Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐĂK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 78/2024/HS-PT

Ngày: 28-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Vinh.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Xuân Chiến và ông Nguyễn Hồng Chương.

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng Hải - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nguyên – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Đắk Nông xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 100/2024/TLPT-HS, ngày 15 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo Trần Đức H và Sùng Văn P do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 31/2024/HS-ST, ngày 28 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông.

Các bị cáo có kháng cáo:

  1. Trần Đức H, sinh ngày 05-9-2002; tại tỉnh Đắk Nông; nơi cư trú: Thôn N, xã N'Đ, huyện K, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn 3/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Tiến P1, sinh năm 1964 và bà Bàn Thị H1, sinh năm 1965; Nhân thân: Ngày 10-12-2021 bị Công an xã Đ, huyện K xử phạt hành chính số tiền 2.500.000 đồng về hành vi xâm hại sức khỏe của người khác, chấp hành xong ngày 19-01-2022; tiền án, tiền sự: Không; đang tại ngoại – Có mặt.
  2. Sùng Văn P, sinh ngày 08-12-2005; tại tỉnh Bắc Kạn; Nơi thường trú: Thôn L, xã B, huyện P, tỉnh Bắc Kạn, nơi ở hiện nay: Thôn P, xã Đ, huyện K; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn 10/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Sùng Văn S, sinh năm 1967 và bà Hoàng Thị C, sinh năm 1970; tiền án, tiền sự: Không; đang tại ngoại - Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Sùng Văn P:

  1. Ông Y Lam (vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt) và ông Hoàng Ngọc Tuấn – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp viên pháp lý Nhà nước tỉnh Đ; địa chỉ: Số A C, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông – Có mặt.
  2. Ông Nguyễn Xuân Thống – Luật sư của Công ty L3, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ; địa chỉ: Đường B, tổ dân phố B, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông – Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối ngày 05-9-2023 Lý Minh H2, Lý Văn K đi dự sinh nhật của Nông Thị Lệ K1 ở nhà Nông Thị Châu tại thôn N, xã N Đến khoảng 20 giờ cùng ngày K1 mượn xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Satria màu trắng biển kiểm soát (BKS) 48C1-247.77 của H2 đi mua đồ, khi đi qua nhà của Lê Minh S1 thì K1 nẹt bô lớn nên S1 đi đến nhà C1 hỏi “ai là chủ xe Satria màu trắng này” nhưng không ai trả lời nên S1 đi về ngồi ở cổng nhà. Do lo sợ khi về sẽ bị chặn đánh nên K, H2 gọi điện thoại cho Trần Đức H, Sùng Văn P, Đặng Thanh P2 đến để bảo vệ, đưa về thì H, P, P2 đồng ý. H2 nói P mang theo đồ (tức gậy hoặc dao) để đánh trả thì P mang theo 01 con dao dài 66,5cm cất vào cốp xe mô tô; sau đó, H, P, P2 rủ thêm Đặng Xuân Q, Đặng Minh H3, Hoàng Văn P3, H4 đi cùng. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày K, H2 đi về thì bị Lê Minh S1 chạy xe máy một mình đuổi theo, do đuổi không kịp nên S1 quay về nhà đi ngủ. K, H2 chạy đến khu vực bờ hồ trước Phòng giáo dục huyện K ngồi đợi nhóm của H, P. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày thì H, P, P2, Q1, H3, P3, H4 gặp H2, K tại khu vực bờ hồ trước Bưu điện huyện K. Phông lấy con dao trong cốp xe mô tô đưa cho H cầm rồi cả nhóm đi đến thôn N, xã N, huyện K.

Khi đi đến khu vực trước nhà ông Lê T2 ở thôn N, xã N thì cả nhóm dừng lại. Huấn, P, H2, Kim đứng gần nhau phía trước nhóm thì H nói với H2, K đi vào trong thôn N, xã N nếu thấy người thì quay đầu xe nẹt bô dẫn lên vị trí nhóm đang đứng để chặn đánh. H2 điều khiển xe mô tô Satria BKS 48C1-247.77 chở K đi vào thôn N, vừa đi vừa nẹt bô. Lúc này, trong nhà của Dương Văn L1 ở thôn N, xã N đang có L1, Nông Minh T3, Hoàng Văn H5, Lê Thị T4, Nông Đức L2, Huỳnh Trung H6, Nguyễn Văn K2 ngồi nhậu. Thấy K, H6 đi ngang qua T4 quen nên vẫy tay gọi vào nhậu nhưng K, H6 quay đầu xe về lại vị trí tụ tập. Nghĩ nhóm người này là nhóm trước đó đuổi theo nên H6, K nói với cả nhóm là có khoảng 10 người đang nhậu ở gần cầu. Nghe vậy thì K, H6, P2, P nhặt mỗi người một khúc cây gỗ, Q1, H3 nhặt mỗi người một viên gạch (loại 06 lỗ) để chuẩn bị đánh nhau. Cả nhóm đứng đợi khoảng 30 phút nhưng không thấy ai đi ra nên P dùng xe mô tô BKS 48C1-255.56 chở H cầm theo dao đi vào thôn N, xã N, đi gần tới cầu nối giữa hai thôn N và N thì dừng lại, quay đầu xe dừng nói to và nẹt bô để gây sự chú ý. Lúc này Hoàng Văn H5, Nông Minh T3 thấy có người nẹt bô, rú ga nên T3 lấy xe mô tô chở H5 đi ra thôn N để tìm xem là ai. Dương Văn L1 thấy H5, T3 đi nên cũng một mình điều khiển xe mô tô đi theo phía sau. Huấn, P thấy có ánh đèn xe từ phía trong thôn N đi ra nên điều khiển xe quay lại vị trí tụ tập nói với cả nhóm là “tụi nó đang ra".

Khi H, P vừa đi đến địa điểm nhóm đứng chờ thì T3 điều khiển xe mô tô chở H5 đi đến, H5 ngồi sau cầm theo 01 cây gỗ; khi đến gần nhóm H thi H5 nhảy xuống xe lao vào nhóm H, T3 điều khiển xe mô tô lao vào nhóm H. Thấy có người cầm gậy và lao xe vào nên K, H6, P2, P, Q1, H3 ném gạch, cây gỗ về phía H5, T3 nhưng không trúng ai; K vừa ném, vừa hô “chạy” thì tất cả mọi người trong nhóm H bỏ chạy về sau mỗi người một hướng; K, H6, P, H3 chạy vào vườn cả phê ven đường cách khoảng 300 mét để trốn, P2, P bỏ chạy về hướng ngã ba sân bóng chuyền rồi trốn vào vườn cây nhà dân, Q1 bỏ chạy về hướng ngã ba sân bóng chuyền rồi ra hướng trường mầm non. Trần Đức H nghe Kim hô “chạy” thì cầm dao chạy ngược lại về hướng ngã ba sân bóng chuyền rồi rẽ vào đoạn đường nhựa bên phải đi về thị trấn Đ; T3, H5 thấy H cầm dao bỏ chạy nên T3 dùng xe mô tô chở H5 đuổi theo; Dương Văn L1 chạy đến sau không thấy ai mà chỉ thấy xe mô tô của nhóm H bỏ lại nên cầm 01 đoạn ống nhựa đập vào đồng hồ xe mô tô Sirius BKS 48C1-151.26. Khi H chạy đến đoạn đường nhựa phía trước nhà ông Nguyễn Kim T5, thôn N, xã N thì T3, H5 đuổi kịp, chặn H lại; H5 nhảy xuống xe cầm gậy đánh 01 cái trúng vào vai phải của H, H dùng dao chém nhiều cái về phía H5 thì H5 dơ tay lên đỡ, T3 dừng xe lao vào dùng tay đánh nhiều cái vào mặt, đầu H thì bị H dùng dao chém trúng 01 cái vào mặt T3; H5, T3 lao vào dùng tay, chân đánh đè giữ H lại. Lúc này, Nguyễn Hữu P4 đang ở trong nhà nên chạy ra can ngăn thì H, H5, T3 dừng lại; H bỏ chạy về hướng thị trấn Đ, H5, T3 chạy xe mô tô về lại nhà L1 sau đó được đưa đi cấp cứu, điều trị tại Bệnh viện V.

- Tại Kết luận định giá tài sản số 26/KL-HĐĐGTS ngày 26-10-2023 của Hội đồng định giá và bán đấu giá tài sản Ủy ban nhân dân huyện K kết luận: Đồng hồ công tơ mét của xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius BKS 48C1-151.26 trị giá tại thời điểm ngày 05-9-2023 là 372.244 đồng.

- Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 233/KLTTCT-TTPY ngày 02-10-2023 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Đ kết luận Hoàng Văn H5 bị: 01 sẹo phần mềm 1/3 trên mặt sau trong cẳng tay phải kích thước nhỏ, tỷ lệ 01%; 01 sẹo mặt sau khuỷu tay trái kích thước nhỏ, tỷ lệ 01%; 01 sẹo nằm ngang mu bàn tay trái kích thước nhỏ, tỷ lệ 01%; 02 sẹo nằm dọc mu bàn tay trái (sẹo phẫu thuật), kích thước nhỏ, tỷ lệ 02%; Gãy xương bàn V bàn tay trái, không hạn chế chức năng bàn tay, ngón tay, tỷ lệ 08%; Trầy xước, bầm tím da vùng bả vai phải và đùi phải không quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể. Tổng tỷ lệ thương tích là 13% sức khỏe.

Kết luận khác: Sẹo 1/3 trên mặt sau trong cẳng tay phải, sẹo mặt sau khuỷu tay trái, sẹo nằm ngang mu bàn tay trái, vết xước da bả vai phải của anh Hoàng Văn H5 do vật sắc nhọn tác động gây nên. Bầm tím da mặt trước đùi phải do bị vật tày tác động gây nên. Hiện tại tổn thương đứt gân duỗi ngón V bàn tay trái của anh Hoàng Văn H5 đang trong quá trình điều trị nên chưa đánh giá được di chứng tổn thương. Đề nghị giám định bổ sung sau khi điều trị ổn định.

+ Tại Kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số 30/KLTTCT-TTPY ngày 26-12-2023 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Đ kết luận Hoàng Văn H5 bị: Mất duỗi ngón V tay trái; cứng khớp đốt bản – ngón V tay trái, tỷ lệ thương tích 04% sức khỏe do vật sắc nhọn tác động trực tiếp gây nên. Tổng tỷ lệ thương tích của Hoàng Văn H5 tại thời điểm giám định bổ sung là 16% sức khỏe.

- Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 234/KLTTCT-TTPY ngày 02-10-2023 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Đ kết luận Nông Minh T3 bị: 01 sẹo phần mềm giữa trán KT nhỏ (sẹo vùng mặt) tỷ lệ 03%; 01 sẹo phần mềm mặt sau ngoài 1/3 trên cẳng chân trái KT nhỏ tỷ lệ 01%. Tổng tỷ lệ thương tích là 04% sức khỏe, do vật sắc nhọn tác động gây nên.

- Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 235/KLTTCT-TTPY ngày 02-10-2023 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Đ kết luận Trần Đức H bị: Trật khớp vai phải mới điều trị khỏi, tỷ lệ 04%; 01 vết biến đổi rối loạn sắc tố da gối phải, tỷ lệ 0,5%; các vết sưng nề, bầm tím, sây sát da vùng thái dương đình trái, ngực trái, bả vai phải, mu ngón 1 bàn chân phải, mu ngón 1 bàn chân trái không quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể. Tổng tỷ lệ thương tích là 04% sức khỏe.

Kết luận khác: Trật khớp vai phải có thể do lực tác động mạnh từ sau vai làm chỏm xương cánh tay trật ra khỏi ổ chảo hoặc do lực tác động khi xoắn vặn cánh, cẳng tay đưa ra sau và xoay ngoài gây trật khớp ra trước. Vết biến đổi rối loạn sắc tố da gối phải, sây sát da gối trái, sây sát da mu ngón 1 bàn chân phải, sây sát da mu ngón I bàn chân trái do vật tày bản rộng tác động gây nên. Các vết sưng nề, bầm tím, sây sát da vùng thái dương đỉnh trái, ngực trái, bả vai phải do vật tày và vật tày có cạnh tác động gây nên.

Bản án hình sự sơ thẩm số 31/2024/HS-ST, ngày 08-8-2024 của Tòa án nhân dân huyện Krông Nô quyết định: Tuyên bố các bị cáo Trần Đức H và Sùng Văn P phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Đức H 03 (Ba) năm 09 (Chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt thi hành án.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 101 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Sùng Văn P 02 (Hai) năm 09 (Chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt thi hành án.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm bồi thường, xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo.

Ngày 15 và 22 tháng 8 năm 2024, các bị cáo Sùng Văn P và Trần Đức H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo thừa nhận bị Tòa án nhân dân huyện Krông Nô kết án về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là đúng, không oan.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông phát biểu quan điểm:

Bản án sơ thẩm số 31/2024/HS-ST, ngày 08-8-2024 của Tòa án nhân dân huyện Krông Nô xử phạt Trần Đức H và Sùng Văn P về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan.

Xét nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo, tại giai đoạn sơ thẩm bị hại Nông Minh T3 (bị tổn thương cơ thể 4%) có đơn rút yêu cầu khởi tố, tuy nhiên cấp sơ thẩm vẫn truy tố, xét xử các bị cáo với tổng mức tổn thương cơ thể 20% (Thêm 4% và H5 16%) và không đề cập ở bản án sơ thẩm là chưa phù hợp. Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo Sùng Văn P cung cấp thêm các tình tiết giảm nhẹ mới; thời điểm xảy ra vụ án bị cáo P chưa đủ 18 tuổi. Do đó có căn cứ để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Xét kháng cáo xin hưởng án treo của các bị cáo, các bị cáo bị xét xử với tình tiết định khung “dùng hung khí nguy hiểm” và “có tính chất côn đồ” là phù hợp, theo Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ngày 15-4-2022 và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ngày 15-5-2018, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của các bị cáo.

Từ nhận định nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 355, 356 và 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo Trần Đức H và Sùng Văn P; sửa Bản án sơ thẩm số 31/2024/HS-ST, ngày 08-8-2024 của Tòa án nhân dân huyện Krông Nô về phần hình phạt:

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trần Đức H 03 năm đến 03 năm 03 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 101 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Sùng Văn P 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.

Người bào chữa cho bị cáo Sùng Văn P: Ông Nguyễn Xuân Thống phát biểu quan điểm:

Đồng ý với quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông về phần tội danh và các tình tiết giảm nhẹ, nhưng phần hình phạt thì quá nghiêm khắc. Xét thấy tại thời điểm nhóm các bị cáo tụ tập chờ các bị hại, sau khi H5 và T3 quay lại lao vào nhóm các bị cáo, Lý Văn K hô “chạy” thì tất cả mọi người trong nhóm bị cáo bỏ chạy mỗi người một hướng thể hiện các bị cáo đã từ bỏ ý định ý định xô xát ban đầu, tuy nhiên H5 và T3 không dừng lại mà tiếp tục dùng xe đuổi theo, tự đưa mình vào trạng thái nguy hiểm, mong muốn có thương tích xảy ra. Do đó, tòa án cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết định khung “có tính chất côn đồ” là chưa phù hợp. Theo tinh thần của Công văn số 276/TANDTC-PC của Tòa án nhân dân tối cao ngày 13-9-2016 và quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Sùng Văn P thấp hơn đề nghị của Viện kiểm sát và được hưởng án treo.

Người bào chữa cho bị cáo Sùng Văn P: Ông Hoàng Ngọc Tuấn phát biểu quan điểm:

Đồng ý với quan điểm của luật sư Nguyễn Xuân T1, bị cáo Sùng Văn P tại thời điểm phạm tội dưới 18 tuổi nên nhận thức còn hạn chế, bị rủ rê, xúi giục mới thực hiện hành vi phạm tội. Ngoài ra, bị cáo P tuy là người đưa dao cho H nhưng không trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội nên xét thấy không phải chịu trách nhiệm với mức độ hậu quả xảy ra. Xét thấy bị cáo P có nhiều tình tiết giảm nhẹ, là người dân tộc thiểu số, có nơi cư trú rõ ràng, nhân thân tốt,... Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm Điều 54 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ mức hình phạt cho Sùng Văn P mức án thấp nhất và được hưởng án treo.

Các bị cáo đã biết lỗi và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho các bị cáo hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Đơn kháng cáo của các bị cáo được thực hiện trong thời hạn luật định nên đủ điều kiện để Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết theo quy định của pháp luật.

[2]. Về tội danh: Vào khoảng 23 giờ 30 phút ngày 05-9-2023, tại đoạn đường nhựa thuộc địa phận thôn N, xã N, huyện K, tỉnh Đắk Nông, bị cáo Trần Đức H có hành vi dùng dao chém nhiều cái vào tay của Hoàng Văn H5 gây thương tích 16% sức khỏe và chém vào vùng mặt, cẳng chân của Nông Minh T3 gây thương tích 4% sức khỏe. Sùng Văn P có hành vi đưa dao cho Trần Đức H gây thương tích. Do đó, Bản án sơ thẩm số 31/2024/HS-ST, ngày 08-8-2024 của Tòa án nhân dân huyện Krông Nô xử phạt Trần Đức H và Sùng Văn P về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan.

[3]. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Về diễn biến vụ án, sau khi các bị cáo đến khiêu khích các bị hại, T3 điều khiển xe mô tô chở H5 ngồi sau cầm theo 01 cây gỗ lao vào nhóm bị cáo thì các bị cáo bỏ chạy, tuy nhiên các bị hại vẫn quyết liệt đuổi theo kịp, chặn Huấn lại, H5 nhảy xuống xe cầm gậy đánh 01 cái trúng vào vai phải của H, H dùng dao chém nhiều cái về phía H5 thì H5 dơ tay lên đỡ, T3 dừng xe lao vào dùng tay đánh nhiều cái vào mặt, đầu H thì bị H dùng dao chém trúng 01 cái vào mặt T3; H5, T3 lao vào dùng tay, chân đánh đè giữ H lại. Hậu quả H5 bị thương tích 16%, Thêm 4% và bị cáo H 4%. Xét thấy hành vi của bị cáo H đánh các bị hại gây thương tích là do các bị hại có lỗi, có hành vi đánh bị cáo H trước. Do đó, tòa án cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết định khung “có tính chất côn đồ” là chưa thỏa đáng, gây bất lợi cho các bị cáo.

Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo Sùng Văn P cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ mới: bị cáo có ông nội là ông Sùng Á N được tặng Huy chương Kháng chiến Hạng Nhì, hoàn cảnh gia đình khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương và mẹ bị cáo đang bị bệnh. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất, mức độ, hành vi và hậu quả do hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Với tình hình hiện nay, tội phạm “Cố ý gây thương tích” xảy ra rất nhiều, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Do đó, cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.

Từ các nhận định nêu trên, có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của các bị cáo.

[4]. Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, luận cứ bào chữa của những người bào chữa có căn cứ nên cần xem xét khi quyết định hình phạt.

[5]. Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[6]. Đối với các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 356, Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo Trần Đức H và Sùng Văn P, sửa Bản án sơ thẩm số: 31/2024/HS-ST, ngày 08-8-2024 của Tòa án nhân dân huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông về phần hình phạt và điều luật áp dụng.

    Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Đức H 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt thi hành án.

    Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Sùng Văn P 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt thi hành án.

  2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Vụ I Tòa án nhân dân tối cao;
  • - TAND cấp cao tại Tp.HCM;
  • - VKSND tỉnh Đăk Nông;
  • - Phòng Hồ sơ CA tỉnh Đăk Nông;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đăk Nông;
  • - Công an huyện Krông Nô;
  • - VKSND huyện Krông Nô;
  • - TAND huyện Krông Nô;
  • - Chi cục THADS huyện Krông Nô;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: THCTP, THS, HSVA.

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ

PHIÊN TOÀ

Võ Văn Vinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 78/2024/HS-PT ngày 28/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG về cố ý gây thương tích (vụ án hình sự phúc thẩm)

  • Số bản án: 78/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Vụ án hình sự phúc thẩm)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Đức H và đồng phạm bị xét xử phúc thẩm về tội "Cố ý gây thương tích" theo Điều 134 của BLHS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger