Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ YÊN BÁI

TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 78/2024/HS-ST

Ngày 28-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Thế Hòa.

Các Hội thẩm nhân dân:Bà Đình Thị Thanh Hải, bà Bùi Thị Phượng.

Thư ký phiên toà: Ông Phan Thái Quang - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Quang Hòa - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 75/2024/HS-ST ngày 24-10-2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 83/2024/QĐXXST-HS ngày 11-11-2024, đối với bị cáo:

Trần Thanh L

- Tên gọi khác: Không; sinh ngày 07-8-1976 tại tỉnh Yên Bái; nơi cư trú: Tổ A, phường Y, thành phố Y, tỉnh Yên Bái; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hoá: 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; giới tính: Nam; con ông Trần Kim K, sinh năm 1948 (đã chết) và bà Hồ Thị M, sinh năm 1950; vợ, con: Chưa có; tiền án: Ngày 04-3-2016 bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái xử phạt 08 năm 06 tháng tù về tội: Mua bán trái phép chất ma túy, tiền sự: Không. Nhân thân: Năm 1998 bị Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái xử phạt 02 năm tù về tội: Cố ý gây thương tích ( Bản án số 01/1998/HS-ST đã được xóa án tích). Năm 2001 bị Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái xử phạt 09 tháng tù về tội: Trộm cắp tài sản (Bản án số 70/2001/HS-ST đã được xóa án tích). Năm 2010 bị Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội xử phạt 03 năm tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Bản án số 211/2010/HS-ST đã được xóa án tích). Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 17-7-2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Y - Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Hồ Thị M, sinh năm 1950. Trú tại: Tổ A, phường Y, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Có mặt.

Người chứng kiến: Ông Trần Văn H, sinh năm 1958. Nơi cư trú: Tổ B, phường Đ, thành phố Y, tỉnh Yên Bái - Vắng mặt.

1

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Thanh L là người sử dụng chất ma túy, để có ma túy sử dụng cho bản thân nên sáng ngày 17-7-2024 L điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát 21BA – 120 71 đến khu vực tổ C, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Yên Bái gặp và hỏi mua của một người đàn ông 05 gói ma túy đều được đựng trong đoạn ống nhựa mầu trắng hàn kín hai đầu với giá 1.000.000 đồng, mục đích để sử dụng. Khi mua được ma túy L cất 04 túi ma túy vào túi ngực bên trái, 01 gói vào túi ngực bên phải và đi về. Khi L về đến khu vực đèn tín hiệu giao thông đầu đường Q thuộc tổ B, phường Đ, TP Y, tỉnh Yên Bái thì bị Công an thành phố Y kiểm tra, thu giữ trên người L: 05 đoạn ống nhựa mầu trắng được hàn kín hai đầu bên trong có chứa chất bột nén màu trắng (nghi là ma túy); 01 xilanh nhựa, 02 ống NOVOCAIN; 01 điện thoại di động; 01 xe mô tô và 97.000 đồng. Cơ quan điều tra đã lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng.

Tại bản Kết luận giám định số: 445/KL-KTHS ngày 23-7-2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Y kết luận:

- Chất bột nén mầu trắng thu giữ tại hai túi áo ngực của Trần Thanh L có tổng khối lượng 0,41 gam là ma túy loại Heroine.

Tại bản Cáo trạng số: 79/CT-VKS-TP ngày 23-10-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái truy tố bị cáo Trần Thanh L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Thanh L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Thanh L từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy: 0,25 gam ma túy loại Heroine đã được niêm phong; 03 vỏ phong bì đã mở niêm phong, các đoạn ống nhựa; 01 xilanh nhựa và 02 ống NOVOCAIN .

Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động và 97.000 đồng.

Trả lại cho bà Hồ Thị M 01 xe mô tô mang biển kiểm soát 21BA – 120 71.

Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

2

Tại phiên tòa bị cáo Trần Thanh L khai báo thành khẩn, không tranh luận gì và xin được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Y, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều là hợp pháp.

[2] Về tố tụng: Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người chứng kiến được triệu tập nhưng vắng mặt. Tuy nhiên, sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng trên không gây trở ngại cho việc xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định tại Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự.

[3] Tại phiên tòa, bị cáo Trần Thanh L khai nhận hành vi tàng trữ 0,41 gam ma túy loại Heroine với mục đích để sử dụng cho bản thân. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quy định quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương. Hành vi của bị cáo đang bị toàn xã hội bài trừ, lên án và cũng là nguyên nhân làm gia tăng tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Do đó, cần phải đưa bị cáo ra xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

[5] Bị cáo là người có sức khỏe, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Bị cáo hiểu rõ tác hại của ma túy, nhưng do sống buông thả nên đi vào con đường sử dụng chất ma túy. Năm 1998; 2001; 2010 bị cáo đã bị xử phạt về các tội: Cố ý gây thương tích, Trộm cắp tài sản và Tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng bị cáo không lấy đó để rèn luyện bản thân lại tiếp tục phạm tội. Do đó, cần phải có mức hình phạt thỏa đáng tương xứng với hành vi phạm tội, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, để giáo dục, cải tạo bị cáo và đảm bảo phòng chống tội phạm.

3

[6] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Ngày 04-3-2016 bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái xử phạt 08 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[7] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng sử dụng ma túy, không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định và không có tài sản nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[8] Bị cáo khai nhận nguồn gốc ma túy là mua của một người đàn ông nhưng không biết đầy đủ tên, tuổi và địa chỉ của người đó. Do vậy không có cơ sở để điều tra, xác minh và xử lý trong vụ án.

[9] Về vật chứng: Đối với 0,41 gam ma túy loại Heroine Cơ quan điều tra gửi giám định. Cơ quan giám định sử dụng 0,16 gam làm mẫu giám định. Số ma túy còn lại 0,25 gam đã được niêm phong. Cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 03 vỏ phong bì đã mở niêm phong, các đoạn ống nhựa, xilanh nhựa và 02 ống NOVOCAIN. Cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động và 97.000 đồng tạm giữ của bị cáo. Đây là tài sản của bị cáo không liên quan nên trả lại cho bị cáo.

Đối với xe mô tô mang biển kiểm soát 21BA – 120 71. Quá trinh điều tra xác định được đây là tài sản hợp pháp của bà Hồ Thị M cho bị cáo mượn. Bà M không biết và không liên quan nên trả lại cho bà M.

[10] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[11] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái tại phiên tòa là có căn cứ nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Thanh L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Thanh L 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 17-7-2024.
  3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

4

  • - Tịch thu tiêu hủy: 0,25 gam ma túy loại Heroine đã được niêm phong; 03 vỏ phong bì đã mở niêm phong, các đoạn ống nhựa, xilanh nhựa và 02 ống NOVOCAIN.
  • - Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động và 97.000 đồng.
  • - Trả lại cho bà Hồ Thị M 01 xe mô tô mang biển kiểm soát 21BA – 120 71.

(Chi tiết đặc điểm vật chứng, đồ vật, tài sản theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng giữa Cơ quan điều tra Công an thành phố Y và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Yên Bái ngày 24-10-2024).

  1. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí. Bị cáo Trần Thanh L phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  2. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 bị cáo Trần Thanh L được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt, có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7, 7ª, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Yên Bái;
  • - VKSND tỉnh Yên Bái.
  • - VKSND TP Yên Bái;
  • - Công an TP Yên Bái;
  • - Hồ sơ nghiệp vụ CATP;
  • - Chi cục THADS TP Yên Bái;
  • - Nhà tạm giữ Công an TP;
  • - Sở tư pháp tỉnh Yên Bái;
  • - Bị cáo,
  • - Lưu hồ sơ vụ án, TA, THA.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Đã ký

Nguyễn Thế Hòa

5

6

7

8

9

10

11

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 78/2024/HS-ST ngày 28/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 78/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo phạm tội
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger