phố D, tỉnh Bình Dương xét xử trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 67/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2025/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Trần Phi L, sinh năm 2004 tại tỉnh Đắk Lắk; thường trú: Khu phố T, phường H, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Trần Thanh L1, không rõ năm sinh và bà Phạm Thị T, sinh năm 1984; bị cáo có 02 em ruột (lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2019); bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không;

Nhân thân: Ngày 21/11/2019 bị Toà án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản” theo bản án số 173/2019/HSST (đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/10/2021 và đã đóng án phí ngày 11/5/2020); bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/11/2024 cho đến nay; (Có mặt).

- Bị hại:

  1. Anh Nguyễn Hữu K, sinh năm 1996; thường trú: Ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai; chỗ ở: Tiệm C, tổ A, khu phố T, Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương; (Vắng mặt).
  2. Anh Nguyễn Sơn T1, sinh năm 1999; thường trú: Xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; chỗ ở: Tiệm C, tổ A, khu phố T, Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương; (Vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Ngô Thị Huyền N, địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai; (Vắng mặt).

- Người làm chứng:

  1. Anh Đặng Minh T2; (Vắng mặt).
  2. Anh Phan Văn T3; (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Phi L làm việc tại quán C, địa chỉ: Tổ A, khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương đến ngày 03/11/2024 thì nghỉ việc. L không có việc làm và sống lang thang ở khu vực phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương.

Vào khoảng 23 giờ 45 phút ngày 09/11/2024, Trần Phi L đi đến quán P và N1 (viết tắt là quán P), địa chỉ: số C khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương chơi game. Đến 02 giờ ngày 10/11/2024, do cần tiền để tiêu xài, L nảy sinh ý định đi trộm cắp tài sản để bán lấy tiền. Thực hiện ý định trên, L đi đến quán C để trộm tài sản. Sau khi quan sát thấy không có người xung quanh, L trèo tường rào rồi chui qua lỗ thủng của mái tôn và đột nhập vào bên trong quán C. L đi đến lấy chìa khóa cửa cổng để trong rổ đựng muỗng, đũa đặt trên bàn ăn của khách (chỉ có L và một số nhân viên của quán biết được vị trí cất chìa khóa) và mở khóa cửa cổng của quán. Sau đó, L đi đến phía sau quán cơm gà thì nhìn thấy 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, biển số 60C1-54614 của chủ quán cơm là anh Nguyễn Hữu K đang đỗ ở sân và xe đang cắm sẵn chìa khóa. L lén lút đẩy xe mô tô trên đi đến phía trước quán được khoảng 05 mét thì nghe thấy tiếng thông báo của điện thoại. L nhìn qua cửa sổ thì thấy 01 chiếc điện thoại di động OPPO A53 có ốp điện thoại màu nâu của anh Nguyễn Sơn T1 đang sáng màn hình đặt ở trên nệm (nơi mà anh T1 và anh Phan Văn T3 đang ngủ). L đỗ xe ở gần cổng sau đó đột nhập vào phòng lén lút lấy trộm điện thoại trên rồi cất giấu vào túi quần bên trái. Sau đó, L đi đến phía trước quán và điều khiển xe mô tô đi về hướng quán P để tiếp tục chơi game. Đến khoảng 02 giờ 15 phút cùng ngày, anh T1 thức dậy phát hiện mất điện thoại nên đi đến phía trước quán thì thấy L điều khiển xe mô tô đến quán P nên chạy theo ở phía sau. Tại đây, khi nhìn thấy L, anh T1 nói “điện thoại đâu?”, L lấy điện thoại từ trong túi quần trả lại cho anh T1. Anh T1 yêu cầu L trả lại xe mô tô cho anh K thì L đưa chìa khóa cho anh T1 điều khiển xe mô tô trên về quán C. Sau đó, L tiếp tục vào quán P ngồi chơi game đến khoảng 02 giờ 30 phút cùng ngày thì lực lượng Công an đưa L về trụ sở làm việc. Tại cơ quan Công an, L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Kết luận định giá tài sản số 208 ngày 19/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố D, tỉnh Bình Dương kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu xanh, biển số 60C1-54614 trị giá 9.500.000₫ (Chín triệu năm trăm nghìn đồng); 01 điện thoại di động OPPO A53, màu xanh trị giá 1.100.000đ (một triệu một trăm nghìn đồng); 01 ốp lưng điện thoại màu nâu trị giá 5.000đ (năm nghìn đồng).

Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu xanh, biển số 60C1-54614; 01 điện thoại di động OPPO A53, màu xanh và 01 ốp lưng điện thoại màu nâu.

Tại cáo trạng số 103/CT-VKSDA-HS ngày 20 tháng 02 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Trần Phi L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xử phạt bị cáo Trần Phi L từ 12 tháng đến 15 tháng tù.

* Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu xanh, biển số 60C1-54614 là tài sản của anh Nguyễn Hữu K nên ngày 03/01/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, tỉnh Bình Dương ra Quyết định xử lý vật chứng số 64 trả lại cho anh K.

- Đối với 01 điện thoại di động OPPO A53, màu xanh và 01 ốp lưng điện thoại màu nâu là tài sản của anh Nguyễn Sơn T1 nên ngày 12/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, tỉnh Bình Dương ra Quyết định xử lý vật chứng số 6326 trả lại cho anh T1.

* Về trách nhiệm dân sự.

- Anh Nguyễn Hữu K đã nhận lại tài sản là 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu xanh, biển số 60C1-54614 bị chiếm đoạt và không có yêu cầu gì khác.

- Anh Nguyễn Sơn T1 đã nhận lại tài sản là 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A53, màu xanh và 01 ốp lưng điện thoại màu nâu bị chiếm đoạt và không yêu cầu gì khác.

Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về điều luật áp dụng, khung hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự đồng thời bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Căn cứ vào lời khai của bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, nguời làm chứng và các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án, xác định:

Khoảng 02 giờ ngày 10/11/2024, tại quán C, địa chỉ: Tổ A, khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương, Trần Phi L đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu xanh, biển số 60C1-54614 của anh Nguyễn Hữu K trị giá 9.500.000 đồng; 01 điện thoại di động OPPO A53, màu xanh trị giá 1.100.000 đồng và 01 ốp lưng điện thoại màu nâu trị giá 5.000 đồng của anh Nguyễn Sơn T1.

Tổng số tiền Trần Phi L chiếm đoạt của anh Nguyễn Hữu K và anh Nguyễn Trường S là 10.605.000 đồng.

[3] Như vậy, hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của các bị hại có tổng giá trị 10.605.000 đồng của bị cáo Trần Phi L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Do đó, Cáo trạng số 103/CT-VKSDA-HS ngày 20 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo Trần Phi L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; bị cáo hoàn toàn đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

[4] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Tội phạm do bị cáo thực hiện là ít nghiêm trọng, hành vi của bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Về nhận thức bị cáo hoàn toàn biết hành vi trộm cắp tài sản của người khác là trái pháp luật nhưng vì lòng tham, muốn kiếm tiền nhanh chóng không phải lao động để phục vụ nhu cầu bản thân mà bị cáo cố tình thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

[5] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.

[6] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[7] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội cướp tài sản nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng bản thân mà tiếp tục phạm tội trong thời gian ngắn.

[8] Về hình phạt:

- Hình phạt chính: Xét bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, xâm phạm đến tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, hành vi phạm tội của bị cáo ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.

- Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Tuy nhiên áp dụng hình phạt tù cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[9] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Nguyễn Hữu K và anh Nguyễn Sơn T1 đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu gì khác nên trách nhiệm dân sự Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[10] Về xử lý vật chứng:

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu xanh, biển số 60C1-54614 là tài sản của anh Nguyễn Hữu K, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, tỉnh Bình Dương ra Quyết định xử lý vật chứng số 64 trả lại cho anh K là phù hợp.

- 01 điện thoại di động OPPO A53, màu xanh và 01 ốp lưng điện thoại màu nâu là tài sản của anh Nguyễn Sơn T1, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, tỉnh Bình Dương đã trả lại cho anh T1 là phù hợp.

[11] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo, về trách nhiệm dân sự là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[12] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố bị cáo Trần Phi L phạm tội Trộm cắp tài sản.

    Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Xử phạt bị cáo Trần Phi L 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/11/2024.

  2. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

    Bị cáo Trần Phi L phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  3. Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An;
  • - Công an tỉnh Bình Dương;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - UBND xã, phường bị cáo thường trú;
  • - UBND xã, phường (nơi phát hiện tội phạm);
  • - Phòng PV 06 Công an tỉnh Bình Dương;
  • - Phân trại tạm giam khu vực thành phố Dĩ An;
  • - Lưu: Văn phòng, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 78/2025/HS-ST ngày 05/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 78/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Phi L
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger