|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN Bản án số: 78/2024/HS-ST Ngày 12-12-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Hằng
Ông Đào Văn Sáng
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Vân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Trọng Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 64/2024/TLST-HS, ngày 26 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 85/2024/QĐXXST-HS, ngày 02 tháng 12 năm 2024, đối với các bị cáo:
- Trương Thị Thúy H, sinh năm: 1984 tại tỉnh Bình Thuận; Tên gọi khác: Lũng; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu phố D, phường P, thị xã L, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 1/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trương Văn P (chết) và bà Phan Thị Bạch Đ (chết); Bị cáo có chồng và 04 con; Tiền án: Ngày 22/6/2020, bị Toà án nhân dân nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự theo Bản án số 42/2020/HSST. Bị cáo đang hoãn chấp hành án phạt tù theo Quyết định số 15/2023/THAHS-QĐ ngày 05/10/2023 của Tòa án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận. Tiền sự: Không.
- Lê Văn T, sinh năm: 1985 tại tỉnh Bình Thuận; Tên gọi khác: Đen; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu phố E, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; Chỗ ở: khu phố F, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 4/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn T1 và bà Nguyễn Thị H1; Có vợ (đã ly hôn) và 02 con. Tiền án, tiền sự: Không.
- Trương Thị Thanh T2, sinh năm 1987 tại tỉnh Bình Thuận; Tên gọi khác: không. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Khu phố D, phường B, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trương Văn L (chết) vầ bà Trần Thị Ngọc T3; Có chồng và 06 con. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/7/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt tại phiên tòa.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/7/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt tại phiên tòa.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 31/7/2024 đến ngày 08/8/2024 được áp dung biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại khu phố D, phường B, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa chỉ định cho bị cáo Trương Thị Thúy H: Luật sư Nguyễn Hồ Hải V - Văn phòng L1, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 10 giờ 35 phút, ngày 31/7/2024, Tổ công tác thuộc Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh B, phối hợp với đội Đặc nhiệm Phòng chống ma túy và tội phạm, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh B và Công an phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận phát hiện Lê Văn T (sinh năm 1985; hộ khẩu thường trú (HKTT): khu phố E, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; chỗ ở: khu phố F, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận) đang đứng tại khu vực sân trước của dãy nhà trọ nằm trên đường H, thuộc khu phố F, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận có biểu hiệu nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra và phát hiện trong lòng bàn tay trái của T đang tàng trữ 01 (một) gói nylon không màu, có nhíp kéo màu đỏ một đầu, kích thước khoảng (5,5 x 05)cm, bên trong gói nylon này có chứa 04 (bốn) đoạn ống hút đều có đặc điểm giống nhau nhiều màu sắc, được hàn kín, kích thước mỗi đoạn khoảng (01 x 02)cm, bên trong 04 (bốn) đoạn ống hút này đều có chứa chất rắn màu trắng. Qua làm việc, Lê Văn T khai nhận chất rắn màu trắng này là ma túy loại Heroine, T tàng trữ nhằm mục đích chờ giao bán cho đối tượng tên D (không rõ nhân thân) nhưng chưa kịp bán thì bị bắt giữ. Sau khi thu giữ vật chứng có liên quan, tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lê Văn T về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” và niêm phong vật chứng theo quy định.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B (PC04) đã khám xét khẩn cấp chỗ ở L tại phòng trọ số 7 do Lê Văn T thuê trong khu nhà trọ của bà Nguyễn Thị Kim V1 trên đường H thuộc khu phố F, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Sau khi đọc lệnh khám xét, Lê Văn T đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra các đồ vật sau: 01 (một) chiếc tất chân màu xám để ở góc cầu thang gỗ trong phòng trọ của T, bên trong có 05 (năm) gói nylon có đặc điểm như sau: 01 (một) gói nylon không màu có nhíp kéo màu đỏ một đầu, ba đầu còn lại đã được hàn kín, kích thước khoảng (07 x 04)cm, bên trong gói nylon có chứa chất dạng thảo mộc; 01 (một) gói nylon không màu có nhíp kéo màu đỏ một đầu, ba đầu còn lại được hàn kín, kích thước khoảng (05 x 4,8)cm, bên trong gói nylon có 04 đoạn ống hút (03 đoạn ống hút màu xanh, 01 đoạn ống hút màu vàng) bên trong mỗi đoạn ống hút này đều có chứa chất tinh thể màu trắng; 01 (một) gói nylon không màu có nhíp kéo màu đỏ một đầu, ba đầu còn lại được hàn kín, kích thước khoảng (06 x 05)cm, bên trong gói nylon có 01 đoạn ống hút màu đỏ, bên trong có chất tinh thể màu trắng; 01 (một) gói nylon không màu có nhíp kéo màu đỏ một đầu, ba đầu còn lại được hàn kín, kích thước khoảng (6,5 x 05)cm, bên trong gói nylon có 02 (hai) đoạn ống hút màu trắng và 02 (hai) gói nylon không màu được hàn kín các đầu, có kích thước lần lượt khoảng (03 x 1,5)cm và (2,7cm x 2,4)cm, bên trong 02 đoạn ống hút và 02 gói nylon đều có chứa chất tinh thể màu trắng; 01 (một) gói nylon không màu có nhíp kéo màu đỏ một đầu, ba đầu còn lại được hàn kín, kích thước khoảng (6,5 x 05)cm bên trong gói nylon này có 03 đoạn ống hút (01 đoạn ống hút màu xanh, 01 đoạn ống hút màu vàng, 01 đoạn ống hút màu trắng và 01 khối chất rắn không rõ hình dạng màu trắng) bên trong các đoạn ống hút trên đều có chứa chất rắn màu trắng; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy tự chế để dưới chân cầu thang trong phòng trọ mà T đang ở, gồm: 01 (một) chai nhựa, trên nắp chai đục 02 lỗ, 01 (một) ống hút bằng nhựa và 01 (một) ống thủy tinh được uốn cong và thổi phồng một đầu.
Lê Văn T khai nhận các chất bị thu giữ trên là cần sa, M và H2, T tàng trữ nhằm mục đích để sử dụng và bán cho người khác kiếm lời. Bộ D1 sử dụng ma túy tự chế là của T nhằm mục đích sử dụng ma túy khi có nhu cầu. Nguồn gốc số cần sa, M là do T nhờ người bạn ngoài xã hội tên N (không rõ nhân thân) mua giúp với số tiền 100.000 đồng (một trăm ngàn đồng) cần sa và 900.000 đồng (chín trăm ngàn đồng) Methamphetamine vào khoảng ngày 27, 28/7/2024. Đối với số Heroine thu giữ lúc bắt quả tang và khám xét tại phòng trọ của T có nguồn gốc T mua của Trương Thị Thanh T2 (sinh năm 1987; cư trú: khu phố D, phường B, thành phố P, tỉnh Bình Thuận), cụ thể như sau: Vào khoảng trưa ngày 29/7/2024, Lê Văn T đến nhà của Trương Thị Thanh T2 để hỏi mua 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm ngàn đồng) Heroine, nhằm mục đích về để sử dụng và bán lại cho người khác kiếm lời thì được T2 đồng ý. T đứng trong sân nhà T2 đợi, còn T2 đi vào trong nhà lấy 01 (một) gói ma túy Heroin tương ứng số tiền 2.500.000 đồng ra đưa cho T và T đưa tiền mặt cho T2. T đem số ma túy này về phòng trọ phân lẻ ra được 30 (ba mươi) tép (Tư phân nhỏ ma túy bằng cách bỏ vào trong các đoạn ống hút nhỏ được cắt ra, sau đó hàn kín lại) và 01 (một) cục nhỏ. Mỗi tép Heroine T4 bán với giá 100.000 đồng/01 tép, nếu bán hết 30 tép thì T4 lời được 500.000 đồng (năm trăm ngàn đồng). Tính đến ngày 31/7/2024, T4 đã bán được 23 tép, còn lại 07 tép (trong đó có 04 tép thu giữ lúc bắt quả tang và 03 tép thu giữ lúc khám xét phòng trọ) và 01 khối nhỏ ma túy thu giữ tại phòng trọ của T4. Ngoài ra, T4 khai nhận trước đó vào khoảng ngày 24, 25/7/2024, Lê Văn T đến nhà của Trương Thị Thanh T2 để hỏi mua 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) Heroine thì T2 đồng ý bán cho T, số ma túy này T đã sử dụng hết.
Ngay sau khi Cơ quan điều tra vừa khám xét xong tại phòng trọ của Lê Văn T thì có một tài xế xe ôm đến giao cho T 01 (một) gói hàng, T khai nhận gói hàng này là ma túy loại Heroine do T đặt mua Trương Thị Thúy H (sinh năm 1984; HKTT: khu phố D, phường P, thị xã L, Bình Thuận; chỗ ở: khu phố A, phường B, thị xã L, Bình Thuận) nhằm mục đích để bán lại cho người khác kiếm lời. Sau đó, Lê Văn T đã tự nguyện giao nộp gói hàng cho Cơ quan điều tra để tiến hành mở gói hàng kiểm tra, gói hàng có đặc điểm như sau: 01 (một) gói nylon màu đen có quai xách, trên gói nylon có dán mẫu giấy ghi chữ “nhà thờ lạc đạo và ĐT: 0946.887.xxx”. Bên trong gói nylon có một hộp giấy được dán kín trên hộp giấy có chữ đánh máy SPX và chữ viết “Dây nịch của T7”, mở hộp giấy ra bên trong có một lọ thủy tinh ghi “Xương khớp H”, mở lọ thủy tinh bên trong có chứa 05 (năm) gói nylon không màu có đặc điểm giống nhau, đều có nhíp kéo màu đỏ một đầu, kích thước 05 gói đều giống nhau khoảng (7,5 x 05)cm, bên trong các gói nylon này đều có chứa chất rắn màu trắng.
Nguồn gốc số ma túy này Lê Văn T khai nhận như sau: Vào ngày 31/7/2024, Lê Văn T nhắn tin liên lạc với Trương Thị Thúy H qua ứng dụng Zalo mang tên “Tư Lê” nhắn với Z “Hằng T5” để hỏi mua ma túy là Heroin của H với số tiền 13.900.000 đồng (mười ba triệu chín trăm ngàn đồng). H đồng ý và yêu cầu T chuyển tiền trước qua số tài khoản 328648617, mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần V2, chủ tài khoản Trương Thị Thúy H. T đã chuyển tiền 02 lần vào số tài khoản trên với tổng số tiền là 13.900.000 đồng, cụ thể: lần thứ nhất chuyển 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) và lần thứ 2 chuyển 3.900.000 đồng (ba triệu chín trăm ngàn đồng). Sau khi nhận được tiền, H đã phân số ma túy tương ứng số tiền trên và đóng gói gửi ra cho Tư thông qua nhà xe H6 chạy tuyến L - P, khi xe đến P thì đã thuê xe ôm để chở gói hàng đến giao cho T.
Căn cứ lời khai của Lê Văn T, cùng ngày 31/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B (PC04) ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Trương Thị Thanh T2 và Trương Thị Thúy H. Đồng thời thi hành lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trương Thị Thanh T2 tại khu phố D, phường B, thành phố P, tỉnh Bình Thuận và Trương Thị Thúy H tại khu phố A, phường B, thị xã L, tỉnh Bình Thuận. Kết quả khám xét, Cơ quan điều tra đã thu giữ các đồ vật sau:
- Đối với Trương Thị Thanh T2: Thu giữ trong tủ quần áo tại phòng ngủ của T2 gồm: 01 (một) gói nylon không màu, được hàn kín xung quanh, kích thước khoảng (3,5 x 1,5 x 3,5)cm, bên trong gói nylon có chứa chất rắn màu trắng, Cơ quan điều tra đã tiến hành niêm phong gói nylon trên để phục vụ công tác giám định. Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn thu giữ của T2: 01 (một) căn cước công dân số [...] mang tên Trương Thị Thanh T2; số tiền 12.170.000 đồng (mười hai triệu một trăm bảy mươi ngàn đồng).
Trương Thị Thanh T2 khai nhận toàn bộ số ma túy Cơ quan điều tra thu giữ tại nhà T2 là ma túy loại Heroine của T2 tàng trữ nhằm mục đích bán lại cho người khác kiếm lời. Nguồn gốc số ma túy trên là do T2 mua lại của người thanh niên tên Bé B (không rõ nhân thân) vào ngày 30/7/2024. Từ ngày 24-29/7/2024, T2 đã 02 lần bán ma túy cho Lê Văn T tại nhà T2, cụ thể: lần thứ nhất là vào khoảng ngày 24, 25/7/2024, Lê Văn T đến nhà của Trương Thị Thanh T2 để hỏi mua 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) ma túy là H2 thì T2 đồng ý. Sau đó, T đứng đợi trong sân nhà T2, còn T2 đi vào trong nhà lấy ma túy Heroine tương ứng 200.000 đồng ra giao bán cho T và T trả tiền mặt 200.000 đồng cho T2; lần thứ hai là vào khoảng trưa ngày 29/7/2024, T đến nhà của T2 để hỏi mua ma túy 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm ngàn đồng) ma túy là H2 thì T2 đồng ý. T đứng trong sân nhà T2 đợi, còn T2 đi vào trong nhà lấy 01 (một) gói ma túy là H3 tương ứng số tiền 2.500.000 đồng ra đưa cho T và T đưa tiền mặt cho T2.
- Đối với Trương Thị Thúy H: Thu giữ trên bàn trong góc phòng ngủ của Trương Thị Thúy H các đồ vật sau: 31 (ba mươi mốt) đoạn ống hút màu xanh, được hàn kín, có đặc điểm giống nhau, bên trong các đoạn ống hút này đều có chứa chất rắn chưa rõ màu sắc; 21 (hai mươi mốt) đoạn ống hút màu xanh, được hàn kín một đầu, một đầu hở, có đặc điểm giống nhau, bên trong các đoạn ống hút này đều có chứa chất rắn màu trắng được bảo quản vào gói nylon có nhíp kéo một đầu, kích thước (08 x 09) cm; 01 (một) tấm kính không màu, kích thước (20x17)cm, bên trên tấm kính có chứa chất rắn màu trắng, Cơ quan điều tra đã tiến hành thu giữ số chất rắn màu trắng vào 01 (một) gói nylon không màu, có nhíp kéo màu đỏ một đầu, kích thước khoảng (05 x 08) cm. Thu giữ dưới gầm bàn trong góc phòng ngủ của Trương Thị Thúy H 02 (hai) gói nylon không màu, có nhíp kéo màu đỏ một đầu, kích thước giống nhau khoảng (05 x 08) cm, bên trong 02 gói nylon này đều có chứa chất rắn màu trắng. Trương Thị Thúy H khai nhận các đồ vật thu giữ trên là ma túy Heroine của H tàng trữ nhằm mục đích bán lại cho người khác để kiếm lời nên Cơ quan điều tra đã tiến hành niêm phong tất cả các đồ vật trên trong phong bì giấy màu trắng, kích thước khoảng (16 x 22) cm để phục vụ công tác giám định. Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn thu giữ của H: 01 (một) điện thoại di động màu xanh, loại cảm ứng hiệu OPPO, bên trong có chứa sim số 0354.474.856; số tiền 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu đồng).
Quá trình điều tra, Trương Thị Thúy H khai nhận: Vào sáng ngày 31/7/2024, Lê Văn T liên lạc với H qua ứng dụng Zalo với nội dung hỏi mua 13.900.000 đồng ma túy là Heroine thì H đồng ý và yêu cầu T chuyển khoản trước tiền mua ma túy qua số tài khoản 328648617, mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần V2 của H. Sau khi nhận được tiền của T, H liên hệ với người đàn ông tên B1 (không rõ nhân thân) để hỏi mua 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng) ma túy là H2 thì B1 đồng ý và nói sẽ có người xuống nhà H lấy tiền trước. Khoảng 20 phút sau thì có một người thanh niên (không rõ nhân thân) đến trước hẻm nhà H để lấy tiền, H đưa cho người ngày 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng) tiền mặt và người đó ra về. Khoảng 30 phút sau, có một số điện thoại khác (H không nhớ số điện thoại) gọi đến cho H nói ma túy được để tại bùng binh rừng Dầu thuộc thị xã L và nói H đến lấy. Sau đó, H ra đến bùng binh rừng Dầu theo hướng dẫn và lấy ma túy về nhà phân chia để giao bán cho T. H phân ma túy cho T bỏ trong 05 gói nylon có kích thước giống nhau và cho vào trong một lọ thủy tinh ghi “Xương khớp H”, H tiếp tục bỏ lọ thủy tinh này vào một hộp giấy, trên hộp giấy có chữ đánh máy SPX và chữ viết “Dây nịch của T7” rồi dán kín lại và bỏ tiếp vào một gói nylon màu đen có quai xách, trên gói nylon này có dán mẫu giấy ghi chữ “nhà thờ Lạc Đạo và ĐT: 0946.887.xxx” rồi đi gửi cho T qua nhà xe H6 chạy tuyến L - P. Số ma túy còn lại H giấu phòng ngủ của H nhằm mục bán lại cho người khác kiếm lời nhưng chưa kịp bán thì bị Công an khám xét thu giữ vào ngày 31/7/2024.
* Vật chứng thu giữ của vụ án:
- Thu giữ của Lê Văn T:
+ 01 (một) gói nylon không màu, có nhíp kéo màu đỏ một đầu, kích thước (5,5 x 05)cm bên trong gói nylon này có chứa: 04 (bốn) đoạn ống hút đều có đặc điểm giống nhau là nhiều màu sắc, hàn kín, kích thước mỗi đoạn khoảng (01 x 02)cm, bên trong 04 (bốn) đoạn ống hút này đều có chứa chất rắn màu trắng (ký hiệu M1). Được thu giữ trong lòng bàn tay trái của T;
+ Bên trong 01 (một) chiếc tất chân màu xám để ở góc cầu thang gỗ trong phòng trọ của T, thu giữ 05 (năm) gói nylon có đặc điểm như sau: 01 (một) gói nylon không màu có nhíp kéo màu đỏ một đầu, ba đầu còn lại đã được hàn kín, kích thước khoảng (07 x 04)cm bên trong gói nylon có chứa chất dạng thảo mộc (ký hiệu M2); 01 (một) gói nylon không màu có nhíp kéo màu đỏ một đầu, ba đầu còn lại được hàn kín, kích thước khoảng (5 x 4,8)cm bên trong gói nylon có 04 đoạn ống hút (03 đoạn ống hút màu xanh, 01 đoạn ống hút màu vàng) bên trong mỗi đoạn ống hút này đều có chứa chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M3); 01 (một) gói nylon không màu có nhíp kéo màu đỏ một đầu, ba đầu còn lại được hàn kín, kích thước khoảng (06 x 05)cm, bên trong gói nylon có 01 đoạn ống hút màu đỏ, bên trong có chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M4); 01 (một) gói nylon không màu có nhíp kéo màu đỏ một đầu, ba đầu còn lại được hàn kín, kích thước khoảng (6,5 x 05)cm, bên trong gói nylon có 02 (hai) đoạn ống hút màu trắng và 02 (hai) gói nylon không màu được hàn kín các đầu, có kích thước lần lượt khoảng (03 x 1,5)cm và (2,7cm x 2,4)cm, bên trong 02 đoạn ống hút và 02 gói nylon đều có chứa chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M5); 01 (một) gói nylon không màu có nhíp kéo màu đỏ một đầu, ba đầu còn lại được hàn kín, kích thước khoảng (6,5 x 05)cm bên trong gói nylon này có 03 đoạn ống hút (01 đoạn ống hút màu xanh, 01 đoạn ống hút màu vàng, 01 đoạn ống hút màu trằng và 01 khối chất rắn không rõ hình dạng màu trắng) bên trong các đoạn ống hút trên đều có chứa chất rắn màu trắng (ký hiệu M6);
+ 05 (năm) gói nylon không màu có đặc điểm giống nhau, đều có nhíp kéo màu đỏ một đầu, kích thước 05 gói đều giống nhau khoảng (7,5 x 05)cm, bên trong các gói nylon này đều có chứa chất rắn màu trắng (ký hiệu M7) được thu giữ trong lọ thủy tinh ghi “Xương khớp Hoàng H4” được gói trong gói hàng do tài xế xe ôm giao đến cho T tại thời điểm khám xét;
+ 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy tự chế để dưới chân cầu thang trong phòng trọ của T (gồm 01 chai nhựa, trên nắp chai đục 02 lỗ, 01 ống hút bằng nhựa và 01 ống thủy tinh được uốn cong và thổi phồng một đầu);
+ 01 (một) điện thoại di động loại cảm ứng, màu đen, hiệu S, bên trong điện thoại chứa sim số 0946.887.xxx thu giữ của Lê Văn T;
Tại Bản kết luận giám định số 926/KL-KTHS ngày 07/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận mẫu vật thu giữ của Lê Văn T:
Mẫu M1 gửi giám định có khối lượng 0,1250 gam, là Heroine;
Mẫu M2 gửi giám định có khối lượng 0,9012 gam, là Cần sa;
Mẫu M3 gửi giám định có khối lượng 0,5100 gam, là Methamphetamine;
Mẫu M4 gửi giám định có khối lượng 0,0580 gam; là Methamphetamine;
Mẫu M5 gửi giám định có khối lượng 0,9210 gam, là Methamphetamine;
Mẫu M6 gửi giám định có khối lượng 0,8225 gam, là Heroine;
Mẫu M7 gửi giám định có khối lượng 20,1041 gam, là Heroine;
Tổng khối lượng chất ma túy thu giữ của Lê Văn T là: 21,0516 gam Heroine; 0,9012 gam Cần sa và 1,489 gam Methamphetamine.
- Thu giữ của Trương Thị Thanh T2:
+ 01 (một) gói nylon không màu, được hàn kín xung quanh, kích thước khoảng (3,5 x 1,5 x 3,5)cm, bên trong gói nylon có chứa chất rắn màu trắng (ký hiệu M);
+ 01 (một) căn cước công dân số [...] (mang tên Trương Thị Thanh T2, cấp ngày: 07/02/2022, nơi cấp: Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội);
+ Tiền Ngân hàng N2: 12.170.000 đồng (mười hai triệu một trăm bảy mươi ngàn đồng).
Tại Bản kết luận giám định số 927/KL-KTHS ngày 06/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận mẫu vật thu giữ của Trương Thị Thanh T2:
Mẫu M gửi giám định có khối lượng 3,7135 gam, là Heroine;
Tổng khối lượng chất ma túy thu giữ của Trương Thị Thanh T2 là: 3,7135 gam Heroine.
- Thu giữ của Trương Thị Thúy H:
+ 31 đoạn ống hút màu xanh, được hàn kín, có đặc điểm giống nhau, bên trong các đoạn ống hút này đều có chứa chất rắn chưa rõ màu sắc; 21 (hai mươi mốt) đoạn ống hút màu xanh, được hàn kín một đầu, một đầu hở, có đặc điểm giống nhau, bên trong các đoạn ống hút này đều có chứa chất rắn màu trắng được bảo quản vào gói nylon có nhíp kéo một đầu, kích thước (08 x 09) cm; 01 (một) tấm kính không màu, kích thước (20x17)cm, bên trên tấm kính có chứa chất rắn màu trắng, Cơ quan điều tra đã tiến hành thu giữ số chất rắn màu trắng vào 01 (một) gói nylon không màu, có nhíp kéo màu đỏ một đầu, kích thước khoảng (05 x 08) cm; 02 (hai) gói nylon không màu, có nhíp kéo màu đỏ một đầu, kích thước giống nhau khoảng (05 x 08) cm, bên trong 02 gói nylon này đều có chứa chất rắn màu trắng. Tất cả các đồ vật trên được niêm phong trong phong bì giấy màu trắng, kích thước khoảng (16 x 22) cm để phục vụ công tác giám định (ký hiệu M).
+ 01 (một) điện thoại di động màu xanh, loại cảm ứng, hiệu OPPO, bên trong có chứa sim số 0354.474.856;
+ Tiền ngân hàng N2: 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu đồng).
Tại Bản kết luận giám định số 928/KL-KTHS ngày 07/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận mẫu vật thu giữ của Trương Thị Thúy H:
Mẫu M gửi giám định có khối lượng 16,1873 gam, là Heroine;
Tổng khối lượng chất ma túy thu giữ của Trương Thị Thúy H là 16,1873 gam Heroine.
H5 lại đối tượng giám định: Túi niêm phong mã số PS3A 054615 đã cắt lấy mẫu; 01 (một) gói nylon không màu, có khóa kéo viền đỏ; 04 (bốn) đoạn ống nhựa (gồm 01 đoạn màu xanh, 02 đoạn màu vàng; 01 đoạn màu trắng) đã cắt lấy mẫu; 0,0962 gam mẫu M1 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 926/1; Túi niêm phong mã số PS3A 054616; 05 (năm) gói nylon không màu, có khóa kéo viền đỏ; 10 (mười) đoạn ống nhựa (gồm 03 đoạn màu xanh lá, 01 đoạn màu xanh dương, 02 đoạn màu vàng, 03 đoạn màu trắng, 01 đoạn màu đỏ) và 02 (hai) gói nylon đã cắt lấy mẫu; 0,4787 gam mẫu M2; 0,4829 gam mẫu M3; 0,0308 gam mẫu M4; 0,8993 gam mẫu M5; 0,7913 gam mẫu M6 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 926/2; Túi niêm phong mã số PS3A 054643; 05 (năm) gói nylon không màu, có khóa kéo viền đỏ; 18,9604 gam mẫu M7 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 926/3; 01 (một) gói nylon không màu đã cắt lấy mẫu; 3,7135 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 927; 31 (ba mươi mốt) đoạn ống nhựa màu xanh đã cắt lấy mẫu; 01 (một) gói nylon không màu, có khóa kéo, bên trong có 21 (hai mươi mốt) đoạn ống nhựa màu xanh được hàn kín một đầu; 03 (ba) gói nylon không màu, có khóa kéo viền đỏ; 15,5576 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 928. Các giấy dán niêm phong sau giám định đều có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N1 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B.
Xử lý vật chứng: Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận chuyển toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định cùng túi niêm phong mã số PS3A 054615 đã cắt lấy mẫu; 01 (một) gói nylon không màu, có khóa kéo viền đỏ; 04 (bốn) đoạn ống nhựa (gồm 01 đoạn màu xanh, 02 đoạn màu vàng; 01 đoạn màu trắng) đã cắt lấy mẫu được niêm phong trong phong bì số 926/1; túi niêm phong mã số PS3A 054616; 05 (năm) gói nylon không màu, có khóa kéo viền đỏ; 10 (mười) đoạn ống nhựa (gồm 03 đoạn màu xanh lá, 01 đoạn màu xanh dương, 02 đoạn màu vàng, 03 đoạn màu trắng, 01 đoạn màu đỏ) và 02 (hai) gói nylon đã cắt lấy mẫu được niêm phong trong phong bì số 926/2; túi niêm phong mã số PS3A 054643; 05 (năm) gói nylon không màu, có khóa kéo viền đỏ được niêm phong trong phong bì số 926/3; 01 (một) gói nylon không màu đã cắt lấy mẫu được niêm phong trong phong bì số 927; 31 (ba mươi mốt) đoạn ống nhựa màu xanh đã cắt lấy mẫu; 01 (một) gói nylon không màu, có khóa kéo, bên trong có 21 (hai mươi mốt) đoạn ống nhựa màu xanh được hàn kín một đầu; 03 (ba) gói nylon không màu, có khóa kéo viền đỏ được niêm phong trong phong bì số 928, tất cả các giấy dán niêm phong sau giám định đều có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N1 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy tự chế (gồm 01 chai nhựa, trên nắp chai đục 02 lỗ, 01 ống hút bằng nhựa và 01 ống thủy tinh được uốn cong và thổi phồng một đầu); 01 (một) căn cước công dân số [...] (mang tên Trương Thị Thanh T2, cấp ngày: 07/02/2022, nơi cấp: Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội); 01 (một) điện thoại di động loại cảm ứng, màu đen, hiệu S, bên trong điện thoại chứa sim số 0946.887.xxx; 01 (một) điện thoại di động màu xanh, loại cảm ứng hiệu OPPO, bên trong có chứa sim số 0354.474.856; số tiền 12.170.000 đồng (mười hai triệu một trăm bảy mươi ngàn đồng) và 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu đồng) đến Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Thuận.
* Tại bản cáo trạng số 43/CT-VKSBT-P1, ngày 25/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận đã truy tố các bị cáo Trương Thị Thúy H, Lê Văn T, Trương Thị Thanh T2 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Tại phiên tòa:
- Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm như bản Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng: Điểm b khoản 3 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Xử phạt: Bị cáo Trương Thị Thúy H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với mức hình phạt từ 17 năm đến 18 năm tù, tổng hợp hình phạt 07 năm tù của bản án số 42/2020/HSST, ngày 22/6/2020 của Toà án nhân dân nhân dân thị xã La Gi. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của 02 bản án là từ 24 đến 25 năm tù.
- - Áp dụng: Điểm p khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Xử phạt: Bị cáo Lê Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với mức hình phạt từ 08 năm đến 09 năm tù.
- - Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s, n khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Xử phạt: Bị cáo Trương Thị Thanh T2 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với mức hình phạt từ 07 đến 08 năm tù.
- Ngoài ra Đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý vật chứng của vụ án.
- Người bào chữa cho bị cáo Trương Thị Thúy H trình bày: Bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình nên không tranh luận gì về tội danh, điều khoản luật và thống nhất với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tỉnh Bình Thuận. Đề nghị Hội đồng xem xét giảm nhẹ cho bị cáo vì đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo có 4 con nhỏ, hạn chế về nhận thức pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng mức án thấp nhất của khung hình phạt.
- Bị cáo Trương Thị Thúy H đồng ý với lời bào chữa của Luật sư; các bị cáo Lê Văn T, Trương Thị Thanh T2 không tranh luận với quan điểm của Kiểm sát viên.
- Lời nói sau cùng của các bị cáp: Các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định trên đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo:
Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận truy tố. Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án cũng như các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, nên đủ căn cứ kết luận:
Vào lúc 10 giờ 35 phút, ngày 31/7/2024, tại khu nhà trọ của bà Nguyễn Thị Kim V1 nằm trên đường H, thuộc khu phố F, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; Cơ quan điều tra Công an tỉnh B đã phát hiện, bắt quả tang và sau đó khám xét nhà trọ của Lê Văn T thì phát hiện T đang có hành vi tàng trữ trái phép ma túy nhằm mục đích bán cho người khác và sử dụng cho bản thân, từ lời khai của Lê Văn T về nguồn gốc ma túy nên cơ quan đều tra Công an tỉnh B mở rộng điều tra đối vối Trương Thị Thanh T2, Trương Thị Thúy H và thu giữ ma túy trong nhà của H, T2.
Lời khai của các bị cáo và tại các bản Kết luận giám định số 926, 927, 928/KL-KTHS ngày 07/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận mẫu vật thu giữ của Lê Văn T, Trương Thị Thanh T2 và Trương Thị Thúy H như sau:
- Lê Văn T tàng trữ trái phép 21,0516 gam Heroine, 0,9012 gam Cần sa và 1,489 gam Methamphetamine nhằm mục đích để bán lại cho người khác và sử dụng khi có nhu cầu. Nguồn gốc số ma túy trên là do T mua của Trương Thị Thanh T2 với khối lượng 0,9475 gam Heroine vào ngày 29/7/2024 với số tiền 2.500.000 đồng và T mua của Trương Thị Thúy H với khối lượng 20,1041 gam Heroine vào ngày 31/7/2024 với giá 13.900.000 đồng.
Ngoài ra, vào khoảng ngày 24, 25/7/2024, Lê Văn T đã mua 200.000 đồng ma túy là Heroine của Trương Thị Thanh T2 và đã sử dụng hết.
- Trương Thị Thanh T2 tàng trữ trái phép 3,7483 gam chất ma túy là Heroine nhằm mục đích bán lại cho người khác để hưởng lợi tại khu phố D, phường B, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. T2 đã hai lần bán trái phép chất ma túy cho Lê Văn T với tổng số tiền 2.700.000 đồng. Như vậy, tổng khối lượng ma túy của Trương Thị Thanh T2 tàng trữ, bán trái phép là 4,6958 gam Heroine (3,7483 gam (thu giữ) + 0,9475 gam (bán cho T))
- Trương Thị Thúy H tàng trữ trái phép ở nhà tại khu phố A, phường B, thị xã L, tỉnh Bình Thuận 20,1041 gam chất ma túy là Heroine nhằm mục đích bán lại cho người khác để hưởng lợi. H đã bán trái phép chất ma túy cho Lê Văn T 16,1873 gam với số tiền 13.900.000 đồng. Tổng khối lượng ma túy của Trương Thị Thúy H tàng trữ, bán trái phép là 36,2914 gam Heroine (20,1041 gam (tàng trữ) + 16,1873 gam (bán cho T)).
Như vậy, hành vi của các bị cáo Lê Văn T, Trương Thị Thanh T2 và Trương Thị Thúy H bị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận truy tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm đối với hành vi phạm tội của bị cáo, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quy định độc quyền quản lý của Nhà nước Việt Nam đối với chất ma túy. Bản thân các bị cáo nhận thức được ma tuý gây tổn hại nghiêm trọng đến sức khỏe của người sử dụng, gây nghiện ngập, dẫn đến nhiều bệnh tật nguy hiểm và là nguyên nhân gây ra những tệ nạn xã hội khác, làm ảnh hưởng đến an ninh, trật tự an toàn xã hội. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện tàng trữ với khối lượng lớn chất ma túy để bán trái phép. Cần xử phạt mức án nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội trong thời gian dài nhằm trừng trị, giáo dục, cải tạo các bị cáo thành người có ích cho xã hội, đồng thời răn đe và đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.
- Tình tiết tăng nặng: Ngày 22/6/2020, Trương Thị Thúy H bị Tòa án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý, đang hoãn chấp hành án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, các bị cáo Lê Văn T, Trương Thị Thanh T2 và Trương Thị Thúy H đã khai báo thành khẩn nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Đối với bị cáo Trương Thị Thanh T2 phạm tội khi đang mang thai nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm n khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, T2 có ông ngoại là Trần Ngọc C, được Chủ tịch nước tặng Huân chương kháng chiến hạng Nhất nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Trương Thị Thanh T2 có 02 tình tiết giảm nhẹ ở khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là phù hợp.
Trong vụ án này, các bị cáo không cùng nhau bàn bạc, phân công thực hiện hành vi phạm tội mà phạm tội độc lập nên Hội đồng xét xử sẽ căn cứ vào tính chất, mức độ hành vị phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ tăng nặng trách nhiệm hình sự của từng bị cáo để có mức hình phạt tương ứng đúng với quy định của pháp luật.
- Hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, có nhiều con nhỏ, không có công việc ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
Đối với người tên “D” là người Lê Văn T khai đã hẹn mua bán ma túy vào ngày 31/7/2024 nhưng T chưa kịp bán thì bị Cơ quan điều tra bắt quả tang. Quá trình điều tra T không cung cấp được nhân thân, lai lịch của “D” và Cơ quan điều tra không xác định đối tượng “D”.
Đối với người tên “N”: Lê Văn T khai nhận quen biết ngoài xã hội nên vào khoảng ngày 27, 28/7/2024, T đã nhờ N mua giúp 100.000 đồng tiền cần sa và 900.000 đồng Methamphetamine. Tuy nhiên, quá trình điều tra Cơ quan điều tra không xác định được đối tượng “Nhân” là ai.
Đối với những người tên “Bé Ba” và “Bích”: Trương Thị Thanh T2 và Trương Thị Thúy H khai nhận nguồn gốc ma túy của T2 và H là do T2 mua của đối tượng “Bé Ba” và H mua của đối tượng tên “B1”. Tuy nhiên, quá trình điều tra Cơ quan điều tra không xác định được “Bé Ba” và “Bích” là ai.
Trong quá trình điều tra Cơ quan điều tra Công an tỉnh B không xác định được những đối tượng do các bị cáo khai nhận trong việc mua bán ma túy nên Hội đồng xét xử không có căn cứ để xem xét trong vụ án này.
[4] Xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
- Toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định cùng túi niêm phong mã số PS3A 054615 đã cắt lấy mẫu; 01 (một) gói nylon không màu, có khóa kéo viền đỏ; 04 (bốn) đoạn ống nhựa (gồm 01 đoạn màu xanh, 02 đoạn màu vàng; 01 đoạn màu trắng) đã cắt lấy mẫu được niêm phong trong phong bì số 926/1; túi niêm phong mã số PS3A 054616; 05 (năm) gói nylon không màu, có khóa kéo viền đỏ; 10 (mười) đoạn ống nhựa (gồm 03 đoạn màu xanh lá, 01 đoạn màu xanh dương, 02 đoạn màu vàng, 03 đoạn màu trắng, 01 đoạn màu đỏ) và 02 (hai) gói nylon đã cắt lấy mẫu được niêm phong trong phong bì số 926/2; túi niêm phong mã số PS3A 054643; 05 (năm) gói nylon không màu, có khóa kéo viền đỏ được niêm phong trong phong bì số 926/3; 01 (một) gói nylon không màu đã cắt lấy mẫu được niêm phong trong phong bì số 927; 31 (ba mươi mốt) đoạn ống nhựa màu xanh đã cắt lấy mẫu; 01 (một) gói nylon không màu, có khóa kéo, bên trong có 21 (hai mươi mốt) đoạn ống nhựa màu xanh được hàn kín một đầu; 03 (ba) gói nylon không màu, có khóa kéo viền đỏ được niêm phong trong phong bì số 928, tất cả các giấy dán niêm phong sau giám định đều có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N1 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy tự chế (gồm 01 chai nhựa, trên nắp chai đục 02 lỗ, 01 ống hút bằng nhựa và 01 ống thủy tinh được uốn cong và thổi phồng một đầu). Đây là công cụ và chất Nhà nước cấm lưu hành, tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 (một) căn cước công dân số [...] (mang tên Trương Thị Thanh T2, cấp ngày: 07/02/2022, nơi cấp: Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội) không liên quan đến vụ án cần trả lại cho bị cáo T2.
- 01 (một) điện thoại di động loại cảm ứng, màu đen, hiệu S, bên trong điện thoại chứa sim số 0946.887.xxx. Đây là phương tiện bị cáo T dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung công quỹ.
- 01 (một) điện thoại di động màu xanh, loại cảm ứng hiệu OPPO, bên trong có chứa sim số 0354.474.856. Đây là phương tiện bị cáo H dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung công quỹ.
- Số tiền 12.170.000 đồng (mười hai triệu một trăm bảy mươi ngàn đồng). T2 khai trong đó có 9.300.000 đồng là tiền em T2 (Trương Thị Thanh T6) gửi để đóng huê dùm, số tiền còn lại là do T2 làm công việc bán cá qua mạng facebook có được. Xét thấy số tiền trên không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho T2. Tuy nhiên để đảm bảo thi hành án nên cần tiếp tục tạm giữ.
- Số tiền 60.000.000 đồng H khai do làm ăn kiếm được. Xét thấy số tiền trên không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho H Tuy nhiên để đảm bảo thi hành án nên cần tiếp tục tạm giữ.
- Đối với số tiền 13.900.000 đồng Lê Văn T đã chuyển khoản mua ma túy ngày 31/7/2024 cho Trương Thị Thúy H: Quá trình điều tra xác định, ngày 31/7/2024 sau khi Cơ quan điều tra bắt giữ Trương Thị Thúy H, gia đình H không có tiền sinh hoạt nên chồng của H là Nguyễn Quốc T7 đã lấy thẻ ATM của H để rút tiền mặt toàn bộ số tiền trên. Vì là vợ chồng nên Nguyễn Quốc T7 biết mật khẩu thẻ ATM của H và T7 khai nhận không biết số tiền trên có liên quan đến hành vi mua bán trái phép ma túy của H nên đã rút toàn bộ để sử dụng. Đây là tiền liên quan đến hành vi phạm tội và là nguồn thu lợi bấc chính, cần buộc bị cáo H nộp lại để sung quỹ nhà nước.
- Đối với số tiền 2.700.000 đồng là tiền mà T2 bán ma túy cho Lê Văn T 02 lần có đưuợc. Đây là tiền liên quan đến hành vi phạm tội và là nguồn thu lợi bấc chính, cần buộc bị cáo Trương Thị Thanh T2 nộp lại để sung quỹ nhà nước.
[5] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo: Trương Thị Thúy H, Lê Văn T, Trương Thị Thanh T2, phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt:
- Căn cứ: Điểm b khoản 3 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, 50, 55, 56 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt: Bị cáo Trương Thị Thúy H 17 (mười bảy) năm tù, tổng hợp hình phạt 07 (bảy) năm tù của bản án số 42/2020/HSST, ngày 22/6/2020 của Toà án nhân dân nhân dân thị xã La Gi. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của 02 bản án là 24 (hai mươi bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ (ngày 31/7/2024).
- Căn cứ: Điểm p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt: Bị cáo Lê Văn T 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ ngày 31/7/2024.
- Căn cứ vào: Điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s, n khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38, 50, khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt: Bị cáo Trương Thị Thanh T2 06 (sáu) năm tù (Trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 31/7/2024 đến ngày 08/8/2024). Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày thi hành án.
3. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Áp dụng: Điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015;
- Tịch thu tiêu hủy: Số ma túy còn lại sau giám định cùng túi niêm phong mã số PS3A 054615 đã cắt lấy mẫu; 01 (một) gói nylon không màu, có khóa kéo viền đỏ; 04 (bốn) đoạn ống nhựa (gồm 01 đoạn màu xanh, 02 đoạn màu vàng; 01 đoạn màu trắng) đã cắt lấy mẫu được niêm phong trong phong bì số 926/1; túi niêm phong mã số PS3A 054616; 05 (năm) gói nylon không màu, có khóa kéo viền đỏ; 10 (mười) đoạn ống nhựa (gồm 03 đoạn màu xanh lá, 01 đoạn màu xanh dương, 02 đoạn màu vàng, 03 đoạn màu trắng, 01 đoạn màu đỏ) và 02 (hai) gói nylon đã cắt lấy mẫu được niêm phong trong phong bì số 926/2; túi niêm phong mã số PS3A 054643; 05 (năm) gói nylon không màu, có khóa kéo viền đỏ được niêm phong trong phong bì số 926/3; 01 (một) gói nylon không màu đã cắt lấy mẫu được niêm phong trong phong bì số 927; 31 (ba mươi mốt) đoạn ống nhựa màu xanh đã cắt lấy mẫu; 01 (một) gói nylon không màu, có khóa kéo, bên trong có 21 (hai mươi mốt) đoạn ống nhựa màu xanh được hàn kín một đầu; 03 (ba) gói nylon không màu, có khóa kéo viền đỏ được niêm phong trong phong bì số 928, tất cả các giấy dán niêm phong sau giám định đều có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N1 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy tự chế (gồm 01 chai nhựa, trên nắp chai đục 02 lỗ, 01 ống hút bằng nhựa và 01 ống thủy tinh được uốn cong và thổi phồng một đầu).
- Tịch thu sung quỹ: 01 (một) điện thoại di động loại cảm ứng, màu đen, hiệu S, bên trong điện thoại chứa sim số 0946.887.xxx; 01 (một) điện thoại di động màu xanh, loại cảm ứng hiệu OPPO, bên trong có chứa sim số 0354.474.856.
- Trả lại cho Trương Thị Thanh T2 số tiền 12.170.000 đồng. Tuy nhiên để đảm bảo thi hành án nên cần tiếp tục tạm giữ.
- Trả lại cho Trương Thị Thúy H số tiền 60.000.000 đồng. Tuy nhiên để đảm bảo thi hành án nên cần tiếp tục tạm giữ.
- Trả lại cho Trương Thị Thanh T2 01 căn cước công dân số [...] (mang tên Trương Thị Thanh T2, cấp ngày: 07/02/2022, nơi cấp: Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội).
Những vật chứng này đang tạm giữ tại cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Thuận theo Quyết định chuyển vật chứng số 27/QĐ-VKSBT-P1 ngày 25/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận và Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 04/12/2024.
- Buộc Trương Thị Thúy H nộp lại số tiền 13.900.000 đồng (Mười ba triệu chín trăm nghìn đồng) để sung quỹ nhà nước.
- Buộc Trương Thị Thanh T2 nộp lại số tiền 2.700.000 đồng (Hai triệu bảy trăm nghìn đồng) để sung quỹ nhà nước.
4. Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV; Buộc Trương Thị Thúy H, Lê Văn T, Trương Thị Thanh T2, mỗi bị cáo phải chiụ 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (12/12/2024) để Toà án cấp trên xét xử theo trình tự phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Minh Tuấn |
Bản án số 78/2024/HS-ST ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 78/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
