|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 78/2024/DS -ST
Ngày: 20/11/2024.
V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Quách Mạnh T.
Các hội thẩm nhân dân:
Bà Đào Minh C
Ông Nguyễn Việt A
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Quang - Cán bộ Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận H: Ông Hoàng Thanh H - Kiểm sát viên.
Trong ngày 20 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân quận H xét xử công khai sơ thẩm vụ án thụ lý số 115/2024/TLST- DS ngày 20 tháng 05 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo quyết định đa vụ án ra xét xử số 85/2024/QĐXX - DS ngày 23 tháng 9 năm 2024, quyết định hoãn phiên tòa số 97/QĐST - DS ngày 10 tháng 10 năm 2024, quyết định tạm ngừng phiên tòa số 27/2024/ QĐ-TA ngày 28 tháng 10 năm 2024 giữa các đơng sự:
* Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP B1;
Trụ sở: Tòa nhà HM TN, phường E, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Quang T1 - Tổng giám đốc;
Đại diện theo ủy quyền: Ông Ngô Phúc H1 - Giám đốc Trung tâm quản lý và thu hồi nợ.
1
Đại diện ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Phạm Văn N, ông Nguyễn Văn B, bà Trần Thị M (Theo giấy ủy quyền số 1196/2024/UQ-BVBank ngày 18 tháng 10 năm 2024 của ngân hàng).
* Bị đơn: Ông Lê Như P - Sinh năm 1973;
Bà Nguyễn Thị N1 - Sinh năm 1979;
Cùng địa chỉ nơi cư trú cuối cùng tại: Số H G, tổ B, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Ông Lê Như L – sinh năm 1975;
- Bà Nguyễn Thị L1 - sinh năm 1948;
Cùng nơi cư trú: Số H G, tổ B, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội.
(Có mặt, ông Phạm Văn N- Đại diện ủy quyền của nguyên đơn; vắng mặt ông Lê Như P, Bà Nguyễn Thị N1 là bị đơn, ông Lê Như L, bà Nguyễn Thị L1 là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm Đại diện ủy quyền của nguyên đơn là ông Phạm Văn N trình bày:
Ngân hàng TMCP B1 đã cấp tín dụng cho ông Lê Như P và bà Nguyễn Thị N1 thông qua hợp đồng tín dụng từng lần khách hàng cá nhân số 0185/02217/TDTL-CN ngày 7/11/2017 và Hợp đồng tín dụng từng lần khách hàng cá nhân số 0186/02217/TDTL-CN ngày 7/11/2017, chi tiết như sau:
- Hợp đồng tín dụng từng lần khách hàng cá nhân số 0185/02217/TDTL-CN ngày 7/11/2017 như sau:
Số tiền cho vay: 1.000.000.000 (Bằng chữ: Một tỷ đồng); Mục đích cho vay: Sửa chữa nhà; Thời hạn cho vay: 180 tháng, lãi suất cho vay: Chi tiết theo giấy vay nợ.
- Hợp đồng tín dụng từng lần khách hàng cá nhân số 0186/02217/TDTL-CN ngày 7/11/2017 như sau:
Số tiền cho vay: 200.000.000 (Bằng chữ: hai trăm triệu đồng); Mục đích cho vay: Vay tiêu dùng; Thời hạn cho vay: 60 tháng, lãi suất cho vay: Chi tiết theo giấy vay nợ.
2
Ngân hàng đã giải ngân khoản vay cho ông Lê Như P, bà Nguyễn Thị N1 với tổng số tiền là 1.200.000.000đồng. (Bằng chữ: Một tỷ, hai trăm triệu đồng). Cụ thể theo giấy vay nợ như sau:
Giấy nhận nợ số 01/0185/02217/TDTL-CN ngày 27/11/2017 chi tiết như sau:
Số tiền giải ngân: 1.000.000.000đồng (bằng chữ: Một tỷ đồng), mục đích: Vay sửa nhà; Thời hạn vay 180 tháng (từ ngày 27/11/2017 đến ngày 29/11/2032); lãi suất cho vay: 10,5%/ năm trong 3 thàng đầu tiên kể từ ngày giải ngân.
Giấy nhận nợ số 01/0186/02217/TDTL-CN ngày 27/11/2017 chi tiết như sau:
Số tiền giải ngân: 200.000.000đồng (bằng chữ: Hai trăm triệu đồng), mục đích: Tiêu dùng cá nhân; Thời hạn vay 60 tháng (từ ngày 27/11/2017 đến ngày 29/11/2032); lãi suất cho vay: 10,98%/ năm trong 3 thàng đầu tiên kể từ ngày giải ngân.
3. Khoản nợ nêu trên được bảo đảm bằng các biện pháp bảo đảm sau:
- - Thế chấp Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 17(4), tờ bản đồ số: 30, địa chỉ: phường T, quận H, thành phố Hà Nội, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BU 694281số vào sổ cấp GCN: CH01900/HĐ:2841/721 do Ủy ban nhân dân quận H, Thành phố Hà Nội cấp ngày 21/8/2014. Ngày 20/8/2015, Văn phòng Đ - chi nhánh quận H đã đăng ký sang tên cho ông Lê Như P và Lê Như L theo hồ sơ số 822 ngày 04/08/2015 căn cứ theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất ngày 7/11/2017 số công chứng 2330.217/HĐTC quyển số 04/TP/CC-SCC/HĐGD được công chứng tại văn phòng C1 (thành phố Hà Nội) chứng nhận.
Trong quá trình vay vốn ông Lê Như P, bà Nguyễn Thị N1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo các nội dung đã cam kết thỏa thuận mà hai bên đã ký kết. Ngân hàng đã liên hệ làm việc, đôn đốc yêu cầu ông P, bà N1 thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nhưng ông P, bà N1 vẫn không trả hết nợ cho ngân hàng. Tạm tính đến ngày 18/9/2023, ông P, bà N1 còn nợ ngân hàng tổng số tiền là 2.288.325.262 đồng (Bằng chữ: hai tỷ, hai trăm tám mươi tám triệu,ba trăm hai mươi lăm nghìn, hai trăm sáu mươi hai đồng) chi tiết như sau:
Hợp đồng tín dụng từng lần khách hàng cá nhân số 0185/02217/TDTL-CN ngày 7/11/2017 là nợ gốc: 988.889.999 đồng, lãi trong hạn: 551.061.015 đồng, lãi chậm trả lãi: 160.527.431đồng, lãi quá hạn: 198.811.718 đồng. Tổng cộng: 1.899.290.163 đồng.
Hợp đồng tín dụng từng lần khách hàng cá nhân số 0186/02217/TDTL-CN ngày 7/11/2017là nợ gốc: 193.332.000 đồng, lãi trong hạn: 57.698.801 đồng, lãi chậm trả lãi: 22.791.662 đồng, lãi quá hạn: 115.212.636 đồng. Tổng cộng: 389.035.099 đồng.
3
II. YÊU CẦU GIẢI QUYẾT:
- Buộc ông Lê Như P, bà Nguyễn Thị N1 trả ngay cho Ngân hàng tổng số nợ còn thiếu tính đến ngày 18/9/2023 là 2.288.325.262 đồng (Bằng chữ: hai tỷ, hai trăm tám mươi tám triệu,ba trăm hai mươi lăm nghìn, hai trăm sáu mươi hai đồng).
chi tiết như sau:
Hợp đồng tín dụng từng lần khách hàng cá nhân số 0185/02217/TDTL-CN ngày 7/11/2017 là nợ gốc: 988.889.999 đồng, lãi trong hạn: 551.061.015 đồng, lãi chậm trả lãi: 160.527.431 đồng, lãi quá hạn: 198.811.718 đồng. Tổng cộng: 1.899.290.163 đồng.
Hợp đồng tín dụng từng lần khách hàng cá nhân số 0186/02217/TDTL-CN ngày 7/11/2017 là nợ gốc: 193.332.000 đồng, lãi trong hạn: 57.698.801 đồng, lãi chậm trả lãi: 22.791.662 đồng, lãi quá hạn: 115.212.636 đồng. Tổng cộng: 389.035.099 đồng.
- Buộc ông Lê Như P, bà Nguyễn Thị N1 còn phải tiếp tục trả tiền lại, phạt chậm trả lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại khế ước nhận nợ đến khi trả hết nợ.
- Nếu ông Lê Như P, bà Nguyễn Thị N1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì tài sản bảo đảm sau đây được cơ quan có thẩm quyền xử lý để thu hồi nợ là: Toàn bộ quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại thừa đất số 17(4), tờ bản đồ số: 30, địa chỉ: phường T, quận H, thành phố Hà Nội thuộc quyền sở hữu của ông Lê Như P và Lê Như L theo hồ sơ số 822 ngày 04/08/2015.
- Trường hợp số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản đảm bảo trên không đủ thanh toán hết nợ tại BV B2 thì ông Lê Như P, bà Nguyễn Thị N1 vẫn tiếp tục nghĩa vụ trả hết nợ còn thiếu cho BV B2.
- Buộc ông Lê Như P, bà Nguyễn Thị N1 phải chịu toàn bộ chi phí phát sinh trong quá trình tố tụng.
Tại phiên tòa, đại diện ủy quyền của nguyên đơn là ông Phạm Văn N vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và bổ sung thêm. Tạm tính đến ngày 20/11/2024 ông Lê Như P, bà Nguyễn Thị N1 phải trả ngân hàng số tiền là: 2.582.617.067đồng (Bằng chữ: Hai tỷ, năm trăm tám mươi hai triệu, sáu trăm mười bảy nghìn, không trăm sáu bảy đồng). Cụ thể :
Hợp đồng tín dụng từng lần khách hàng cá nhân số 0185/02217/TDTL-CN ngày 7/11/2017 là nợ gốc: 988.889.999 đồng, lãi trong hạn: 632.782.937 đồng, lãi phạt chậm trả lãi: 230.062.412 đồng, lãi quá hạn: 292.459.186 đồng. Tổng cộng: 2.144.194.534 đồng.
Hợp đồng tín dụng từng lần khách hàng cá nhân số 0186/02217/TDTL-CN ngày 7/11/2017 là nợ gốc: 193.332.000 đồng, lãi trong hạn: 57.698.801 đồng, lãi phạt chậm
4
trả lãi: 29.573.250 đồng, lãi quá hạn: 157.818. 482 đồng. Tổng cộng: 438.422.533 đồng.
Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai đã tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng quy định tại khoản 4, khoản 5 điều 177 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 nhưng ông Lê Như P, bà Nguyễn Thị N1 không có mặt tại nơi cư trú. Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng của Tòa án theo quy định tại điều 179 bộ luật tố tụng hình sự. Tòa án quận H cũng tiến hành xác minh hiện nay ông P, bà N1 không biết cư trú tại đâu, không biết ngày nào về, để đảm bảo cho việc tống đạt Tòa án tiến hành đăng tin thông báo tìm kiếm trên các phương tiện thông tin đại chúng theo quy định tại điều 180 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai đã tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng quy định tại khoản 4, khoản 5 điều 177 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 nhưng ông Lê Như L, bà Nguyễn Thị L1 không nhận các văn bản tố tụng của tòa. Do vậy, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng của Tòa án theo đúng quy định tại điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ hai lần để tham gia phiên tòa, nhưng ông Lê Như P, bà Nguyễn Thị N1, ông Lê Như L, bà Nguyễn Thị L1 vắng mặt không có lý do. Do vậy căn cứ điều 277, điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Toà án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà có ý kiến:
- Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án về tranh chấp hợp đồng tín dụng đợc quy định tại điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Do ngân hàng đòi cá nhân tiền vay bằng hợp đồng tín dụng nên đây là vụ án tranh chấp tín dụng thuộc vụ án dân sự.
Bị đơn là ông Lê Như P, bà Nguyễn Thị N1, hiện có cùng nơi cư trú cuối cùng tại: Số H G, tổ B, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội. Vì vậy Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội thụ lý và giải quyết là phù hợp với điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Về việc xác định tư cách tham gia tố tụng của các đương sự. Tòa án đã xác định đúng tư cách thamh gia tố tụng của các dượng sự theo điều 68 BLTTDS 2015.
- Việc thu thập tài liệu chứng cứ theo đúng quy định tại điều 95, 97 BLTTDS 2015.
5
- Việc tổ chức phiên hòa giải và công khai chứng cứ đúng theo điều 208, 210 BLDS 2015.
- Việc chấp hành chưa đúng thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng do vụ án có tính chất phức tạp nên không kiến nghị.
- Việc thẩm phán tiến hành tố tụng giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến phiên toà đã tuân thủ theo đúng trình tự, thủ tục quy định tại điều 41 bộ luật tố tụng Dân sự. Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng trình tự xét xử quy định từ điều 217 dến điều 235 Bộ luật tố tụng dân sự, nguyên đơn chấp hành đúng theo quy định của pháp luật được quy định tại điều 70, điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn đã không chấp hành đúng các quy định tại điều 70, điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai nhận định về nội dung, hình thức hợp đồng tín dụng. Đề nghị Hội đồng xét xử
Căn cứ: khoản 3 Điều 26; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ: Điều 335, Điều 429, Bộ luật dân sự 2015;
Căn cứ: Điều 397; Điều 398; Điều 399; Điều 400; Điều 401 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 91; Điều 95 Luật tổ chức tín dụng (Đã được sửa đổi bổ sung năm 2010).
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP B1 đối với ông Lê Như P, bà Nguyễn Thị N1, buộc ông Lê Như P, bà Nguyễn Thị N1, có trách nhiệm thanh toán trả cho toàn bộ số tiền nợ gốc, lãi quá hạn theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng từng lần khách hàng cá nhân số 0185/02217/TDTL-CN ngày 7/11/2017; Hợp đồng tín dụng từng lần khách hàng cá nhân số 0186/02217/TDTL-CN ngày 7/11/2017 tính đến thời điểm xét xử và tiếp tục tính lãi quá hạn phát sinh kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử cho đến khi thanh toán xong khoản nợ. Trong trường hợp ông P, bà N1 không thanh được cho ngân hàng số tiền như ngân hàng yêu cầu thì ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có quyền kê biên phát mại tài sản thế chấp. Án phí dân sự sơ thẩm: các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
6
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về Tố tụng:
1.1.Về quan hệ pháp luật tranh chấp: đây là vụ án yêu cầu thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng TMCP B1 với ông Lê Như P, bà Nguyễn Thị N1 là tranh chấp dân sự được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
1.2. Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: ông Lê Như P, bà Nguyễn Thị N1 hiện có cùng nơi cư trú cuối cùng tại: Số H G, tổ B, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội. Vì vậy, căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a, khoản 1, Điều 35 và điểm a, khoản 1, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án nêu trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.
1.3. Về chủ thể khởi kiện: Đây là vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng ông Lê Như P, bà Nguyễn Thị N1 không thanh toán được tiền vay cho Ngân hàng TMCP B1 sau khi đến hạn trả.
1.4. Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai đã tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng quy định tại khoản 4, khoản 5 điều 177 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 nhưng ông Lê Như P, bà Nguyễn Thị N1 không có mặt tại nơi cư trú. Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng của Tòa án theo quy định tại điều 179 bộ luật tố tụng hình sự. Tòa án quận H cũng tiến hành xác minh hiện nay ông P, bà N1 không biết cư trú tại đâu, không biết ngày nào về, để đảm bảo cho việc tống đạt Tòa án tiến hành đăng tin thông báo tìm kiếm trên các phương tiện thông tin đại chúng theo quy định tại điều 180 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai đã tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng quy định tại khoản 4, khoản 5 điều 177 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 nhưng ông Lê Như L, bà Nguyễn Thị L1 không nhận các văn bản tố tụng của tòa. Do vậy, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng của Tòa án theo đúng quy định tại điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ hai lần để tham gia phiên tòa, nhưng ông Lê Như P, bà Nguyễn Thị N1, ông Lê Như L, bà Nguyễn Thị L1 vắng mặt không có lý do. Do vậy căn cứ điều 277, điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Toà án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2]. Về yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn: Hội đồng xét xử nhận thấy:
7
2.1 Xét tính hợp pháp của hợp đồng tín dụng:
Ngân hàng TMCP B1 được thành lập theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp và được Sở kế hoạch đầu tư thành phố H cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp mã số 0301378892, đăng ký lần đầu ngày 16/10/1992, đăng ký thay đổi lần thứ 30 ngày 19/06/2023; Ngân hàng TMCP B1 và ông Lê Như P, bà Nguyễn Thị N1 xác lập quan hệ tín dụng thông qua hợp đồng tín dụng từng lần khách hàng cá nhân số 0185/02217/TDTL-CN ngày 7/11/2017; Hợp đồng tín dụng từng lần khách hàng cá nhân số 0186/02217/TDTL-CN ngày 7/11/2017 .
Về chủ thể tham gia ký kết hợp đồng tín dụng từng lần khách hàng cá nhân số 0185/02217/TDTL-CN ngày 7/11/2017; Hợp đồng tín dụng từng lần khách hàng cá nhân số 0186/02217/TDTL-CN ngày 7/11/2017 là người đại diện theo pháp luật của Ngân hàng B1 và ông Lê Như P, bà Nguyễn Thị N1.
Xét hợp đồng được xác lập trên cơ sở tự nguyện của các bên tham gia, mục đích giao kết không vi phạm điều cấm của Pháp luật, không trái đạo đức xã hội, hình thức, nội dung phù hợp quy định của Pháp luật về hợp đồng vay tài sản nên có hiệu lực thi hành đối với các bên tham gia.
2.2 . Về quá trình thực hiện hợp đồng:
Ngân hàng TMCP B1 đã cấp tín dụng cho ông Lê Như P và bà Nguyễn Thị N1 thông qua hợp đồng tín dụng từng lần khách hàng cá nhân số 0185/02217/TDTL-CN ngày 7/11/2017 và Hợp đồng tín dụng từng lần khách hàng cá nhân số 0186/02217/TDTL-CN ngày 7/11/2017, chi tiết như sau:
- Hợp đồng tín dụng từng lần khách hàng cá nhân số 0185/02217/TDTL-CN ngày 7/11/2017 như sau:
Số tiền cho vay: 1.000.000.000 đồng (Bằng chữ: Một tỷ đồng); Mục đích cho vay: Sửa chữa nhà; Thời hạn cho vay: 180 tháng, lãi suất cho vay: Chi tiết theo giấy vay nợ.
- Hợp đồng tín dụng từng lần khách hàng cá nhân số 0186/02217/TDTL-CN ngày 7/11/2017 như sau:
Số tiền cho vay: 200.000.000 đồng (Bằng chữ: hai trăm triệu đồng); Mục đích cho vay: Vay tiêu dùng; Thời hạn cho vay: 60 tháng, lãi suất cho vay: Chi tiết theo giấy vay nợ.
Ngân hàng đã giải ngân khoản vay cho ông Lê Như P, bà Nguyễn Thị N1 với tổng số tiền là 1.200.000.000 đồng. (Bằng chữ: Một tỷ, hai trăm triệu đồng). Cụ thể theo giấy vay nợ như sau:
Giấy nhận nợ số 01/0185/02217/TDTL-CN ngày 27/11/2017 chi tiết như sau:
8
Số tiền giải ngân: 1.000.000.000 đồng (bằng chữ: Một tỷ đồng), mục đích: Vay sửa nhà; Thời hạn vay 180 tháng (từ ngày 27/11/2017 đến ngày 29/11/2032); lãi suất cho vay: 10,5%/ năm trong 3 thàng đầu tiên kể từ ngày giải ngân.
Giấy nhận nợ số 01/0186/02217/TDTL-CN ngày 27/11/2017 chi tiết như sau:
Số tiền giải ngân: 200.000.000 đồng (bằng chữ: Hai trăm triệu đồng), mục đích: Tiêu dùng cá nhân; Thời hạn vay 60 tháng (từ ngày 27/11/2017 đến ngày 29/11/2032); lãi suất cho vay: 10,98%/ năm trong 3 thàng đầu tiên kể từ ngày giải ngân.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, cho ông Lê Như P và bà Nguyễn Thị N1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ với Ngân hàng B1. Do đó, căn cứ thỏa thuận giữa hai bên về việc chấm dứt cho vay, thu hồi nợ trước hạn và chuyển nợ quá hạn ngày 26/01/2018, ngân hàng B1 ra Thông báo thu hồi nợ trước hạn đối với toàn bộ khoản vay của 02 khế ước nhận nợ nêu trên.
Dư nợ chưa trả tính đến ngày 20/11/2024, ông Lê Như P và bà Nguyễn Thị N1 còn nợ ngân hàng B1 số tiền : 2.582.617.067đồng (Bằng chữ: Hai tỷ, năm trăm tám mươi hai triệu, sáu trăm mười bảy nghìn, không trăm sáu bảy đồng). Cụ thể:
Hợp đồng tín dụng từng lần khách hàng cá nhân số 0185/02217/TDTL-CN ngày 7/11/2017 là nợ gốc: 988.889.999 đồng, lãi trong hạn: 632.782.937 đồng, lãi phạt chậm trả lãi: 230.062.412 đồng, lãi quá hạn: 292.459.186 đồng. Tổng cộng: 2.144.194.534 đồng.
Hợp đồng tín dụng từng lần khách hàng cá nhân số 0186/02217/TDTL-CN ngày 7/11/2017 là nợ gốc: 193.332.000 đồng, lãi trong hạn: 57.698.801 đồng, lãi phạt chậm trả lãi: 29.573.250 đồng, lãi quá hạn: 157.818.482 đồng. Tổng cộng: 438.422.533 đồng.
2.3. Xét yêu cầu đề nghị Tòa án buộc ông Lê Như P và bà Nguyễn Thị N1 theo hợp đồng tín dụng từng lần khách hàng cá nhân số 0185/02217/TDTL-CN ngày 7/11/2017 phải trả tiền gốc là 988.889.999 đồng.
Căn cứ căn cứ Hợp đồng tín dụng từng lần khách hàng cá nhân số 0185/02217/TDTL-CN ngày 7/11/20171, Ngân hàng TMCP B1 có cấp tín dụng cho khách hàng là ông Lê Như P và bà Nguyễn Thị N1 với hạn mức 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng); nhằm mục đích sửa chữa nhà. Trong quá trình vay vốn, ông Lê Như P và bà Nguyễn Thị N1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên ngày 26/01/2018, Ngân hàng B1 đã ra thông báo thu hồi nợ trước hạn đối với toàn bộ nợ vay còn lại chưa thanh toán của ông Lê Như P và bà Nguyễn Thị N1 tại Ngân hàng B1. Ngày 26/1/2018 Ngân hàng đã chuyển nợ quá hạn đối với khoản vay.
9
Trong quá trình vay vốn ông Lê Như P và bà Nguyễn Thị N1 đã trả cho ngân hàng những khoản nợ gốc: 63.231.000 đồng. Tính đến ngày 20/11/2024 ông Lê Như P và bà Nguyễn Thị N1 nợ gốc là 988.889.999 đồng (Bằng chữ: Chín trăm tám mươi tám triệu, tám trăm tám mươi chín nghìn, chín trăm chín mươi chín đồng).
Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Căn cứ hợp đồng hợp đồng tín dụng từng lần khách hàng cá nhân số 0185/02217/TDTL-CN ngày 7/11/2017 Ngân hàng TMCP B1 có cấp tín dụng cho khách hàng là ông Lê Như P và bà Nguyễn Thị N1 với hạn mức 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng).
Căn cứ vào việc giải ngân của ngân hàng vào số tài khoản vay của ông Lê Như P và bà Nguyễn Thị N1 mở tại Ngân hàng TMCP B1, quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng.
Ngày 26/01/2018 ông Lê Như P và bà Nguyễn Thị N1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn.
Do vậy hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng đòi tiền nợ gốc đối với ông Lê Như P và bà Nguyễn Thị N1 với số tiền là là 988.889.999 đồng (bằng chữ: Chín trăm tám mươi tám triệu, tám trăm tám mươi chín nghìn, chín trăm chín mươi chín đồng).
2.4. Xét yêu cầu đề nghị Tòa án tính lãi quá hạn, trong hạn, lãi phạt chậm trả của ông Lê Như P và bà Nguyễn Thị N1 trong Hợp đồng tín dụng từng lần khách hàng cá nhân số 0185/02217/TDTL-CN ngày 7/11/2017 tính đến ngày 20/11/2024 cụ thể: lãi trong hạn: 632.782.937 đồng, lãi phạt chậm trả lãi: 230.062.412 đồng, lãi quá hạn: 292.459.186 đồng.
Hội đồng xét xử nhận thấy:
Căn cứ vào Hợp đồng tín dụng từng lần khách hàng cá nhân số 0185/02217/TDTL-CN ngày 7/11/2017, Giấy nhận nợ số 01/0185/02217/TDTL-CN ngày 27/11/2017 chi tiết như sau: Số tiền giải ngân: 1.000.000.000 đồng (bằng chữ: Một tỷ đồng), mục đích: Vay sửa nhà; Thời hạn vay 180 tháng (từ ngày 27/11/2017 đến ngày 29/11/2032); lãi suất cho vay: 10,5%/ năm trong 3 thàng đầu tiên kể từ ngày giải ngân của Ngân hàng thương mại cổ phần B1 với khách hàng là ông Lê Như P và bà Nguyễn Thị N1. Cách tính lãi: lãi suất cho vay mà ngân hàng B1 áp dụng đối với khoản vay lãi suất trong hạn được ghi trong giấy nhận nợ. Lãi suất quá hạn là mức lãi suất tối đa bằng 150% mức lãi suất trong hạn.
10
Hội đồng xét xử căn cứ vào hợp đồng tín dụng, giấy nhận nợ được ký kết giữa các bên và các văn bản để áp dụng việc tính lãi nêu trên do Ngân hàng TMCP B1 xuất trình, thấy việc Ngân hàng TMCP B1 tính lãi suất của số tiền gốc nêu trên theo đúng như hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng và các quy định của pháp luật về tính lãi suất. Do đó căn cứ vào khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng được sửa đổi, bổ sung năm 2010. Nghị quyết 01 /2017/ngày 20/12/2017 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng TMCP B1 buộc ông P, bà N1 phải thanh toán số tiền còn nợ Ngân hàng TMCP B1 số tiền lãi theo các hợp đồng tín dụng, tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 20/11/2024 cụ thể: lãi trong hạn: 632.782.937 đồng, lãi phạt chậm trả lãi: 230.062.412 đồng, lãi quá hạn: 292.459.186 đồng là có căn cứ nên được chấp nhận.
2.5. Xét yêu cầu đề nghị Tòa án buộc ông Lê Như P và bà Nguyễn Thị N1 theo hợp đồng tín dụng từng lần khách hàng cá nhân số 0186/02217/TDTL-CN ngày 7/11/2017 phải trả tiền gốc là 193.332.000 đồng.
Căn cứ căn cứ Hợp đồng tín dụng từng lần khách hàng cá nhân số 0186/02217/TDTL-CN ngày 7/11/2017, Ngân hàng TMCP B1 có cấp tín dụng cho khách hàng là ông Lê Như P và bà Nguyễn Thị N1 với hạn mức 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng); nhằm mục đích tiêu dùng cá nhân. Trong quá trình vay vốn, ông Lê Như P và bà Nguyễn Thị N1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên ngày 26/01/2018, Ngân hàng B1 đã ra thông báo thu hồi nợ trước hạn đối với toàn bộ nợ vay còn lại chưa thanh toán của ông Lê Như P và bà Nguyễn Thị N1 tại Ngân hàng B1. Ngày 26/1/2018 Ngân hàng đã chuyển nợ quá hạn đối với khoản vay.
Trong quá trình vay vốn ông Lê Như P và bà Nguyễn Thị N1 đã trả cho ngân hàng những khoản nợ gốc: 3.578.772 đồng. Tính đến ngày 28/10/2024 ông Lê Như P và bà Nguyễn Thị N1 nợ gốc là 193.332.000 đồng (bằng chữ: Một trăm chín mươi ba triệu, ba trăm ba mươi hai nghìn đồng).
Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Căn cứ hợp đồng hợp đồng tín dụng từng lần khách hàng cá nhân số 0186/02217/TDTL-CN ngày 7/11/2017 Ngân hàng TMCP B1 có cấp tín dụng cho khách hàng là ông Lê Như P và bà Nguyễn Thị N1 với hạn mức 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng).
Căn cứ vào việc giải ngân của ngân hàng vào số tài khoản vay của ông Lê Như P và bà Nguyễn Thị N1 mở tại Ngân hàng TMCP B1, quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng.
11
Ngày 26/01/2018 ông Lê Như P và bà Nguyễn Thị N1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn.
Do vậy hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng đòi tiền nợ gốc đối với ông Lê Như P và bà Nguyễn Thị N1 với số tiền là là 193.332.000 đồng (Bằng chữ: Một trăm chín mươi ba triệu, ba trăm ba mươi hai nghìn đồng).
2.6. Xét yêu cầu đề nghị Tòa án tính lãi của hợp đồng tín dụng từng lần khách hàng cá nhân số 0186/02217/TDTL-CN ngày 7/11/2017 đối với ông Lê Như P và bà Nguyễn Thị N1 tính đến ngày 20/11/2024 là lãi trong hạn: 57.698.801 đồng, lãi phạt chậm trả lãi: 29.573.250 đồng, lãi quá hạn: 157.818.482 đồng.
Hội đồng xét xử nhận thấy:
Giấy nhận nợ số 01/0186/02217/TDTL-CN ngày 27/11/2017 chi tiết như sau: Số tiền giải ngân: 200.000.000 đồng (bằng chữ: Hai trăm triệu đồng), mục đích: tiêu dùng cá nhân; Thời hạn vay 60 tháng (từ ngày 27/11/2017 đến ngày 29/11/2032); lãi suất cho vay: 10,98%/ năm trong 3 thàng đầu tiên kể từ ngày giải ngân của Ngân hàng thương mại cổ phần B1 với khách hàng là ông Lê Như P và bà Nguyễn Thị N1. Cách tính lãi: lãi suất cho vay mà ngân hàng B1 áp dụng đối với khoản vay lãi suất trong hạn được ghi trong giấy nhận nợ. Lãi suất quá hạn là mức lãi suất tối đa bằng 150% mức lãi suất trong hạn.
Hội đồng xét xử căn cứ vào hợp đồng tín dụng, giấy nhận nợ được ký kết giữa các bên và các văn bản để áp dụng việc tính lãi nêu trên do Ngân hàng TMCP B1 xuất trình, thấy việc Ngân hàng TMCP B1 tính lãi suất của số tiền gốc nêu trên theo đúng như hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng và các quy định của pháp luật về tính lãi suất. Do đó căn cứ vào Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng được sửa đổi, bổ sung năm 2010. Nghị quyết 01/2017/ngày 20/12/2017 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng TMCP B1 buộc ông P, bà N1 phải thanh toán số tiền còn nợ Ngân hàng TMCP B1 số tiền lãi theo các hợp đồng tín dụng, tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 28/10/2024 là lãi trong hạn: 57.698.801đồng, lãi phạt chậm trả lãi: 29.573.250 đồng, lãi quá hạn: 157.818. 482 đồng có căn cứ nên được chấp nhận.
Do vậy, tính đến ngày 20/11/2024, ông Lê Như P và bà Nguyễn Thị N1 còn nợ ngân hàng B1 các khoản sau: 2.582.617.067đồng (Bằng chữ: Hai tỷ, năm trăm tám mươi hai triệu, sáu trăm mười bảy nghìn, không trăm sáu bảy đồng). Cụ thể:
12
Hợp đồng tín dụng từng lần khách hàng cá nhân số 0185/02217/TDTL-CN ngày 7/11/2017 là nợ gốc: 988.889.999 đồng, lãi trong hạn: 632.782.937 đồng, lãi phạt chậm trả lãi: 230.062.412 đồng, lãi quá hạn: 292.459.186 đồng. Tổng cộng: 2.144.194.534 đồng.
Hợp đồng tín dụng từng lần khách hàng cá nhân số 0186/02217/TDTL-CN ngày 7/11/2017 là nợ gốc: 193.332.000 đồng, lãi trong hạn: 57.698.801 đồng, lãi phạt chậm trả lãi: 29.573.250 đồng, lãi quá hạn: 157.818. 482 đồng. Tổng cộng: 438.422.533 đồng.
3. Xét yêu cầu đề nghị Tòa án tuyên khi bản án có hiệu lực pháp luật, ông P, bà N1 không thanh toán trả cho Ngân hàng TMCP B1 nợ gốc và nợ lãi thì Ngân hàng TMCP B1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án kê biên, phát mại tài sản bảo đảm để thi hành án. Hội đồng xét xử thấy: Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất ngày 07/11/2017 số công chứng 2330.217/HĐTC quyển số 04/TP/CC-SCC/HĐGD được công chứng tại văn phòng C1 (thành phố Hà Nội) chứng nhận, đăng ký thế chấp tại văn phòng Đ1 - chi nhánh quận H ngày Ngày 20/8/2015 giữa bên Ngân hàng TMCP B1 và ông L, ông P.
Theo Hợp đồng thế chấp, văn bản thỏa thuận nói trên ông P, ông L đã thế chấp tài sản của mình là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 17(4), tờ bản đồ số: 30, địa chỉ: phường T, quận H, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BU 694281 số vào sổ cấp GCN: CH01900/HĐ:2841/721 do Ủy ban nhân dân quận H, Thành phố Hà Nội cấp ngày 21/8/2014. Ngày 20/8/2015 Văn phòng Đ1 - Chi nhánh quận H đã đăng ký sang tên cho ông Lê Như P và Lê Như L theo hồ sơ số 822 ngày 04/08/2015 căn cứ theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất ngày 7/11/2017 số công chứng 2330.217/HĐTC quyển số 04/TP/CC-SCC/HĐGD được công chứng tại văn phòng C1 (thành phố Hà Nội) chứng nhận để bảo đảm cho khoản vay của ông P, bà N1 theo Hợp đồng tín dụng nói trên. Hợp đồng thế chấp tài sản nói trên được các bên ký kết tại Văn phòng C1 và được công chứng viên xác nhận các bên ký kết Hợp đồng thế chấp trong tình trạng tỉnh táo, hoàn toàn minh mẫn không bị ai ép buộc hay lừa rối, việc ký kết là hoàn toàn tự nguyện không trái các quy định của pháp luật và đã được ông P, ông L đăng ký giao dịch bảo đảm đối với tài sản thế chấp và đã được Văn phòng đăng ký đất đai Hà Nội quận H chứng nhận việc thế chấp ngày 17/11/2017. Như vậy có đủ căn cứ để xác nhận hợp đồng thế chấp nêu trên có giá trị pháp lí. Vì vậy yêu cầu của Ngân hàng TMCP B1 đề nghị Tòa án tuyên khi án có hiệu lực pháp luật mà ông P, bà N1 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ thì Ngân hàng TMCP B1 có quyền yêu cầu
13
cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm để đảm bảo thi hành án là có căn cứ nên được chấp nhận.
4. Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP B1 được chấp nhận, vì vậy Ngân hàng TMCP B1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; Được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp; Bị đơn là ông Lê Như P và bà Nguyễn Thị N1 phải chịu án dân sự sơ thẩm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Vì các lẽ trên!
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: khoản 3 Điều 26; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 184; Điều 217, điều 218 điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ: Điều 335, Điều 429, Bộ luật dân sự 2015;
Căn cứ: Điều 397; Điều 398; Điều 399; Điều 400; Điều 401 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 91; Điều 95 Luật tổ chức tín dụng (Đã được sửa đổi bổ sung năm 2010);
Căn cứ vào mục 3 phần I thông tư liên tịch số 01/1997/TTLT ngày 19/6/1997 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp và Bộ T2 hướng dẫn việc xét xử thi hành án về tài sản;
Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về “Giao dịch bảo đảm”;
Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22 tháng 02 năm 2012 về việc sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 163/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP B1 đối với ông Lê Như P và bà Nguyễn Thị N1.
14
Buộc ông ông Lê Như P và bà Nguyễn Thị N1 phải thanh toán trả cho Ngân hàng TMCP B1 số tiền tính đến gày 20/11/2024 là 2.582.617.067 đồng (Bằng chữ: Hai tỷ, năm trăm tám mươi hai triệu, sáu trăm mười bảy nghìn, không trăm sáu bảy đồng). Cụ thể:
Hợp đồng tín dụng từng lần khách hàng cá nhân số 0185/02217/TDTL-CN ngày 07/11/2017 là nợ gốc: 988.889.999 đồng, lãi trong hạn: 632.782.937 đồng, lãi phạt chậm trả lãi: 230.062.412 đồng, lãi quá hạn: 292.459.186 đồng. Tổng cộng: 2.144.194.534 đồng.
Hợp đồng tín dụng từng lần khách hàng cá nhân số 0186/02217/TDTL-CN ngày 07/11/2017là nợ gốc: 193.332.000 đồng, lãi trong hạn: 57.698.801đồng, lãi phạt chậm trả lãi: 29.573.250 đồng, lãi quá hạn: 157.818.482 đồng. Tổng cộng: 438.422.533 đồng.
2. Trong trường hợp ông Lê Như P và bà Nguyễn Thị N1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trên đối với Ngân hàng TMCP B1, Ngân hàng TMCP B1 có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mại tài sản bảo đảm sau để thu hồi nợ:
- * Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số: 17(4), tờ bản đồ số: 30, địa chỉ: phường T, quận H, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BU 694281số vào sổ cấp GCN: CH01900/HĐ:2841/721 do Ủy ban nhân dân quận H, Thành phố Hà Nội cấp ngày 21/8/2014. Ngày 20/8/2015 Văn phòng Đ- chi nhánh quận H đã đăng ký sang tên cho ông Lê Như P và Lê Như L theo hồ sơ số 822 ngày 04/08/2015 căn cứ theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất ngày 07/11/2017 số công chứng 2330.217/HĐTC quyển số 04/TP/CC-SCC/HĐGD được công chứng tại văn phòng C1 (thành phố Hà Nội).
3. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm ông Lê Như P và bà Nguyễn Thị N1 phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thi hành xong khoản nợ gốc. Trường hợp hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc
15
bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
4. Về án phí: ông Lê Như P và bà Nguyễn Thị N1 phải chịu 53.478.512 đồng (Bằng chữ: năm mươi ba triệu, bốn trăm bẩy mươi tám nghìn, năm trăm mười hai đồng) án phí dân sự sơ thẩm (cha nộp).
- Hoàn trả: Ngân hàng TMCP B1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 36.000.000 đồng tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0033790 ngày 20/05/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hoàng Mai.
5. Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn là Ngân hàng TMCP B1 có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn là ông Lê Như P và bà Nguyễn Thị N1 có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày niêm yết hoặc tống đạt hợp lệ bản án.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án là ông Lê Như L, bà Nguyễn Thị L1 có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày niêm yết hoặc tống đạt hợp lệ bản án.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Quách Mạnh Thành |
16
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
17
18
Bản án số 78/2024/DS -ST ngày 20/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 78/2024/DS -ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chap HDTD
