|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 78 /2024/HS-ST |
Ngày: 30-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ - TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Vũ Huy Hùng.
- - Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Văn Giầu – Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh thành phố Uông Bí.
- Ông Phan Tuấn Anh - Cán bộ nghỉ hưu.
- - Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thị Mây - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Viết Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại phòng xử án Toà án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 67/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2024/QĐXXST- HS ngày 16 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:
-
Họ và tên: Đinh Thế N, tên gọi khác: không có; sinh ngày: 25/9/2006 tại U, Quảng Ninh (khi phạm tội 16 tuổi 07 tháng 07 ngày). Nơi cư trú: tổ B, khu H, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: học sinh; trình độ văn hoá: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn T và bà Vũ Thị N1; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh”, hiện tại ngoại nơi cư trú, có mặt tại phiên toà.
-
Họ và tên: Bùi Văn T1, tên gọi khác: không có; sinh ngày: 11/01/2007 tại U, Quảng Ninh (khi phạm tội 16 tuổi 03 tháng 21 ngày). Nơi cư trú: tổ C, khu H, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn T2 và bà Bùi Thị P; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh”, hiện tại ngoại nơi cư trú, có mặt tại phiên toà.
-
Họ và tên: Vũ Đình Đ, tên gọi khác: không có; sinh ngày: 02/02/2008 tại U, Quảng Ninh (khi phạm tội 15 tuổi 03 tháng). Nơi cư trú: tổ B, khu H, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: học sinh; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Đình Đ1 và bà Phạm Thị Thu P1; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh”, hiện tại ngoại nơi cư trú, có mặt tại phiên toà.
-
Họ và tên: Phạm Hải Đ2, tên gọi khác: không có; sinh ngày: 11/8/2004 tại U, Quảng Ninh. Nơi cư trú: tổ E, khu C, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Hải Q và bà Nguyễn Thị T3; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh”, hiện tại ngoại nơi cư trú, có mặt tại phiên toà.
-
Họ và tên: Vũ Huy H, tên gọi khác: không có; sinh ngày: 12/12/2005 tại U, Quảng Ninh (khi phạm tội 17 tuổi 04 tháng 20 ngày). Nơi cư trú: tổ A, khu H, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Quốc B và bà Đinh Thị H1; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh”, hiện tại ngoại nơi cư trú, có mặt tại phiên toà.
-
Họ và tên: Lê Văn T4, tên gọi khác: không có; sinh ngày: 19/5/2007 tại U, Quảng Ninh (khi phạm tội 15 tuổi 11 tháng 13 ngày). Nơi cư trú: tổ B, khu H, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: học sinh; trình độ văn hoá: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T5 và bà Phạm Thị N2; vợ, con: chưa có; tiền án: Ngày 11/6/2024 bị Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử phạt 20 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự; ngày 17/6/2024 bị cáo có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt đến ngày 27/8/2024 bị cáo có đơn xin rút toàn bộ kháng cáo; ngày 27/8/2024 Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng ban hành Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm số: 117/2024/HSPT-QĐ; tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh”, hiện tại ngoại nơi cư trú, có mặt tại phiên toà.
-
Họ và tên: Phạm Mạnh C, tên gọi khác: không có; sinh ngày: 21/10/2007 tại U, Quảng Ninh (khi phạm tội 15 tuổi 06 tháng 11 ngày). Nơi cư trú: tổ A, khu H, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn B1 (đã chết) và bà Phạm Thị T6; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giam ngày 03/6/2024 hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, có mặt tại phiên toà.
-
Họ và tên: Vũ Hải A, tên gọi khác: không có; sinh ngày: 04/02/2003 tại U, Quảng Ninh. Nơi ĐKHKTT: tổ A, khu I, phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nơi tạm trú: tổ B, khu C, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn C1 và bà Nguyễn Thị C2; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh”, hiện tại ngoại nơi cư trú, có mặt tại phiên toà.
-
Họ và tên: Đoàn Văn H2, tên gọi khác: không có; sinh ngày: 25/5/2003 tại U, Quảng Ninh. Nơi cư trú: tổ A, khu H, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Văn P2 và bà Lê Thị C3; vợ, con: chưa có; tiền án: Ngày 08/8/2024 bị Toà án nhân dân thị xã Đông Triều xử phạt 25 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”; tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giam ngày 20/3/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, vắng mặt tại phiên toà (có đơn xin xử án vắng mặt).
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo:
-
Người đại diện hợp pháp đồng thời là người bào chữa cho bị cáo Đinh Thế N: Bà Vũ Thị N1 (mẹ đẻ của bị cáo N); địa chỉ: tổ B, khu H, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, có mặt tại phiên toà.
-
Người đại diện hợp pháp và đồng thời là người bào chữa cho bị cáo Bùi Văn T1: Bà Bùi Thị P (mẹ đẻ của bị cáo T1); địa chỉ: tổ C, khu H, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, có mặt tại phiên toà.
-
Người đại diện hợp pháp và đồng thời là người bào chữa cho bị cáo Vũ Đình Đ: Ông Vũ Đình Đ1 (bố đẻ của bị cáo Đ); địa chỉ: tổ B, khu H, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, có mặt tại phiên toà.
-
Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Phạm Mạnh C: Chị Phạm Thị T7 (chị ruột của bị cáo C); địa chỉ: tổ A, khu H, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, có mặt tại phiên toà.
-
Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Lê Văn T4: bà Phạm Thị N2 (mẹ đẻ bị cáo T4); địa chỉ: tổ B, khu H, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, có mặt tại phiên toà.
-
- Người bào chữa cho bị cáo Phạm Mạnh C và Lê Văn T4: Bà Dương Thị H3 – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý tỉnh Q, có mặt tại phiên toà.
-
- Bị hại: anh Vũ Trọng Hoàng A1, vắng mặt tại phiên toà (có đơn xin xét xử vắng mặt).
-
- Những người làm chứng: Anh Vũ Trọng M và anh Vũ Trọng K, đều vắng mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng thời gian đầu năm 2023, trên địa bàn thành phố U, tỉnh Quảng Ninh xảy ra một số vụ việc các nhóm thanh thiếu niên của huyện T, thành phố Hải Phòng và thanh thiếu niên thành phố U điều khiển xe mô tô chạy tốc độ cao, hò hét, đuổi đánh nhau gây mất trật tự trị an. Tối ngày 02/5/2023, Đinh Thế N, Bùi Văn T1, Nguyễn Thùy L, Nguyễn Mạnh H4, Bùi Thị Ngọc H5, Nguyễn Hải Đ3 đi đến nhà Vũ Hải A ở khu C, phường P, thành phố U chơi, lúc này Hải A không có nhà. Một lúc sau thì Hải A cùng Đoàn Văn H2 đi xe máy về nhà nói với cả nhóm là vừa bị một nhóm thanh niên Hải Phòng ném đá ở ngã ba đường A. Lúc này T1 cầm 01 chiếc đinh ba ở nhà Hải A đưa cho Hải A. Sau đó Hải A điều khiển xe Honda Wave màu trắng chở H2 và bảo H2 cầm cây đinh ba đi mục đích đề phòng nếu bị nhóm Hải Phòng đánh thì đánh lại. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, N và T1 cùng rủ nhau đi ra cầu Đ, mục đích để đánh nhau với nhóm thanh niên Hải Phòng. Còn Nguyễn Thùy L, Nguyễn Mạnh H4, Bùi Thị Ngọc H5, Nguyễn Hải Đ3 vẫn ngồi chơi ở nhà Hải A không tham gia. Thường và N đi xuống bếp lấy 02 tuýp sắt và 01 con dao mèo, sau đó T1 điều khiển xe mô tô chở N đi ra cầu Đ. Đi đến chân cầu Đ thì T1 dừng xe, N để hung khí xuống lề đường rồi cả hai đứng đợi đánh nhau. Còn Hải A và H2 khi đi ra đến đường A, thấy một nhóm thanh niên Hải Phòng đi xe mô tô theo hướng từ cầu Đ đi ngã ba đường A, H điều khiển xe đuổi theo đến khu vực cây xăng P3 thì không đuổi được nữa nên quay đầu lại. Về đến khu vực chợ P4, Hải A gặp nhóm bạn là Vũ Huy H, Đỗ Văn T8, Nguyễn Văn T9, Vũ Đình Đ, Lê Văn T4, Phạm Hải Đ2. Hải A định vòng vào gặp nhóm này thì lại thấy nhóm thanh niên Hải Phòng đi mô tô theo hướng từ ngã ba đường A về cầu Đ nên Hải A hô to lên “Ê Hải Phòng kìa” rồi phóng xe đuổi theo. Thấy vậy H vào trong nhà (nơi cả nhóm đang đứng trước cửa nhà H) cầm theo một thanh kiếm ra và lên xe đi cùng Đ2, T4, Đ phóng xe đuổi theo. Cả nhóm đi về hướng cầu Đ nhưng không thấy xe của Hải A đâu nên rẽ vào đường C và rẽ lên hướng cầu Đ. Khi đến chân cầu thì gặp N, T1, Phạm Mạnh C. Cả nhóm cùng đứng đợi nhóm Hải Phòng đi qua để đánh nhau. Khoảng 05 phút thì có xe của T9 và T8 đi đến, biết nhóm N đang đợi đánh nhau với nhóm Hải Phòng nên T8 và T9 đứng lại xem. Còn nhóm của Hải A sau khi đuổi theo nhóm Hải Phòng đến lối rẽ vào khu C, phường P thì Hải A rẽ về nhà để rủ thêm Đ2, T1, N đi đánh nhau với nhóm thanh niên Hải Phòng nhưng không thấy ở nhà nên Hải A lại chở H2 cầm cây đinh ba đi ra đường A đi về hướng cầu Đ.
Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, anh Vũ Trọng Hoàng A1, Vũ Trọng M, Vũ Trọng K (đều trú tại T, Hải Phòng) điều khiển xe mô tô đi chơi về theo hướng U - Hải Phòng (Hoàng A1 đi một xe, K chở M đi một xe), khi đi đến khu vực cây xăng P3 thì thấy một nhóm 03 xe máy đuổi nhau trên đường theo hướng ngược chiều với cả nhóm. Sợ bị đánh nhầm nên Hoàng A1, M, K rẽ vào một ngõ dân sinh ven Quốc lộ A để tránh. Khoảng 5-10 phút sau thì cả nhóm tiếp tục điều khiển xe đi về, khi đi gần đến cầu Đ thì bị nhóm Hải A gặp và đuổi đánh. Thấy vậy, K chở M quay đầu xe chạy về hướng ngã ba đường A, H chở H2 đuổi theo K và M đến khu vực cây xăng P3, do không đuổi kịp nên quay về nhà H cất cây đinh ba. Việc Vũ Hải A dùng xe mô tô chạy tốc độ cao chở Đoàn Văn H2 cầm hung khí hò hét, bấm còi xe, lạng lách đánh võng nhiều lần trên tuyến Quốc lộ A địa bàn phường P, thành phố U, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
Còn Hoàng A1 khi bị Hải A và H2 đuổi thì tiếp tục chạy về phía cầu Đ. Khi đến đầu cầu Đ thì bị N, T1, Đ, H, T4, Hải Đ2, C đang đứng sát lan can thành cầu, cho rằng Hoàng A1 là người trong nhóm thanh niên Hải Phòng sang khiêu khích nên cả bọn cùng nhau nhặt đá, chạy đến sát lan can cầu và ném về phía Hoàng A1 nhưng không trúng. T8 và T9 có mặt nhưng không tham gia ném đá. Mặc dù không bị ném trúng nhưng do bị giật mình nên Hoàng A1 không kiểm soát được tay lái đã bị ngã xe ra đường và bị thương tích. Sau khi bị ngã Hoàng A1 bỏ xe lại chạy bộ lên trên cầu thì bị Vũ Đình Đ, Đinh Thế N, Lê Văn T4 điều khiển xe mô tô đuổi theo giữ lại rồi chở xuống chân cầu Đ. Tại chân cầu N và T1 dùng tay tát vào mặt Hoàng A1. Cả nhóm xúm vào chửi và hỏi Hoàng A1: “Tại sao đi sang đây ném đá ném chai ở Uông Bí từ nhiều lần trước”, Hoàng A1 nói không làm gì, sau đó được một số người trong nhóm can ngăn nên không ai đánh Hoàng A1 nữa. Một lúc sau khi lực lượng Công an đến thì cả nhóm bỏ chạy.
* Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 339/KLTTCT-TTPY ngày 24/5/2023 của Trung tâm pháp y – Sở Y xác định thương tích trên cơ thể Vũ Trọng Hoàng A1 như sau:
- - Chấn thương vùng vai cánh tay phải, tổn thương như sau:
- + Gãy kín đầu trên xương cánh tay phải và chỏm xương cánh tay phải đã được phẫu thuật kết hợp xương bằng nẹp vít và cố định chỉ thép: 25%.
- + Gãy kín mỏm cùng vai phải: 08%.
- + Vết biến đổi rối loạn sắc tố da mặt trên ngoài vai phải: 0,5%.
- + Sẹo vết mổ vùng vai - mặt trước cánh tay phải kích thước trung bình; sẹo dẫn lưu cánh tay phải kích thước nhỏ: 02% + 01%.
- - Gãy kín đầu dưới xương quay tay trái, xương thẳng trục, vận động cổ tay trái bình thường: 08%.
- - Vết biến đổi rối loạn sắc tố da mặt sau khuỷu tay trái và 03 vết biến đổi rối loạn sắc tố da mặt trước đầu gối phải: 01 %.
- - Kết quả khám chuyên khoa: không tổn thương thần kinh vùng vai và tay phải.
- - Kết quả cận lâm sàng:
- + CT – Scanner và X-Q1: gãy đầu trên xương cánh tay phải có dụng cụ kết hợp xương. Hình ảnh can xương mỏm cùng vai. Hình ảnh gãy đầu dưới xương quay cẳng tay trái.
- + Điện cơ tay phải: không tổn thương.
- Kết luận: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Vũ Trọng Hoàng A1 tại thời điểm giám định là: 39%.
- Kết luận khác: các tổn thương nêu trên do tác động va chạm trực tiếp với vật tày gây nên.
* Ngày 30/10/2023, Ủy ban nhân dân thành phố U có công văn số: 3222/UBND đề nghị Công an thành phố U điều tra làm rõ, xử lý vụ việc trên do đã gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân.
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà các bị cáo đều khai nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án đã nêu.
Bị hại có lời khai phù hợp với lời khai của các bị cáo.
Tại Cáo trạng số: 1450/CT- VKSUB ngày 22/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí truy tố các bị cáo Đinh Thế N, Bùi Văn T1, Vũ Đình Đ, Phạm Mạnh C, Lê Văn T4, Vũ Huy H và Phạm Hải Đ2 về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134) Bộ luật Hình sự; các bị cáo Vũ Hải A và Đoàn Văn H2 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí tại phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo theo Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:
-
- Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134); điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Đinh Thế N, Bùi Văn T1, Vũ Đình Đ, Phạm Mạnh C, Lê Văn T4, Vũ Huy H và Phạm Hải Đ2 (Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo N, T1, Đ, H, T4 và C; khoản 1, 2 và 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị các bị cáo N, T1, Đ, Đ2, H).
Xử phạt:
- + Đinh Văn N3 36 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- + Bùi Văn T1 36 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- + Vũ Đình Đ từ 24 đến 27 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 đến 54 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- + Phạm Hải Đ2 từ 30 đến 36 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- + Vũ Huy H từ 27 đến 30 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 54 đến 60 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- + Lê Văn T4 từ 24 đến 27 tháng tù, tổng hợp với hình phạt 20 tháng tù tại Bản án số: 101/2024/HS-ST ngày 11/6/2024 của Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án từ 44 đến 47 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án được trừ đi những ngày đã tạm giữ từ ngày 17/10/2023 đến ngày 17/01/2024).
- + Phạm Mạnh C từ 24 đến 27 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 03/6/2024.
-
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 (khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2 và 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Hải A; Điều 56 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo H2).
Xử phạt:
- + Vũ Hải A từ 24 đến 30 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 đến 60 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- + Đoàn Văn H2 từ 24 đến 30 tháng tù, tổng hợp với hình phạt 25 tháng tù tại Bản án số: 67/2024/HS-ST ngày 08/8/2024 của Toà án nhân dân thị xã Đông Triều, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án từ 49 đến 55 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/3/2024.
Giao các bị cáo được hưởng án treo cho Uỷ ban nhân dân phường (xã) nơi các bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Về trách nhiệm dân sự: đã được giải quyết trong giai đoạn điều tra nên không đề cập.
- Về xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 05 thanh kiếm bằng kim loại; 01 chai thuỷ tinh; 02 tuýp kim loại; 01 đinh ba kim loại; 01 dao phóng kim loại và 01 đao kim loại. Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát (BKS) 15G1-908.93; 01 xe Honda Wave BKS 14Y1-334.33; 01 xe mô tô Yamaha Jupiter BKS 14K5-2035; 01 xe Honda không gắn BKS, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp nên không đề cập.
Người bào chữa cho bị cáo Phạm Mạnh C và Lê Văn T4 có quan điểm: các bị cáo T4 và C phạm tội do bột phát, nhận thức pháp luật còn hạn chế, cả hai bị cáo đều có điều kiện, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến điều kiện, nguyên nhân phạm tội của 02 bị cáo, cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất theo mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Còn về tội danh và điều luật áp dụng, Trợ giúp viên pháp lý không có ý kiến gì.
Những người đại diện theo pháp luật đồng thời là người bào chữa cho các bị cáo Đinh Thế N, Bùi Văn T1, Vũ Đình Đ không tranh luận và không có ý kiến gì.
Các bị cáo không tranh luận; lời nói sau cùng các bị cáo đều xin Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Đối với bị cáo Đoàn Văn H2 vắng mặt tại phiên toà, nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 290 Bộ luật Tố tụng hình sự, Toà án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, kiểm sát viên thu thập và hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, các bị cáo, người đại diện hợp pháp và người bào chữa cho các bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ cũng như hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập và hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Về tội danh: Lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, với lời khai của những người làm chứng, phù hợp với Kết luận giám định, với sơ đồ và bản ảnh hiện trường, với vật chứng vụ án và các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Tối ngày 02/5/2023, do có mâu thuẫn giữa nhóm thanh niên thành phố U với nhóm thanh niên huyện T, thành phố Hải Phòng, Vũ Hải A và Đoàn Văn H2 đã có hành vi điều khiển xe mô tô tốc độ cao, hò hét, còi xe, lạng lách, đãnh võng đồng thời sử dụng hung khí đuổi nhóm thanh niên thuộc huyện T, thành phố Hải Phòng trên Quốc lộ A, thuộc địa phận phường P, thành phố U, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Hành vi của các bị cáo Vũ Hải A và Đoàn Văn H2 đủ yếu tố cấu thành tội: “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.
Khoảng 23 giờ giờ 30 phút cùng ngày, khi anh Vũ Trọng Hoàng A1 đi chơi về đến khu vực đầu cầu Đ thuộc phường P, thành phố U thì bị Vũ Đình Đ, Đinh Thế N, Bùi Văn T1, Phạm Mạnh C, Lê Văn T4, Vũ Huy H và Phạm Hải Đ2 chặn đường cầm đá ném. Mặc dù không bị ném trúng nhưng do bị giật mình nên anh Hoàng A1 không kiểm soát được tay lái đã ngã xe ra đường gây thương tích, tổn hại 39% sức khoẻ. Hành vi của các bị cáo Vũ Đình Đ, Đinh Thế N, Bùi Văn T1, Phạm Mạnh C, Lê Văn T4, Vũ Huy H và Phạm Hải Đ2 đủ yếu tố cấu thành tội: “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134) Bộ luật Hình sự.
Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Về hình phạt: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm trực tiếp đến sức khoẻ của công dân được pháp luật bảo vệ và xâm phạm trực tiếp đến trật tự công cộng, gây mất an ninh, trật tự, gây dư luận xấu trên địa bàn thành phố, gây hoang mang lo lắng đến cộng đồng dân cư. Chỉ vì những mâu thuẫn mơ hồ trong cuộc sống và ý thức coi thường pháp luật, các bị cáo đã tụ tập, chuẩn bị phương tiện, hung khí, gây thương tích cho bị hại và đuổi đánh nhau trên đường phố gây mất trật tự công cộng, đe dọa đến những người tham gia giao thông khác. Vì vậy phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo nhằm đảm bảo tính răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm.
- Xét vai trò của các bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích”: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, không có sự bàn bạc, phân công vai trò chặt chẽ, các bị cáo phạm tội bắt nguồn từ những mâu thuẫn với nhóm thanh niên huyện T, thành phố Hải Phòng và sau khi được Hải A kể lại là bị nhóm thanh niên Hải Phòng đuổi đánh, các bị cáo đã tự đi lên cầu Đ đứng đợi nhóm thanh niên Hải Phòng đi chơi về để ném đá vào bị hại. Sau khi anh Hoàng A1 bị ngã xe và bỏ chạy thì Đ, N và T4 đã điều khiển xe mô tô đuổi theo giữ lại rồi chở xuống chân cầu Đ để N và T1 dùng tay tát vào mặt, do đó các bị cáo Đ, N, T4, T1 giữ vai trò đầu trong vụ án. Giữ vai trò sau là các bị cáo còn lại.
- Xét nhân thân của các bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích”: Bị cáo T4 và bị cáo C là những người có nhân thân xấu, T4 đã bị Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử phạt 20 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, bị cáo C bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công thành phố U khởi tố về tội “Gây rối trật tự công cộng” trong vụ án khác; các bị cáo N, T1, Đ, Đ2 và H là những người có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét, cân nhắc khi quyết định hình phạt đối với từng bị cáo.
- Xét vai trò và nhân thân của các bị cáo phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”: Hải A là người dùng xe mô tô chở H2 ngồi sau cầm cây đinh ba đi với tốc độ cao, lạng lách, đánh võng trên đường khi đuổi nhóm thanh niên Hải Phòng nên Hải A giữ vai trò đầu, H2 giữ vai trò sau. Hải A là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội. H2 là người có nhân thân xấu đã bị kết án về tội “Gây rối trật tự công cộng” nên cần có mức hình phạt ngang nhau.
- Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
- Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn, hối cải, nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; các bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích” đã bồi thường cho bị hại, bị hai có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo nên các bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo Hải A đã có đóng góp tích cực vào việc phòng chống dịch bệnh Covid-19 và đóng góp ủng hộ công sức vào việc khắc phục hậu quả của cơn bão số 3 (Yagi) để đảm bảo ổn định cuộc sống của người dân trên địa bàn (có xác nhận của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú) nên Hải A được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Từ những đánh giá, phân tích nêu trên. Căn cứ vào hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo cũng như những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo đều là những người còn trẻ tuổi nhưng không chịu học hành, tu dưỡng, rèn luyện bản thân, không chịu nghe lời dạy bảo của cha mẹ, thích thể hiện với bạn bè, nên cần phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo. Tuy nhiên cũng cần xem xét, cân nhắc khi quyết định hình phạt đối với từng bị cáo cụ thể. Số bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích” có 6/7 bị cáo là người chưa thanh niên, tâm sinh lý phát triển chưa hoàn thiện, tính tình còn nông nổi, bột phát, nhận thức pháp luật còn hạn chế nên cho các bị cáo được hưởng dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo quy định tại khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự. Đối với các bị cáo Phạm Mạnh C, Lê Văn T4 là những người có nhân thân xấu, nên phải cách ly khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục các bị cáo. Số bị cáo còn lại có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly khỏi xã hội mà cho các bị cáo được cải tạo, giáo dục tại địa phương nơi các bị cáo cư trú cũng đủ tác dụng răn đe các bị cáo, cũng như đảm bảo nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
Bị cáo Phạm Hải Đ2 là người đã thành niên. Tuy nhiên bị cáo tham gia với vai trò thứ yếu trong vụ án nên không cần bắt bị cáo phải cách ly khỏi xã hội.
Đối với bị cáo Vũ Hải A và bị cáo Đoàn Văn H2 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” thì thấy: bị cáo H2 là người có nhân thân xấu đang phải chấp hành án của bản án khác nên buộc H2 phải chấp hành hình phạt tù của 02 bản án; bị cáo Hải A có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly khỏi xã hội mà cho bị cáo được cải tạo, giáo dục tại địa phương nơi bị cáo cư trú cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm.
[5] Về hủy bỏ biện pháp ngăn chặn: Các Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ số 74 đến 80 và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh từ số 96 đến 102 cùng ngày 23/8/2024 của Toà án nhân dân thành phố Uông Bí đối với các bị cáo Đinh Thế N, Bùi Văn T1, Vũ Đình Đ, Phạm Hải Đ2, Vũ Huy H, Lê Văn T4 và Vũ Hải A cần được hủy bỏ.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra các bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích” đã bồi thường cho bị hại số tiền 100.000.000 đồng, bị hại anh Vũ Trọng Hoàng A1 không còn ý kiến gì khác nên không xem xét, đề cập.
[7] Về xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ: Đối 05 thanh kiếm bằng kim loại; 01 chai thuỷ tinh; 02 tuýp kim loại; 01 đinh ba kim loại; 01 dao phóng kim loại và 01 đao kim loại là những công cụ các bị cáo dùng vào việc phạm tội và không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ.
[8] Về án phí và quyền kháng cáo: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Các bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp và bào chữa cho các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[9] Các tình tiết khác trong vụ án:
Đối với Nguyễn Thùy L, Nguyễn Mạnh H4, Bùi Thị Ngọc H5, Nguyễn Hải Đ3 có mặt ở nhà Vũ Hải A nhưng không tham gia hành vi gây rối trật tự công cộng; Đỗ Văn T8, Nguyễn Văn T9 có mặt trên cầu Đ nhưng không tham gây thương tích cho bị hại nên không phải chịu trách nhiệm hình sự.
Đối với hành vi chuẩn bị hung khí, hô hào đi đuổi đánh nhau của Vũ Hải A, mục đích để phóng xe máy đuổi nhau tốc độ cao, gây rối trật tự công cộng, sau khi có hành vi gây rối trật tự công cộng Hải A và H2 không cùng tham gia gây thương tích với các bị cáo khác mà quay về nhà. Việc các bị cáo khác gây thương tích cho bị hại mang tính bột phát, độc lập không có sự bàn bạc, thống nhất từ trước. Do đó chưa đủ căn cứ xử lý Vũ Hải A về tội “Cố ý gây thương tích”.
Đối với các anh Vũ Trọng Hoàng A1, Vũ Trọng M, Vũ Trọng K, quá trình điều tra xác định không tham gia gây rối trật tự công cộng nên không đề cập xử lý.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
1.1. Căn cứ vào: điểm c khoản 3 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134); điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 17; Điều 58; Điều 90; Điều 91; Điều 101 và Điều 56 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: bị cáo Lê Văn T4 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt: Lê Văn T4 24 (hai mươi bốn) tháng tù, tổng hợp với mức hình phạt 20 (hai mươi) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” tại Bản án số: 101/2024/HS-ST ngày 11/6/2024 của Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 44 (bốn mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án (được trừ đi những ngày đã tạm giam từ ngày 17/10/2023 đến ngày 17/01/2024).
1.2. Căn cứ vào: điểm c khoản 3 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134); điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 17; Điều 58; Điều 90; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: bị cáo Phạm Mạnh C phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt: Phạm Mạnh C 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/6/2024.
1.3. Căn cứ vào: điểm c khoản 3 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134); điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 17; Điều 58; khoản 1, 2 và 5 Điều 65; Điều 90; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: bị cáo Đinh Thế N phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt: Đinh Thế N 36 (ba mươi sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 (sáu mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
1.4. Căn cứ vào: điểm c khoản 3 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134); điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 17; Điều 58; khoản 1, 2 và 5 Điều 65; Điều 90; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: bị cáo Bùi Văn T1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt: Bùi Văn T1 36 (ba mươi sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 (sáu mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
1.5. Căn cứ vào: điểm c khoản 3 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134); điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 17; Điều 58; khoản 1, 2 và 5 Điều 65; Điều 90; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: bị cáo Vũ Đình Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt: Vũ Đình Đ 24 (hai mươi bốn) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 (bốn mươi tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
1.6. Căn cứ vào: điểm c khoản 3 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134); điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 17; Điều 58; khoản 1, 2 và 5 Điều 65; Điều 90; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: bị cáo Vũ Huy H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt: Vũ Huy H 27 (hai mươi bảy) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 54 (năm mươi tư) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
1.7. Căn cứ vào: điểm c khoản 3 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134); điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 17; Điều 58; khoản 1, 2 và 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: bị cáo Phạm Hải Đ2 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt: Phạm Hải Đ2 30 (ba mươi) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 (sáu mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao các bị cáo Đinh Thế N, Bùi Văn T1, Vũ Đình Đ, Vũ Huy H cho Ủy ban nhân dân phường P, thành phố U giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng với Ủy ban nhân dân phường P trong việc giám sát giáo dục các bị cáo.
Giao bị cáo Phạm Hải Đ2 cho Ủy ban nhân dân phường P, thành phố U giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng với Ủy ban nhân dân phường P, thành phố U trong việc giám sát giáo dục bị cáo.
1.8. Căn cứ vào: Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, 2 và 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: bị cáo Vũ Hải A phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Xử phạt: Vũ Hải A 27 (hai mươi bảy) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 54 (năm mươi tư) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Vũ Hải A cho Ủy ban nhân dân phường P, thành phố U giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng với Ủy ban nhân dân phường P trong việc giám sát giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Toà án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
1.9. Căn cứ vào: Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 56 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: bị cáo Đoàn Văn H2 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Xử phạt: Đoàn Văn H2 27 (hai mươi bảy) tháng tù, tổng hợp với hình phạt 25 (hai mươi lăm) tháng tù tại Bản án số: 67/2024/HS-ST ngày 08/8/2024 của Toà án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 52 (năm mươi hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/3/2024.
2. Về huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn: Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy bỏ các Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ số 74 đến số H và các Quyết định tạm hoãn xuất cảnh từ số 96 đến số 102 cùng ngày 23/8/2024 của Toà án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh đối với các bị cáo Đinh Thế N, Bùi Văn T1, Vũ Đình Đ, Phạm Hải Đ2, Vũ Huy H, Lê Văn T4 và Vũ Hải A.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 thanh kiếm bằng kim loại dài 82 cm; 01 thanh kiếm bằng kim loại dài 67; 01 thanh kiếm bằng kim loại dài 84 cm; 01 chai thủy tinh, chiều cao 33 cm; 01 thanh kiếm bằng kim loại dài 77 cm, vỏ bọc bằng nhựa cứng màu đen; 01 thanh kiếm bằng kim loại, vỏ gỗ dài 70 cm; 01 tuýp kim loại dài 202 cm; 01 tuýp kim loại dài 200 cm; 01 dao phóng kim loại dài 242 cm; 01 đinh ba kim loại dài 250 cm; 01 đao kim loại dài 168 cm.
(Số vật chứng nêu trên có tình trạng, đặc điểm như mô tả tại biên bản giao, nhận vật chứng ngày 22/8/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố U với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh).
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBNTQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Buộc các bị cáo Đinh Thế N, Bùi Văn T1, Vũ Đình Đ, Phạm Mạnh C, Lê Văn T4, Vũ Huy H, Phạm Hải Đ2, Vũ Hải A và Đoàn Văn H2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, nộp Ngân sách Nhà nước.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào khoản 1 Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, các bị cáo có mặt, người đại diện hợp pháp, người bào chữa cho các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị cáo vắng mặt, bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Huy Hùng |
Bản án số 78/2024/HS-ST ngày 30/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ - TỈNH QUẢNG NINH về hình sự (cố ý gây thương tích và gây rối trật tự công cộng)
- Số bản án: 78/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích và Gây rối trật tự công cộng)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ - TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đinh Thế N cđp - Cố ý gây thương tích
