|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 78/2024/DS-ST Ngày 30-9-2024 V/v: “Tranh chấp Hợp đồng dịch vụ môi giới bất động sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Thiêm
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Thành Đô
Ông Đồng Văn Diện
Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thanh Huyền- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh Tuyết - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang mở phiên tòa xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 139/2024/TLST-DS ngày 12/7/2024 về việc: “Buộc thực hiện trả tiền hoa hồng như hợp đồng đã ký” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 161/2024/QĐXXST-DS ngày 29/8/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 124/2024/QÐST-DS ngày 13/9/2024, giữa các đương sự:
-
* Nguyên đơn: Chị Đặng Thị L, sinh năm 1985 – Vắng mặt
Địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang
-
* Bị đơn: Công ty TNHH X – Vắng mặt
Địa chỉ: Thôn C, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang
Người đại diện theo pháp luật: Ông Triệu Đình C – Giám đốc. Địa chỉ: Số nhà B, đường N, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
-
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- - Anh Hoàng Văn Đ, sinh năm 1989 – Vắng mặt
Địa chỉ: Thôn C, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang
- - Công ty TNHH S
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Duy H – Giám đốc.
Địa chỉ: Số E, đường L, Tp., tỉnh Bắc Giang – Vắng mặt.
- - Anh Hoàng Văn Đ, sinh năm 1989 – Vắng mặt
(Chị L, ông H vắng mặt có đơn xin vắng mặt; ông C, anh Đ vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn chị Đặng Thị L trình bày như sau:
Do tính chất công việc làm nghề môi giới bất động sản, thông qua mối quan hệ chị L1 có quen biết anh Hoàng Văn Đ, Giám đốc công ty TNHH X (viết tắt là Công ty X) từ khoảng tháng 8 năm 2022. Qua nhiều lần gặp gỡ, tiếp xúc anh Đ đặt vấn đề với chị là hiện nay Công ty X do anh Đ là người đại diện theo pháp luật xây dựng nhà xưởng cho thuê và thỏa thuận với chị kết nối tìm khách thuê và sẽ trích thưởng cho chị số tiền tương ứng bằng 1,5 tháng tiền thuê của năm thứ nhất khi khách ký hợp đồng thuê với Công ty X của anh Đ. Việc thỏa thuận này giữa chị L1 và Công ty X được lập bằng “Hợp đồng trích thưởng” ngày 04/02/2023.
Trong quá trình tìm kiếm khách hàng thì chị L1 gặp được Công ty TNHH S (viết tắt công ty S) có nhu cầu thuê nhà xưởng để gia công sản xuất rượu.
Thông qua chị L1, cùng ngày 04/02/2023, đại diện Công ty X và đại diện Công ty S ký hợp đồng cọc với nhau và chuyển cọc cho nhau số tiền tạm tính là: 316.320.000₫ (Ba trăm mười sáu triệu ba trăm hai mươi nghìn đồng chẵn).
Theo hợp đồng Hợp đồng trích thưởng ngày 04/02/2023, giữa chị với Công ty X thì anh Đ là người đại diện cho Công ty X có chuyển khoản cho chị L1 0,5 tháng tiền thuê tài sản tương đường số tiền là 52.686.868đ (Năm mươi hai triệu sáu trăm tám mươi sáu nghìn tám trăm sáu tám đồng) với nội dung “Chúc chị và công ty A năm thành công”.
Số tiền còn lại là 01 tháng tiền thuê là 100 triệu đồng, anh Đ hứa sẽ thanh toán cho chị sau khi Công ty S thanh toán tiền thuê đợt 1.
Ngày 25/5/2023, hai bên Công ty X và Công ty S ký hợp đồng thuê chính thức (hợp đồng thuê nhà xưởng số 25552023/HĐTNX) sau khi đo đạc, nhận bàn giao xưởng và có cam kết chuyển khoản thanh toán cho nhau trong thời gian sớm nhất. Số tiền chị L1 được hưởng theo hợp đồng thuê nhà xưởng chính thức này là 152.700.000đ (một trăm lăm mươi hai triệu bảy trăm ngàn đồng).
Khi được biết Công ty S thanh toán tiền thuê nhà xưởng theo hợp đồng thuê nhà xưởng chính thức cho Công ty X, chị đã gọi điện, nhắn tin, đến gặp gỡ đại diện Công ty X để đòi tiền như đã thỏa thuận nhưng anh Đ khất hứa, hoãn trả rất nhiều lần, còn tránh không gặp mặt chị.
Đến tháng 12/2023, qua công ty S chị được biết anh Đ đã chuyển nhượng công ty sang người khác, chị cũng có đến nhà đòi nhưng anh Đ nói đã chuyển cho người khác và giờ không liên quan gì nữa.
Vì vậy nay chị làm đơn khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Công ty TNHH X thanh toán trả cho chị số tiền 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng) còn lại chưa thanh toán theo hợp đồng trích thưởng đã ký kết ngày 04/02/2023 giữa Công ty TNHH X với chị.
* Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn Công ty TNHH X và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Hoàng Văn Đ đã được Tòa án thông báo tống đạt niêm yết về việc thụ lý vụ án, triệu tập đến làm việc, thông báo tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập phiên tòa, quyết định hoãn phiên tòa nhưng bị đơn Công ty TNHH X và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Hoàng Văn Đ không đến Tòa án làm việc, không có quan điểm gì về việc giải quyết vụ án, tiếp tục vắng mặt tại phiên tòa.
* Quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Duy H – Giám đốc đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH S có lời khai trình bày như sau:
Do Công ty TNHH S có nhu cầu tìm thuê nhà xưởng để gia công sang chiết rượu vang nên thông qua chị Đặng Thị L, sinh năm 1985. Địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang làm nghề môi giới bất động sản, chị L kết nối giới thiệu Công ty TNHH X là bên có nhà xưởng cho thuê. Sau khi gặp gỡ thỏa thuận thì phía Công ty TNHH X do anh Hoàng Văn Đ là người đại diện theo pháp luật và bên Công ty TNHH S (thời điểm đó ông Nguyễn Văn V là giám đốc đại diện theo pháp luật) đã thống nhất ký hợp đồng thuê nhà xưởng số 2552023/HĐTNX ngày 25/5/2023.
Việc chị L và Công ty TNHH X ký hợp đồng trích thưởng với nhau cụ thể như thế nào thì ông không rõ. Sau khi Công ty bên ông thanh toán tiền đặt cọc và tiền thuê nhà xưởng theo hợp đồng thuê nhà xưởng thì chị L có liên hệ với bên Công ty ông để hỏi xem đã thanh toán tiền đặt cọc và tiền thuê nhà xưởng theo thỏa thuận ký kết chưa thì bên ông cho chị L biết đã thanh toán tiền cọc và tiền thuê theo thỏa thuận trong hợp đồng cho Công ty TNHH X.
Nay chị L khởi kiện phía Công ty TNHH X để đòi tiền trích thưởng ông đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Công ty không có yêu cầu gì trong vụ án này. Do bận công việc nên đề nghị Tòa án cho phép ông vắng mặt toàn bộ quá trình giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Đặng Thị L và đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH S đều vắng mặt và có đơn xin vắng mặt; bị đơn Công ty TNHH X và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Hoàng Văn Đ được Tòa án triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa mở lần thứ 2 không có lý do. Hội đồng xét xử công bố các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.
Đại diện VKSND huyện Lạng Giang phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án tuân theo pháp luật; nguyên đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Công ty TNHH S đã chấp hành thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng; bị đơn là Công ty TNHH X và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Hoàng Văn Đ chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. HĐXX căn cứ các Điều 227, 228, 238 xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị L, buộc Công ty TNHH X phải trả cho chị L số tiền 100.000.000₫.
Ngoài ra đại diện VKS còn đề nghị giải quyết về án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định cho các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
-
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Nguyên đơn chị Đặng Thị L khởi kiện yêu cầu bị đơn Công ty TNHH X phải thực hiện trả tiền hoa hồng như hợp đồng đã ký, như vậy quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp hợp đồng môi giới bất động sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn Công ty TNHH X có trụ sở tại Thôn C, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
-
Về tố tụng:
Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH S vắng mặt và đều xin vắng mặt; bị đơn Công ty TNHH X và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Hoàng Văn Đ vắng mặt tại phiên tòa mở lần thứ 2 không có lý do. Do đó Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2, Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự.
-
Xét yêu cầu buộc Công ty TNHH X thực hiện trả thưởng 100.000.000 đồng của nguyên đơn:
Ngày 04/02/2023 Công ty TNHH X và chị Đặng Thị L có ký hợp đồng trích thưởng. Hợp đồng có đóng dấu giáp lai, thời điểm ký kết hợp đồng đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH X là anh Hoàng Văn Đ đã ký tên, đóng dấu của Công ty TNHH X nên về đảm bảo hình thức của hợp đồng. Xét về tên gọi của hợp đồng của 2 bên tham gia ký kết ghi là “Hợp đồng trích thưởng” nhưng bản chất là việc Công ty TNHH X có nhà xưởng cho thuê tại thôn C, xã M, huyện L giao cho chị Đặng Thị L (môi giới bất động sản, có chứng chỉ hành nghề môi giới bất động sản) thực hiện các nhiệm vụ tìm đối tác để phía Công ty TNHH X cho thuê lại nhà xưởng, bà L được nhận một khoản tiền phí dịch vụ khi giao dịch thành công do đó xác định hợp đồng trích thưởng ngày 04/02/2023 đã ký giữa Công ty TNHH X và chị Đặng Thị Lụa L2 “hợp đồng dịch vụ môi giới bất động sản” theo quy định tại Điều 513 Bộ luật dân sự 2015.
Căn cứ vào Hợp đồng trích thưởng ngày 04/02/2023 do chị L cung cấp và lời khai của chị L có đủ cơ sở để khẳng định ông Hoàng Văn Đ đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH X có ký hợp đồng trích thưởng với chị Đặng Thị L. Hợp đồng trích thưởng được lập bằng văn bản, các bên tham gia giao dịch có đầy đủ nặng lực chủ thể và hoàn toàn tự nguyện, mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Hợp đồng trích thưởng ngày 04/02/2023 có hiệu lực pháp luật.
Quá trình thực hiện hợp đồng trích thưởng, chị L đã tìm được khách hàng có nhu cầu thuê nhà xưởng và đã kết nối cho đại diện Công ty TNHH S và đại diện Công ty TNHH X gặp gỡ thương lượng và hai bên thống nhất thỏa thuận, đã ký hợp đồng đặt cọc thuê nhà xưởng và sau đó đến ngày 25/5/2023 hai bên đã ký hợp đồng thuê nhà xưởng chính thức. Thời điểm sau khi hai bên Công ty TNHH S và đại diện Công ty TNHH X chốt cọc thì phía Công ty TNHH X do anh Hoàng Văn Đ là giám đốc đã chuyển khoản cho chị L số tiền 52.686.868đ (Năm mươi hai triệu sáu trăm tám mươi sáu nghìn tám trăm sáu tám đồng) với nội dung “Chúc chị và công ty A năm thành công”. Điều này hoàn toàn phù hợp với thỏa thuận tại điểm b Điều 2 của Hợp đồng trích thưởng ký giữa hai bên. Số tiền trích thưởng là 1,5 tháng cho thuê đất của năm thứ nhất và được thanh toán làm 02 lần, lần 1 sẽ thanh toán 0,5 tháng ngay sau khi khách hàng đặt cọc và lần 2 sau khi bên cho thuê nhận được tiền thanh toán tiền thuê đợt 1 từ khách hàng. Như vậy, thông qua sự môi giới bất động sản của chị L thì ngày 25/5/2023 phía bên thuê nhà xưởng là Công ty TNHH S và bên cho thuê nhà xưởng là Công ty TNHH X đã ký hợp đồng thuê nhà xưởng, giá thuê một tháng là 101.800.000đ/tháng trong 03 năm đầu. Và theo thỏa thuận ghi trong hợp đồng thuê nhà xưởng thì ngày 31/5/2023 bên thuê nhà xưởng là Công ty TNHH S đã thanh toán số tiền tiền thuê nhà xưởng 610.799.999 đồng cho bên Công ty TNHH X. Như vậy, công việc môi giới bất động sản của chị L đã thực hiện xong và theo thỏa thuận ghi trong hợp đồng trích thưởng ngày 04/02/2023, giữa chị L với Công ty X thì Công ty X phải thoanh toán tiền dịch vụ môi giới cho chị L số tiền 152.700.000đ tương ứng với 1,5 tháng tiền thuê nhà xưởng đã ký kết. Phía Công ty X đã thanh toán cho chị L số tiền 52.686.868đ (Năm mươi hai triệu sáu trăm tám mươi sáu nghìn tám trăm sáu tám đồng), số tiền còn thiếu theo hợp đồng trích thưởng là 100.000.000đ, vậy nay chị L khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc Công ty TNHH X phải thanh toán cho chị L số tiền còn thiếu chưa thanh toán 100.000.000đ là có căn cứ được chấp nhận theo quy định tại khoản 3 Điều 518, khoản 1 Điều 519 Bộ luật dân sự và Điều 63 Luật Kinh doanh bất động sản về việc yêu cầu Công ty TNHH X trả tiền thù lao hoa hồng khi sử dụng dịch vụ môi giới bất động sản do chị L đã thực hiện.
-
Về lãi suất phát sinh do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền:
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
-
Về án phí:
Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên chị L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả chị L số tiền tạm ứng án phí chị L đã nộp.
Công ty TNHH X phải chịu tiền án phí theo quy định tại khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng tiền án phí, lệ phí Tòa án. Cụ thể: Công ty TNHH X phải chịu 100.000.000đ x 5% = 5.000.000đ (Năm triệu đồng)
[4]. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Xét đề nghị của VKS tại phiên tòa là phù hợp, có căn cứ chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 513, Điều 518, Điều 519, Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự;
Căn cứ Điều 61, Điều 62, Điều 63, Điều 65 Luật Kinh doanh bất động sản;
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và lệ phí Tòa án, xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị L: Buộc Công ty TNHH X phải trả cho chị Đặng Thị L số tiền 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng).
- Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
-
Về án phí:
- - Buộc Công ty TNHH X phải chịu 5.000.000đ (Năm triệu đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm
- - Hoàn trả chị Đặng Thị L số tiền 2.500.000₫ (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí theo Biên lai số 0007556 ngày 10/5/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
- Về hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự: thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Vũ Thị Thiêm |
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Ngọc Sửu Ngô Văn B |
Phạm Thị Minh H1 |
Bản án số 78/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hợp đồng dịch vụ môi giới bất động sản
- Số bản án: 78/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng dịch vụ môi giới bất động sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Lụa kiện đòi tiền hợp đồng dịch vụ môi giới BĐS
