Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 78/2024/HS-ST

Ngày: 24 - 10 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Huy Biên.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Lâm Giang.
  2. Ông Trần Văn Thiện.

- Thư ký phiên toà: Bà Đồng Khánh Ly, Thư ký Toà án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên tham gia phiên tòa:

Ông Ngô Văn Tuấn, Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 10 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 76/2024/TLST- HS ngày 02 tháng 10 năm 2024 theo, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 215/2024/QĐXXST-HS ngày 7 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Lê Văn M, sinh năm 1980, tại huyện P, tỉnh Thái Nguyên; nơi cư trú: Thôn P, xã D, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Xuân M1 và bà Trương Thị P; vợ Nguyễn Thị N và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: tại Bản án số: 36/2012/HSST ngày 09/5/2012 của Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên xử phạt Lê Văn M 18 tháng cải tạo không giam giữ, phạt bổ sung 5.000.000 đồng, án phí 200.000 đồng. Chấp hành xong hình phạt chính ngày 26/11/2013, chấp hành xong hình phạt bổ sung và án phí ngày 24/8/2012. Tại quyết định xử phạt hành chính số: 0028647/QĐ-XPHC ngày 06/11/2020 về hành vi đánh bạc số tiền 1.500.000 đồng đối với Lê Văn M, nộp phạt ngày 09/11/2020; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/7/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Bắc Giang, có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1984; nơi cư trú: Thôn P, xã D, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, có mặt.

Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1985, vắng mặt; anh Hoàng Văn S, sinh năm 1989, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 15 phút ngày 06/7/2024, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự, kinh tế và ma túy Công an huyện T phối hợp Công an xã P tuần tra tại đoạn đường thôn C, xã P phát hiện bắt quả tang Lê Văn M đang có hành vi cầm 01 (một) gói giấy bạc có hai mặt màu trắng bạc, bên trong đựng chất cục bột màu trắng nghi là ma túy. Tiến hành kiểm tra người phát hiện trong túi quần phía trước bên phải M đang mặc có 01 (một) gói giấy bạc có hai mặt màu trắng bạc, bên trong đựng chất cục bột màu trắng nghi là ma túy. Cơ quan điều tra tiến hành lập biên bản quả tang và thu giữ vật chứng gồm:

  • + 01 (một) gói giấy bạc, có hai mặt màu trắng bạc, bên trong chứa chất cục bột màu trắng nghi là ma túy, được thu giữ tại tay trái Lê Văn M đang cầm khi bị bắt; 01 (một) gói giấy bạc, có hai mặt màu trắng bạc, bên trong chứa chất cục bột màu trắng, nghi là ma túy, được thu giữ tại túi quần phía trước bên phải của M đang mặc khi bị bắt. Tất cả số vật chứng trên được niêm phong trong phong bì thư được kí hiệu “QT M".
  • + Số tiền 1.480.000 đồng (một triệu bốn trăm tám mươi nghìn) gồm: 06 (sáu) tờ tiền polime mệnh giá 200.000 đồng; 02 (hai) tờ tiền polime mệnh giá 100.000 đồng; 01 (một) tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng; 01 (một) tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng; 01 (một) tờ tiền polime mệnh giá 10.000 đồng, được phát hiện và thu giữ tại túi quần phía sau bên phải của Lê Văn M đang mặc. Số tiền trên được niêm phong trong phong bì thư có kí hiệu “Tiền Mạnh”.
  • + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen, đã qua sử dụng, có số IMEI1: 864738043311653, IMEI2: 864738043311646, lắp sim số: 0982.150.245 và 0879.656.889. Điện thoại trên được niêm phong trong phong bì thư kí hiệu “ĐT M”
  • + 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu xanh-đen đã qua sử dụng, biển kiểm soát 20G1-626.19, số khung: RLHJK0313NY035224, số máy: JK03E-0658610 (xe đã tiến hành kiểm tra, không phát hiện đồ vật, tài liệu gì liên quan).

Tại Cơ quan điều tra Lê Văn M khai nhận: Khoảng 07 giờ ngày 06/07/2024, M từ nhà điều khiển xe Vision biển kiểm soát 20G1-626.19 đi đến khu vực Cầu C thuộc huyện P, tỉnh Thái Nguyên để mua ma túy. Tại đây, M gặp người đàn ông tên C1 (khoảng 50 tuổi, cao khoảng 1,7m, đậm người da ngăm đen). M hỏi C1 mua 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng) tiền H, M đưa cho C1 02 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng), C1 đưa lại cho M 02 gói giấy bạc có hai mặt màu trắng bạc, bên trong chứa chất cục bột màu trắng là H. M đút 01 gói ma túy vào túi quần bên phải phía trước và 01 gói cầm ở tay trái mang đi tìm chỗ để sử dụng. M điều khiển xe môtô đi đến địa phận thôn C, xã P, huyện T gặp Nguyễn Văn C và nói chuyện với C cùng lúc đó bị Công an huyện T bắt quả tang và thu giữ ở bên tay trái M 01 gói giấy bạc, có hai mặt màu trắng bạc, bên trong chứa chất cục bột màu trắng, thu giữ tại túi quần bên phải phía trước gói giấy bạc, có hai mặt màu trắng bạc bên trong chứa chất cục bột màu trắng, M cho biết chất cục bột bên trong 02 gói giấy bạc là ma túy mua về để sử dụng.

Cơ quan điều tra đã test ma túy, kết quả Lê Văn M dương tính với chất ma túy, M khai: Ngày 5/7/2024 M đến khu vực Cầu C, huyện P mua 200.000 đồng tiền ma túy của C1, sau đó mang số ma túy mua được về thôn P, xã D, huyện P, tỉnh Thái Nguyên sử dụng hết.

Cùng ngày 06/7/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện T ra lệnh khám xét khẩn cấp đối với nơi ở của Lê Văn M tại thôn P, xã D, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Quá trình khám xét khẩn cấp không phát hiện, không thu giữ được vật gì. Cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm tra điện thoại của M bị thu giữ. Kết quả: Không phát hiện được nội dung liên quan đến hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Ngày 06/7/20224 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Bắc Giang có quyết định Trưng cầu Phòng K Công an tỉnh B giám định mẫu vật được niêm phong trong phong bì ký hiệu “QT M” có phải là chất ma túy không? Loại chất ma túy gì? Có khối lượng là bao nhiêu?

Tại Kết luận giám định số: 1514/KL-KTHS ngày 11/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:

  • - Trong 01 (một) phong bì có ký hiệu “QTMạnh” đã được niêm phong gửi giám định: Chất cục bột màu trắng đựng trong 02 (hai) gói giấy bạc có hai mặt màu trắng bạc đều là ma tuý, loại Heroine (H) tổng khối lượng 0,77gam:

Tại bản cáo trạng số: 73/CT-VKS ngày 01/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên truy tố bị cáo Lê Văn M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 và khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Văn M từ 01 (một) năm 02 (hai) tháng đến 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 06/7/2024.

Phạt bổ sung bị cáo Lê Văn M số tiền 5.000.000 đồng sung công quỹ Nhà nước.

Trả lại bị cáo số tiền 1.480.000 đồng và chiếc điện thoại OPPO màu đen số IMEI1: 864738043311653, IMEI2: 864738043311646, lắp sim số: 0982.150.245 và 0879.656.889, nhưng tạm để đảm bảo thi hành án.

Về vật chứng, án phí đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Lê Văn M thừa nhận Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, xử phạt bị cáo mức án thấp nhất theo quy định của pháp luật

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Hội đồng xét xử kết luận hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều đúng quy định và hợp pháp.
  2. [2] Về việc người tham gia tố tụng vắng mặt: Các nhân chứng Nguyễn Văn C, Hoàng Văn S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt. Xét thấy họ có đầy đủ lời khai trong hồ sơ, việc vắng mặt của những người trên không làm ảnh hưởng tới sự thật khách quan của vụ án, căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
  3. [3] Tại phiên tòa bị cáo Lê Văn M thành khẩn khai báo, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của các nhân chứng, vật chứng thu giữ được và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 08 giờ 15 phút ngày 06/7/2024 Đội cảnh sát điều tra tội phạm hình sự, kinh tế và ma túy Công an huyện T và Công an xã P phát hiện bị cáo Lê Văn M có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, bị cáo khai báo chất cục bột màu trắng là ma túy Heroine, bị cáo tàng trữ 0,77 gam ma túy Heroin mục đích để sử dụng. Với hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
  4. [4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến việc quản lý độc quyền các chất ma tuý của Nhà nước, bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Người nghiện ma túy kéo dài sẽ bị suy kiệt sức khỏe nghiêm trọng; khi lên cơn nghiện, người nghiện ma túy không làm chủ được hành vi, có thể gây nguy hiểm cho người khác và xã hội; người sử dụng ma túy còn nguy hiểm đến tính mạng của bản thân, có nguy cơ lây lan căn bệnh thế kỷ HIV-AIDS; tệ nạn ma túy còn là mầm mống phát sinh ra nhiều loại tội phạm khác. Nhà nước ta hàng năm đều tuyên truyền rộng rãi về tác hại của chất ma túy, thế nhưng bị cáo không tiếp thu mà dấn thân vào con đường nghiện ngập, chứng tỏ bị cáo rất coi thường kỷ cương pháp luật, coi thường tính mạng, sức khỏe của chính bản thân bị cáo và của cộng đồng. Vì vậy cần thiết phải xử phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo là đúng với chính sách xử lý của pháp luật hình sự Nhà nước ta.
  5. [5] Xét về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy: Bị cáo là người có nhân thân xấu đã bị Toà án xét xử về tội đánh bạc và bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà hôm nay bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, bị cáo có bố được tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Từ những phân tích trên, đánh giá về nhân thân, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn một thời gian để cách ly bị cáo, mới có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ý thức chấp hành pháp luật và sống có ích cho xã hội.

Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 500 triệu đồng. Xét thấy cần áp dụng hình phạt bổ sung, buộc bị cáo phải chịu hình phạt bổ sung ở mức khởi điểm là phù hợp, phạt bổ sung bị cáo 5.000.000 đồng sung vào công quỹ Nhà nước.

  1. [6] Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu xanh-đen, biển kiểm soát 20G1-626.19, số khung: RLHJK0313NY035224, số máy: JK03E-0658610 đăng ký tên Nguyễn Thị N. Bà N và bị cáo đều xác định đây là tài sản riêng của bà N số tiền mua xe do bố mẹ cho bà N tiền mua chiếc xe máy trên, khi bị cáo đi xe thì bà N không biết. Do vậy cần trả lại cho bà N 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu xanh-đen, biển kiểm soát 20G1-626.19, số khung: RLHJK0313NY035224, số máy: JK03E-0658610; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 20000100, biển số đăng ký 20G1-626.19 tên chủ xe Nguyễn Thị N.

Đối với người đàn ông tên C1 khoảng hơn 50 tuổi ở khu vực Cầu C, xã K, huyện P, tỉnh Thái Nguyên bán ma túy cho bị cáo, Cơ quan điều tra đã xác minh và rà soát camera khu vực trên, đồng thời có công văn số: 1517 gửi UBND xã K và Công an xã K, huyện P, tỉnh Thái Nguyên về việc phát động toàn dân tham gia tố giác tội phạm nhưng đến nay không phát hiện được người đàn ông nêu trên nên không có căn cứ, xử lý.

Đối với hành vi bị cáo sử dụng ma tuý ngày 05/7/2024, Cơ quan điều tra Công an huyện T đã chuyển tài liệu đến Công an huyện P để xử phạt hành chính là đúng theo quy định.

  1. [7] Đối với số tiền 1.480.000 đồng (một triệu bốn trăm tám mươi nghìn đồng); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen, đã qua sử dụng, có số IMEI1: 864738043311653, IMEI2: 864738043311646, lắp sim số: 0982.150.245 và 0879.656.889 là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
  2. [8] Về vật chứng của vụ án:
  • - 01 phong bì thư có ký hiệu “QT Mạnh” có: 02 (hai) gói giấy bạc hai mặt màu trắng bạc, bên trong chứa chất cục bột màu trắng đều là ma tuý loại Heroine (H), tổng khối lượng sau giám định là 0,701 gam, vật chứng thu giữ khi bắt quả tang là chất ma túy, vật cấm lưu hành cần tịch thu tiêu huỷ.
  1. [9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
  2. [10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 và khoản 5 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự. Điểm a khoản 2 và điểm a, b khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử phạt bị cáo Lê Văn M 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 06/7/2024.

Phạt bổ sung cáo Lê Văn M số tiền 5.000.000 đồng.

  1. Về tang vật vụ án:
  • - Trả bà Nguyễn Thị N 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu xanh-đen, biển kiểm soát 20G1-626.19, số khung: RLHJK0313NY035224, số máy: JK03E-0658610; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 20000100, biển số đăng ký 20G1-626.19 tên chủ xe Nguyễn Thị N.
  • Trả bị cáo Lê Văn M số tiền 1.480.000 đồng (một triệu, bốn trăm tám mươi nghìn đồng); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen, đã qua sử dụng, có số IMEI1: 864738043311653, IMEI2: 864738043311646, lắp sim số: 0982.150.245 và 0879.656.889. Nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
  1. Về vật chứng:
  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì thư có ký hiệu “QT Mạnh” có: 02 (hai) gói giấy bạc hai mặt màu trắng bạc, bên trong chứa chất cục bột màu trắng đều là ma tuý loại Heroine (H), tổng khối lượng 0,701 gam.

(Vật chứng của vụ án như trong Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Yên.

  1. Về án phí: Buộc bị cáo Lê Văn M phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  2. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Tân Yên;
  • - Công an huyện Tân Yên;
  • - Chi cục THADS huyện Tân Yên;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Huy Biên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 78/2024/HS-ST ngày 24/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 78/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Văn M tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger