Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN ND HUYỆN TRIỆU SƠN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 78/2024/HS-ST

Ngày 23 - 10 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU SƠN- THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Mạnh Hùng và bà Ngô Thị Minh

Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Nguyễn Bảo Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 10 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 57/2024/HSST ngày 01 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 71/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Trần Quốc L- Sinh 10 tháng 10 năm 2005; nơi sinh: Huyện T, tỉnh Thanh Hóa;

nơi cư trú: Thôn B, xã N, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; số CCCD [...]; con ông Trần Quốc H và bà Nguyễn Thị H1; chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị can bị bắt tạm giam kể từ ngày 20/6/2024. Hiện đang tạm giam tại Trại Tạm giam Công an tỉnh T.

- Người làm chứng:

  1. Chị Vũ Thị D, sinh năm 1985, vắng mặt.
  2. Anh Hoàng Văn D1, sinh năm 2003, vắng mặt.
  3. Địa chỉ: Thôn Vĩnh Thọ, xã An Nông, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa

  4. Anh Đào Huy T, sinh năm 2003, vắng mặt
  5. Địa chỉ: Thôn B, xã N, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 18/6/2024, chị Vũ Thị D (Là mẹ ruột của anh Hoàng Văn D1) làm đơn tố giác Trần Quốc L đã rủ rê, lôi kéo và tổ chức cho: Hoàng Văn D1, sinh năm 2003 ở xã A và Đào Huy T, sinh năm 2003, ở xã N, huyện T, tỉnh Thanh Hóa trốn sang Campuchia lao động gửi đến Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh T. Cùng ngày, Trần Quốc L đã có đơn xin đầu thú và khai nhận:

Khoảng đầu tháng 3/2023, do có nhu cầu tìm việc làm, Trần Quốc L lên mạng xã hội facebook tìm kiếm việc làm và quen biết với một tài khoản của người có tên T1 (L không xác định được địa chỉ cụ thể của T1) đăng các bài viết tuyển người sang Campuchia làm “việc nhẹ, lương cao", mọi chi phí sẽ được phía công ty tại Campuchia bao trọn gói, mức lương mỗi tháng từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng và sẽ đi bằng con đường tiểu ngạch (vượt biên trái phép). L đồng ý và đã được T1 tổ chức cho trốn sang Campuchia lao động trong một khu nhà khép kín, tại tỉnh Sihanouk, Campuchia với công việc là sử dụng mạng xã hội để tìm kiếm, rủ rê mọi người trốn sang Campuchia lao động. Trong thời gian làm việc ở Campuchia, Trần Quốc L đã cùng với T1, hai lần tổ chức cho người khác trốn sang Campuchia lao động, cụ thể:

Lần thứ nhất: Khoảng tháng 9/2023, Trần Quốc L sử dụng Facebook “Tran Lương” nhắn tin với anh Đào Huy T (là người cùng thôn với L) rủ T sang Campuchia lao động, công việc làm trên máy tính, thời gian làm việc mỗi ngày 15 tiếng, mức lương mỗi tháng từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng, không mất chi phí xuất nhập cảnh. T đồng ý đi sang Campuchia, L đã yêu cầu T chụp hình căn cước công dân gửi qua ứng dụng messenger và gửi T1 (người đã đưa L trốn sang Campuchia) đặt vé máy bay cho T bay từ sân bay T vào thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 15/9/2023, T bay vào thành phố Hồ Chí Minh thì được L hướng dẫn bắt xe ôm đi đến bến xe miền T, đi xe ô tô khách đến thành phố C, tỉnh An Giang, sau đó đi xe ôm đến khu vực cửa khẩu K, thuộc tỉnh An Giang. Theo hướng dẫn của L, ngày 16/9/2023, T đi đến khu vực cửa khẩu K và được người của Trọng đón, đưa trốn sang Campuchia lao động cùng nơi với L. Mọi chi phí trên đường đi, T không phải chi trả mà do T1 chuyển tiền qua tài khoản thanh toán.

Lần thứ hai: Khoảng tháng 10/2023, L biết Hoàng Văn D1 (là bạn của T), sinh năm 2003, ở xã A, huyện T có nhu cầu tìm việc làm nên đã nhắn tin qua tài khoản facebook của D1 để dụ dỗ, lôi kéo D1 trốn sang Campuchia lao động như đã nói với T. D1 đồng ý và chụp hình căn cước công dân gửi qua messenger cho L để đưa cho T1 đặt vé máy bay. Khi đến D1 vào đến thành phố Hồ Chí Minh được L hướng dẫn bắt xe đi đến bến xe miền T bắt xe ô tô khách đến thành phố C, tỉnh An Giang, rồi đi xe ôm đến khu vực cửa khẩu K, thuộc tỉnh An Giang sẽ có người đón. Đồng thời, L nói T1 chuyển tiền 1.000.000 đồng cho D1 chi phí đi đường. Theo hướng dẫn của L, D1 đi đến khu vực cửa khẩu K và được người của Trọng đón, đưa trốn sang

Campuchia đến chỗ L làm việc. Sau khi tổ chức đưa Đào Huy T và Hoàng Văn D1 trốn sang Campuchia, L được T1 cho tổng số tiền là 4.800.000 đồng. Số tiền này L đã đưa lại cho lại T và D1 sử dụng chi tiêu cá nhân hết.

Ngày 15/6/2024, anh Hoàng Văn D1 và anh Đào Huy T trốn về Việt Nam qua khu vực cửa khẩu K, bị lực lượng Biên phòng của đồn Biên phòng L1 phát hiện và xử phạt vi phạm hành chính về hành vi qua lại biên giới quốc gia mà không làm thủ tục xuất cảnh theo quy định của pháp luật.

Về đối tượng tên T1 và các đối tượng cùng với Trần Quốc L tổ chức, hướng dẫn, đón, đưa Hoàng Văn D1 và Đào Huy T trốn sang Campuchia, do L không biết thông tin về nhân thân của những người này nên Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh T không thể điều tra xác minh để xử lý trong vụ án này.

Về đối tượng chuyển 1.000.000 đồng từ tài khoản số tài khoản 22325555568 của Ngân hàng TMCP V đến tải khoản số 5820171122001 của D1 ngày 07/10/2023, Trần Quốc L khai là của Trọng chuyển để D1 lấy tiền chi phí đi trên đường, Cơ quan an ninh điều tra đã xác minh chủ tài khoản là Lại Anh T2, địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa nhưng hiện nay T2 không có mặt tại địa phương. Do đó, Cơ quan an ninh điều tra đã tách tài liệu đối với Lại Anh Tuấn để tiếp tục xác minh làm rõ, khi có đủ căn cứ sẽ xử lý trong một vụ án khác.

Về đối tượng đã tổ chức cho T xuất nhập từ Campuchia về Việt Nam hồi tháng 12/2023. Sau khi T được L tổ chức trốn sang Campuchia, đến tháng 3/2024 T lại được đối tượng này tổ chức trốn sang Campuchia, do chỉ có lời khai của Đào Huy T không có thông tin gì khác nên Cơ quan An ninh điều tra không thể điều tra xác minh để xử lý trong vụ án này.

Đối với bị can Trần Quốc L, ngoài hành vi tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài thì L còn có hành vi qua lại biên giới quốc gia mà không làm thủ tục xuất cảnh theo quy định của pháp luật chưa bị xử lý. Vì vậy, Cơ quan An ninh điều tra chuyển tài liệu có liên quan đến hành vi qua lại biên giới quốc gia mà không làm thủ tục xuất cảnh theo quy định của pháp luật của Trần Quốc L đến cơ quan Công an huyện T xử lý hành chính theo quy định.

Bản cáo trạng số 66/CT-VKS-TS ngày 25 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa truy tố Trần Quốc L về tội “Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài” theo điểm b khoản 2 Điều 349 BLHS. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa ban hành Quyết định phân công Viện kiểm sát cấp dưới thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử sơ thẩm vụ án hình sự số 14/QĐ-VKS-P1 ngày 25/9/2024 phân công Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử đối với vụ án Trần Quốc L.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị HĐXX tuyên bố Trần Quốc L phạm tội “Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài”; áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 349, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, 91,101 BLHS xử phạt bị cáo Trần Quốc L từ 5 năm đến 5 năm 6 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Quốc L khai nhận đã thực hiện hành vi như nội dung bản Cáo trạng truy tố, không có ý kiến gì tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đều thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và điều luật áp dụng: Tại phiên tòa, bị cáo Trần Quốc L đã khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung bản Cáo trạng, lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Trong khoảng thời gian lao động tại Campuchia, Trần Quốc L đã liên lạc qua Messenger rủ rê, lôi kéo Đào Huy T và Hoàng Văn D1 trốn sang Campuchia với lời hứa hẹn “việc nhẹ, lương cao”, không mất chi phí đi, không phải làm thủ tục nhập cảnh, công việc làm trên máy tính, thời gian làm việc mỗi ngày 15 tiếng, lương tháng khoảng 20.000.000đ đến 30.000.000đ. Khi T và D1 đồng ý, L cùng với T1 hai lần hướng dẫn và tổ chức cho hai công dân này đi vào thành phố Hồ Chí Minh bằng máy bay, sau đó hướng dẫn bắt xe ôm đến bến xe miền T, đi xe ô tô khách đến thành phố C, tỉnh An Giang và tiếp tục đi xe ôm đến khu vực cửa khẩu K, thuộc tỉnh An Giang thì có người đón, đưa vượt biên trái phép sang Campuchia. Trong đó, lần thứ nhất vào tháng 9/2023, tổ chức cho Đào Huy T, lần thứ hai vào tháng 10/2023, tổ chức cho Hoàng Văn D1 trốn sang Campuchia. Sau khi, T và D1 đã đến Campuchia và ký hợp đồng lao động với công ty, L đã được T1 cho tổng số tiền là 4.800.000đ (Bốn triệu

tám trăm nghìn đồng). Số tiền này L đã đưa lại cho lại T và D1 sử dụng chi tiêu cá nhân hết.

Hành vi của bị cáo Trần Quốc L đã phạm vào tội “Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 349 BLHS. Vì vậy, Bản cáo trạng và lời luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn truy tố hành vi phạm tội của bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất vụ án, tính chất của hành vi phạm tội: Tính chất vụ án là rất nghiêm trọng. Tính chất hành vi phạm của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính trong lĩnh vực xuất cảnh, cũng như gây ảnh hưởng xấu đến an ninh đối ngoại của Nhà nước. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là: Thành khẩn khai báo, đầu thú, có bố bị bệnh tâm thần đang được hưởng chế độ trợ cấp xã hội là những tình tiết giảm nhẹ quy định điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51BLHS.

Về nhân thân: Bị cáo Trần Quốc L có nhân thân tốt, phạm tội lầu đầu vào ngày 15/9/2023 khi bị cáo chưa đủ 18 tuổi. Do đó, cần phải xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo và áp dụng chương XII Bộ luật hình sự quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội để lên mức hình phạt phù hợp cho bị cáo. Do bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng nên cần phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có khả năng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

[5] Về hình phạt bổ sung: Trần Quốc L không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Căn cứ vào: Điểm b khoản 2 Điều 349, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, 91,101 Bộ luật hình sự.

- Tuyên bố: Bị cáo Trần Quốc L phạm tội: “Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài".

- Xử phạt: Trần Quốc L 5 (Năm) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam (Ngày 20/6/2024).

[2]. Áp dụng: Khoản 2 Điều 136, các Điều 331, 333 BLTTHS; Khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Về án phí: Buộc Trần Quốc L phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • -TAND T. Thanh Hóa;
  • -VKSND T. Thanh Hóa;
  • -VKSND Triệu Sơn;
  • -Công an Triệu Sơn;
  • -Chi cục THA. Triệu Sơn;
  • -Bị cáo;
  • -Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Thu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 78/2024/HS-ST ngày 23/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU SƠN, TỈNH THANH HÓA về tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài

  • Số bản án: 78/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU SƠN, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: vụ án đưa người khác trốn đi nước ngoài Trần Quốc Lương
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger