|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 78/2024/HNGĐ-ST Ngày: 28-9-2024 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung. |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP ĐÀ NẴNG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Mỹ Dung
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Bá Dũng
Ông Đặng Công Tâm
Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Ánh Nguyệt - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu, TP Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ly Na - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, TP Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 133/2024/TLST- HNGĐ ngày 25 tháng 6 năm 2024 về "Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung " theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 133/2024/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 133/2024/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Minh K – sinh năm 1991. Địa chỉ: Tổ D, khu phố P, phường H, thị xã B, tỉnh Bình Dương. Địa chỉ liên hệ: Số B N, phường F, quận B, thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt (có đơn đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt).
- Bị đơn: Bà Trần Thị Diệu L - Sinh năm 1990. Địa chỉ: Số A P, phường P, quận H, thành phố Đà Nẵng. Địa chỉ liên hệ: Tổ D, khu phố P, phường H, thị xã B, tỉnh Bình Dương, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 10/6/2024, Bản tự khai ngày 12/7/2024 nguyên đơn ông Trần Minh K trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông K và bà Trần Thị Diệu L kết hôn với nhau vào năm 2019, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, thị xã B, tỉnh Bình Dương. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống vui vẻ hạnh phúc được khoảng hơn 02 năm.
Từ khoảng tháng 5/2021 đến nay, do sự khác biệt về tính cách và bất đồng về quan điểm sống, vợ chồng đã ly thân với nhau. Từ khi ly thân nhau, bà Trần Thị Diệu L về nhà cha mẹ ruột của mình tại Đà Nẵng (địa chỉ tại số A P, phường P, quận H, thành phố Đà Nẵng) sinh sống và ông K cùng bà L hoàn toàn không gặp nhau từ khi ly thân đến nay. Về bản thân mình, để giải thoát bản thân khỏi đời sống hôn nhân ngột ngạt, từ năm 2022, ông K đã có cuộc sống riêng và hiện đang thuê nhà trọ để sinh sống và làm việc tại thành phố Hồ Chí Minh. Kể từ thời gian ly thân nhau vào năm 2022 đến nay, do xác định tình cảm không còn và mục đích của hôn nhân không đạt được, ông K đã nhiều lần đề nghị bà L xem xét giải quyết nguyện vọng ly hôn của ông K và cùng ông K thoả thuận những vấn đề có liên quan đến việc ly hôn, để cả hai có thể chia tay trong văn minh vui vẻ, tôn trọng lẫn nhau. Tuy nhiên, trước những đề nghị của ông K, bà L hoàn toàn không xem xét, luôn né tránh những liên hệ và trao đổi của ông K. Đến tháng 5/2024, do quá mệt mỏi với việc né tránh thoả thuận giải quyết của bà L và xác định không còn tình cảm yêu thương bà L, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông K khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông K được ly hôn với bà L.
Về quan hệ con chung: Ông K xác định giữa ông K và bà Trần Thị Diệu L có 01 con chung tên Trần Sang M - Sinh ngày 10/04/2021. Ly hôn, ông K có nguyện vọng được giao con chung Trần Sang M - Sinh ngày 10/04/2021 cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi. Ông K tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 15.000.000đ cho đến khi con đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung: Ông K xác định không có.
Về nợ chung: Ông K xác định không có.
* Theo bản tự khai ngày 24/9/2024 và tại phiên tòa hôm nay, bị đơn bà Trần Thị Diệu L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà L và ông Trần Minh K đăng ký kết hôn tại UBND phường H, thị xã B, tỉnh Bình Dương vào ngày 21/3/2019. Sau khi kết hôn, vợ chồng chúng tôi sống tại địa chỉ: U S, Clayton V, M1, Úc vào năm 2019. Trong quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vào năm 2021 ông bà lần đầu mới có con nhỏ nên còn bỡ ngỡ và phải sống ở nước ngoài xa nhà không có sự hỗ trợ từ ông bà nội ngoại 2 bên, do đó tất cả mọi áp lực chăm sóc con nhỏ đè nặng lên vai của cả hai vợ chồng. Đồng thời, ông K cũng phải đi làm để kiếm tiền nuôi cả gia đình và ông K gặp stress trong công việc rất nhiều. Những điều này dẫn đến việc vợ chồng gặp thách thức trong sắp xếp cân đối giữa công việc, chăm sóc con nhỏ và vun xới tình cảm vợ chồng. Nay ông K có nguyện vọng ly hôn
thì bà L không đồng ý. Bởi vì bà L vẫn còn yêu thương ông K nên bà L tha thiết xin được đoàn tụ để hàn gắn hạnh phúc gia đình và cũng để cho con chung của ông bà được phát triển tốt về thể chất và tinh thần.
Về con chung: Bà L xác định có 1 con chung tên là Trần Sang M - Sinh ngày 10/04/2021. Bà L không đồng ý ly hôn nên đề nghị Tòa án không xét vấn đề con chung. Trong trường hợp Toà án giải quyết ly hôn thì bà L có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con thì ông K tự nguyện như thế nào là quyền của ông K.
Về tài sản chung: Bà L không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về nợ chung: Bà L không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Tại phiên tòa sơ thẩm, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu TP Đà Nẵng phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều đúng pháp luật.
Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; không chấp nhận đơn xin ly hôn của ông Trần Minh K đối với bà Trần Thị Diệu L; Do không chấp nhận đơn xin ly hôn của ông K nên các quan hệ con chung, tài sản chung, nợ chung không đề cập đến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” giữa nguyên đơn ông Trần Minh K đối với bị đơn bà Trần Thị Diệu L có địa chỉ cư trú quận H, thành phố Đà Nẵng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hải Châu theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn ông Trần Minh K có đơn đề nghị Toà án giải quyết, xét xử vắng mặt nên căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông K.
[2] Về nội dung vụ án: Ông Trần Minh K và bà Trần Thị Diệu L kết hôn vào năm 2019, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, thị xã B, tỉnh Bình Dương. Hôn nhân tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo ông K trình bày là do sự khác biệt về tính cách và bất đồng quan điểm sống, hai vợ chồng sống ly thân
với nhau và tình trạng hôn nhân trở nên trầm trọng, vợ chồng không yêu thương, quý trọng, chăm sóc giúp đỡ nhau. Nay ông K xác định tình cảm không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà L.
Bà Trần Thị Diệu L thống nhất với thời gian và điều kiện kết hôn như ông K trình bày; bà L xác định trong cuộc sống hôn nhân bà và ông K có phát sinh mâu thuẩn nhưng không đến mức trầm trọng, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng ra nước ngoài sinh sống gặp nhiều áp lực trong việc chăm sóc con cái và trong công việc nên nảy sinh mâu thuẫn, bản thân ông K không vững vàng trong tình cảm nên cũng bị người phụ nữ khác lôi kéo sống xa gia đình, vợ con. Khi có mâu thuẫn, bà L đã về nhà cha mẹ ruột ở Đà Nẵng để sinh sống một thời gian ngắn nhằm nhận được sự giúp đỡ của gia đình về việc chăm sóc con nhỏ. Thời gian gần đây khi biết ông K đã nộp đơn xin ly hôn bà L và ông K đã nhiều lần liên hệ, trao đổi nhau để cùng nhau hàn gắn, xây dựng lại hạnh phúc gia đình và theo bà L tình cảm vợ chồng, cha con có tiến triển tốt, ông K rất vui vẻ khi nói chuyện với con gái. Bà L xác định vẫn còn tình cảm và yêu thương ông K, mong muốn gìn giữ hạnh phúc gia đình và cần có thêm thời gian để hàn gắn tình cảm của vợ chồng nên bà L không đồng ý với yêu cầu xin ly hôn của ông K.
[3] Xét yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn thì thấy: Cuộc hôn nhân của ông Trần Minh K và bà Trần Thị Diệu L là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Quá trình chung sống, vợ chồng có phát sinh mâu thuẩn và ông K xác định không còn tình cảm với bà L nên yêu cầu Toà án giải quyết cho ly hôn với bà L. Bà L xác định vợ chồng có mâu thuẫn xuất phát từ áp lực công việc, vợ chồng trẻ tự lập, sống xa gia đình chưa có kinh nghiệm nhiều trong việc xử lý các mâu thuẫn phát sinh, ông K khi có mâu thuẫn với vợ đã bị người phụ nữ khác lôi kéo nhưng bà L xác định vẫn còn nhiều tình cảm yêu thương ông K nên mong muốn đoàn tụ để xây dựng hạnh phúc gia đình nên không đồng ý ly hôn. Xét thấy, hôn nhân của ông K, bà L có mâu thuẫn, trong quá trình Toà án giải quyết đã triệu tập bà L nhiều lần để tham gia tố tụng nhưng bà L vắng mặt. Tại phiên toà, bà L có mặt và trình bày bà L vắng mặt là do thời gian qua bà có công việc nên phải sang Úc để xử lý công việc và khi biết Toà án tiến hành xét xử vụ án bà đã phải gởi con lại ở nước ngoài về Việt Nam để tham gia phiên toà, bà L xác định vợ chồng con trẻ nên không tránh khỏi những mâu thuẫn, xích mích, ngay cả chuyện ông K ra ngoài sống chung với người khác bà L cũng chấp nhận tha thứ và tha thiết xin được đoàn tụ để vợ chồng cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình, nuôi dạy con cái trưởng thành. Do đó, HĐXX xét thấy mâu
thuẩn trong cuộc sống vợ chồng của ông K, bà L xuất phát từ những khó khăn trong cuộc sống mà hai vợ chồng trải qua dẫn đến bất đồng quan điểm, hôn nhân không hạnh phúc, ông K cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì chứng minh nguyên nhân mâu thuẫn xuất phát từ lỗi của bà L và xem xét sự tha thiết của bà L trong việc muốn hàn gắn gia đình nên Hội đồng xét xử xác định mâu thuẫn của ông K, bà L vẫn chưa đến mức trầm trọng cần có thời gian để vợ chồng hàn gắn cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình nên không có cơ sở để xác định có căn cứ cho ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên không chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Trần Minh K đối với bà Trần Thị Diệu L.
Do không chấp nhận đơn xin ly hôn của ông Trần Minh K nên các quan hệ con chung, tài sản chung, nợ chung HĐXX không đề cập đến.
[4] Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nguyên đơn phải chịu theo luật định.
[5] Xét các đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa hôm nay là hoàn toàn phù hợp và đúng quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 63, 147, 227, 235, 266 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ Khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Minh K đối với bị đơn bà Trần Thị Diệu L về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung khi ly hôn".
- Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng y) ông Trần Minh K phải chịu nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu, TP Đà Nẵng theo biên lai thu số 0000473 ngày 19/6/2024.
- Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm hôm nay. Nguyên đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao án hợp lệ.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc
bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận :
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Thị Mỹ Dung |
6
Bản án số 78/2024/HNGĐ-ST ngày 28/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP ĐÀ NẴNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 78/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
