|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 78/2024/HNGĐ-ST Ngày: 27/9/2024 V/v: “Ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Sơn Linh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Thạch Thị Lan Nhung
Bà Ngô Thị Luân
- Thư ký phiên toà: Ông Phan Trọng Thắng – là Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng tham
gia phiên tòa: Ông Mai Trường Trinh – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lâm Hà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 172/2024/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2024 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2024/QĐXXST – HNGĐ ngày 26 tháng 8 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 33/2024/QĐST – HNGĐ ngày 11 tháng 9 năm 2024 của Tòa án Lâm Hà giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: chị Công Thị N, sinh năm: 1981.
Địa chỉ: thôn P, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
-
Bị đơn: anh Võ Viết T, sinh năm: 1982.
Địa chỉ: thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
(chị N có đơn xét xử vắng mặt, anh T vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn và bản tự khai nguyên đơn chị Công Thị N trình bày: chị và anh T xây dựng gia đình với nhau vào năm 2000 trên cơ sở tự nguyện, nhưng đến năm 2007 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn nhưng đến năm 2017 thì mâu thuẫn gay gắt nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung và không quan tâm đến nhau nên vợ chồng đã tự sống ly thân từ tháng 01 năm 2024 cho đến nay. Vì vậy, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T vì vợ chồng không thể tiếp tục chung sống với nhau. Về con chung chị N xác định vợ chồng có ba con chung là Võ Viết T1, sinh ngày 26/11/2000; Võ Viết N1, sinh ngày 15/7/2007 và Võ Thị Trà M, sinh ngày 26/3/2016. Hiện nay, cháu Võ Viết T1 đã đủ tuổi trưởng thành và phát triển bình thường nên chị N không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết, đối với cháu Võ Viết N1 chị N đề nghị Tòa án giải quyết theo nguyện vọng của con, nếu con ở với chị thì chị không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con, còn cháu Võ Thị Trà M chị N đề nghị được nuôi con, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: chị N xác định vợ chồng tự thỏa thuận giải quyết với nhau không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết; về nợ chung chị N xác định vợ chồng có vay của ngân hàng C, phòng G số tiền là 30.000.000đồng, khi ly hôn chị N nhận trách nhiệm một mình trả toàn bộ số nợ trên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết. Ngoài ra, chị N không còn yêu cầu gì khác.
Bị đơn anh Võ Viết T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng như thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về việc mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ nhưng anh T đều không có văn bản trình bày ý kiến gửi cho Tòa án và cũng không có mặt khi Tòa án triệu tập. Tòa án đã kết hợp với chính quyền địa phương đến nhà anh T nhưng vẫn không gặp được anh T nên không lấy được lời khai của anh T. Tuy nhiên, qua xác minh thực tế tại địa phương thì được biết vợ chồng anh T và chị N phát sinh mâu thuẫn và vợ chồng đã sống ly thân.
Tòa án đã tiến hành mở phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh T vắng mặt, còn chị N vẫn giữ nguyên yêu cầu của mình nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Do bận công việc nên chị N có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng cũng như phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án theo hướng đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của chị Công Thị N. Về con chung: giao con là Võ Viết N1, sinh ngày 15/7/2007 và Võ Thị Trà M, sinh ngày 26/3/2016 cho chị Công Thị N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục theo nguyện vọng của con. Anh Võ Viết T không phải cấp dưỡng nuôi con, còn cháu Võ Viết T1 đã đủ tuổi trưởng thành và phát triển bình thường nên không đặt ra để xem xét, giải quyết. Về tài sản chung: chị Công Thị N xác định vợ chồng tự thỏa thuận giải quyết với nhau, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết nên không đặt ra để xem xét, giải quyết. Về nợ chung: chị Công Thị N xác định vợ chồng có vay của ngân hàng C, phòng G số tiền là 30.000.000đồng, khi ly hôn chị N nhận trách nhiệm một mình trả toàn bộ số nợ vay không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết, đồng thời chị N đã tất toán số nợ trên vào ngày 14/6/2024 và Ngân hàng có văn bản không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết. Về án phí, buộc chị Công Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận của đương sự cũng như ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: nguyên đơn chị Công Thị N có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Võ Viết T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do và không thuộc trường hợp bất khả kháng nên căn cứ điểm Điều 227; Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị N và anh T theo thủ tục chung là phù hợp.
[2] Về quan hệ hôn nhân: chị Công Thị N và anh Võ Viết T xây dựng gia đình với nhau vào năm 2000, trên cơ sở tự nguyện nhưng đến năm 2007 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng vào ngày 15/8/2007. Việc đăng ký kết hôn không vi phạm các điều kiện cấm kết hôn theo quy định của luật hôn nhân và gia đình nên quan hệ hôn nhân của chị N và anh T là hợp pháp. Tuy nhiên, cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc nên chị N làm đơn khởi kiện ly hôn. Xét thấy, vợ chồng chị N và anh T phát sinh mâu thuẫn là do vợ chồng không có sự chia sẻ với nhau trong cuộc sống, vợ chồng thiếu sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, trong cách xử sự thì thiếu sự kiềm chế nên thường xảy ra bất hòa. Sau khi phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng cũng đã nhiều lần tìm cách để cải thiện tình cảm nhưng không có kết quả. Vì vậy, từ tháng 01 năm 2024 đến nay hai vợ chồng sống ly thân không còn sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Bên cạnh đó, bản thân anh T cũng không có thiện chí nhằm cải thiện quan hệ hôn nhân của hai anh chị, cụ thể là từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến nay, đã nhiều lần Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng anh T đều vắng mặt không có lý do. Do đó, nếu kéo dài tình trạng hôn nhân như hiện nay cũng không mang lại hạnh phúc cho các đương sự do mâu thuẫn vợ chồng đã kéo dài, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, cần chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Công Thị N, xử cho chị Công Thị N và anh Võ Viết T được ly hôn là hoàn toàn phù hợp.
[3] Về con chung: chị Công Thị N và anh Võ Viết T có ba con chung là Võ Viết T1, sinh ngày 26/11/2000, Võ Viết N1, sinh ngày: 15/7/2007 và Võ Thị Trà M, sinh ngày 26/3/2016. Xét thấy, cháu Võ Viết N1 và cháu Võ Thị Trà M đã trên bảy tuổi và có nguyện vọng ở với mẹ. Vì vậy, để đảm bảo điều kiện học tập và sinh hoạt ổn định của cháu N1 và cháu M, căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 81 luật hôn nhân và gia đình, giao con chung là Võ Viết N1, sinh ngày: 15/7/2007 và Võ Thị Trà M, sinh ngày 26/3/2016 cho chị Công Thị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục theo nguyện vọng của con. Về việc cấp dưỡng nuôi con do chị N không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Đối với cháu Võ Viết T1 đã đủ tuổi trưởng thành và phát triển bình thường nên không xem xét giao con cho chị N hoặc anh T có trách nhiệm trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục mà đây là trách nhiệm làm cha, làm mẹ của chị N, anh T đối với con.
[4] Về tài sản chung: chị N xác định vợ chồng tự thỏa thuận giải quyết với nhau không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Về nợ chung chị N xác định có có vay của ngân hàng C, phòng G số tiền là 30.000.000đồng, khi ly hôn chị N nhận trách nhiệm một mình trả toàn bộ số nợ trên, không yêu cầu anh T có trách nhiệm trả nợ cùng, chị N đã tất toán toàn bộ khoản vay vào ngày 14/6/2024, đồng thời, Ngân hàng C, phòng giao dịch huyện G có văn bản không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét, giải quyết. Còn anh T vắng mặt và cũng không có lời khai cụ thể về vấn đề tài sản chung, nợ chung của vợ chồng trong quá trình chung sống nên Hội đồng xét xử không có cơ sở đặt ra để xem xét trong vụ án này. Sau này nếu anh T cho rằng quá trình chung sống vợ chồng có tạo lập được tài sản chung cũng như có nợ chung và có phát sinh tranh chấp thì sẽ được Tòa án xem xét giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác theo thủ tục chung.
[5] Về án phí: buộc chị Công Thị N phải chịu 300.000đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 203; Điều 227; Điều 228; Điều 235; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58; Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
-
Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Công Thị N, xử cho chị Công Thị N và anh Võ Viết T được ly hôn.
-
Về con chung: giao con chung là Võ Viết N1, sinh ngày: 15/7/2007 và Võ Thị Trà M, sinh ngày 26/3/2016 cho chị Công Thị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục theo nguyện vọng của con. Anh Võ Viết T không phải cấp dưỡng nuôi con.
Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
-
Về án phí: chị Công Thị N phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Công Thị N đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004740 ngày 30 tháng 5 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà, chị Công Thị N đã nộp đủ án phí.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự”.
Chị Công Thị N và anh Võ Viết T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
|
- TAND tỉnh Lâm Đồng; - VKSND huyện Lâm Hà; - THADS huyện L; - UBND xã T; - Các đương sự; - Lưu HSVA. |
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Sơn L |
Bản án số 78/2024/HNGĐ-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG về ly hôn
- Số bản án: 78/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án ly hôn giữa nguyên đơn chị Công Thị N và bị đơn anh Võ Viết T
