|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 78/2024/DS-PT Ngày 26 tháng 9 năm 2024 “V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Điêu Thị Bích Lượt.
Các Thẩm phán:
- Ông Nguyễn Hán Hưởng;
- Bà Nguyễn Thị Thùy Hương.
Thư ký phiên tòa: Bà Phùng Thị Thu Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Thanh Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 75/2024/TLPT-DS ngày 20 tháng 8 năm 2024 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 30/2024/DS-ST ngày 24/6/2024 của Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 88/2024/QĐ-PT ngày 28/8/2024 và quyết định hoãn phiên tòa giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Đức T, sinh năm 1949 và bà Mai Thị T1, sinh năm 1951
Cùng trú tại: Tổ B, khu A, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt)
Đại diện theo ủy quyền của ông T: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1980;
Địa chỉ: Số D, đường N, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc. (Vắng mặt)
Bị đơn:
- Ông Vũ Ngọc T2, sinh năm 1956 (Vắng mặt)
- Anh Vũ Anh T3, sinh năm 1984 (Có mặt)
- Anh Vũ Đức T4, sinh năm 1994 (Vắng mặt)
Cùng trú tại: Số nhà G, Đại lộ H, phố V, phường B, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1959; trú tại: Số nhà G, Đại lộ H, phố V, phường B, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. (Vắng mặt)
- UBND thành phố V, tỉnh Phú Thọ
Địa chỉ: Phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thành T5 - Chức vụ: Phó Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố V. (Vắng mặt)
- UBND phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ
Đại diện theo ủy quyền: ông Trần Anh T6 - Chức vụ: Phó Chủ tịch UBND phường T (Vắng mặt)
Người làm chứng:
- Ông Nguyễn Ngọc H1, sinh năm 1948; nơi cư trú: Tổ B, khu A, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt)
- Ông Nguyễn Thanh V, sinh năm 1961; nơi cư trú: Thôn D, xã P, huyện B, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt)
- Ông Nguyễn Văn L1, sinh năm 1964
TT: SN 23, ngõ G, thôn D, đường M, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc. (Vắng mặt)
Người kháng cáo: Ông Nguyễn Đức T - Là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn ông Nguyễn Đức T, bà Mai Thị T1, đại diện theo ủy quyền của ông T thống nhất trình bày:
Năm 1992, mong muốn thúc đẩy làm kinh tế VAC nên ông bà có đổi mục đích sử dụng từ đất ruộng về để làm đất ao nuôi cá, trong đó có phần đất phía Tây nam, giáp vườn tre của ông H1 và ngăn 01 ô để ươm cá giống. Sau này, UBND thành phố V cấp Giấy CNQSDĐ cho hộ bà Mai Thị T1 theo Quyết định số: 369/QĐ-UB ngày 22/6/1999, số thửa đất là 63, tờ bản đồ 12, diện đất 2290 m², địa chỉ tại khu A, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Hộ gia đình ông bà gồm có ông T và bà T1 nên đất thuộc quyền sử dụng của vợ chồng ông bà, không liên quan gì đến các con.
Ngày 01/5/2009, ông Vũ Ngọc T2 cùng con trai là anh T6 và cán bộ địa chính phường T đã phá rào cho xe đổ đất, đá vào một phần diện tích đất ông bà đang sử dụng. Vợ chồng ông bà có ra ngăn lại không cho đổ thì ông T2, anh T6 tuyên bố đất này nay là của hộ ông T2, gia đình ông bà không có quyền ngăn cản. Do thấy quá vô lý và bức xúc nên ông bà đã làm đơn đến UBND phường T để giải quyết. Qua nhiều lần đo đạc ông bà thấy đất ao đều bị thiếu, chính quyền địa phương nhận sai sót và yêu cầu gia đình ông T2 không được lấn sang đất hộ ông bà nữa, bìa đất sẽ điều chỉnh sau.
Năm 2022, hộ ông bà bị Nhà nước thu hồi toàn bộ thửa đất số 63 diện tích 2.290m² nhưng sau đó Nhà nước điều chỉnh chỉ thu hồi một phần là 1867,5 m², phần diện tích còn lại là 422,5 m². Phần diện tích đất này đã san lấp mặt bằng và gia đình ông chưa đi cấp lại Giấy CNQSDĐ theo hiện trạng.
Sau đó, ông bà có kiểm tra bản đồ chi tiết vị trí lộ giới đường thì thấy diện tích đất ao của ông bà còn lại sau khi thu hồi bị lấn chiếm diện tích là 74,8m². Năm 2013, ông T2 bà L có làm hợp đồng tặng cho anh T6 và anh T4 (anh T6, anh T4 là con trai ông T2, bà L) một phần đất nêu trên, nay ông bà xác định 03 người sử dụng đất cùng lấn chiếm đất nhà ông bà là ông T2, anh T6, anh T4.
Đến nay, ông bà đề nghị Tòa án buộc ông T2, anh T6 và anh T4 phải trả lại cho gia đình ông bà diện tích đất đã lấn chiếm là 74,8 m². Ông xác định trên đất tranh chấp không có công trình, vật kiến trúc, cây cối ăn quả lâu năm gì. Ngoài ra, ông bà đề nghị hủy Giấy CNQSDĐ đã cấp cho hộ ông Vũ Ngọc T2 tại thửa đất 65, tờ bản đồ 12, địa chỉ thửa đất khu A, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
Bị đơn ông Vũ Ngọc T2, anh Vũ Anh T3, anh Vũ Đức T4 thống nhất trình bày:
Gia đình ông sử dụng thửa đất số 65, tờ bản đồ 12, diện tích 243,5 m² đã được UBND thành phố V, tỉnh Phú Thọ cấp Giấy CNQSDĐ ngày 31/3/2008, đứng tên ông Vũ Ngọc T2 và bà Nguyễn Thị L.
Nguồn gốc thửa đất trên là của ông Nguyễn Ngọc H1 và bà Nguyễn Thị S chuyển nhượng cho vợ chồng ông Nguyễn Thanh V, bà Đỗ Thị D bằng giấy viết tay ngày 12/12/1991, đến ngày 12/01/2007 UBND thành phố V cấp Giấy CNQSDĐ cho vợ chồng ông V, bà D. Sau đó, ông V, bà D chuyển nhượng thửa đất này cho ông Nguyễn Văn L1 và bà Nguyễn Thị O, được cấp Giấy CNQSDĐ ngày 24/5/2007. Đến tháng 02/2008, ông T2 có nhận chuyển nhượng QSDĐ từ ông Nguyễn Văn L1, bà Đỗ Thị O1 thửa đất số 65, tờ bản đồ số 12, diện tích 243,5m²; loại đất: Đất ở, địa chỉ thửa đất tại khu A, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Sau đó ông bà được UBND thành phố V cấp GiấyCNQSDĐ. Ngày 07/10/2013, vợ chồng ông bà đã lập hợp đồng tặng cho anh T3, anh T4 một phần thửa đất nêu trên tại Phòng C tỉnh Phú Thọ, nhưng chưa làm thủ tục tách bìa và cấp Giấy CNQSDĐ vì vướng quy hoạch làm đường T.
Đối với thửa đất trên từ thời điểm các chủ cũ sử dụng không có tranh chấp gì và từ khi nhận chuyển nhượng đến nay vợ chồng ông T2 bà L vẫn sử dụng ổn định, không tranh chấp với ai, đúng diện tích, ranh giới. Trên đất chủ cũ có nhà cấp 4 diện tích khoảng 45 m², gian nhà vệ sinh và bếp khoảng 20m²; có 1 số cây cối, cụ thể là hàng cau gồm 04 cây thẳng hàng từ đường bê tông đến đường giao thông.
Phía bị đơn khẳng định việc cấp Giấy CNQSDĐ đối với thửa đất số 65, tờ bản đồ số 12, diện tích 243,5 m² cho hộ ông là hoàn toàn phù hợp với pháp luật. Nay ông T, bà T1 đề nghị Tòa án buộc ông T2, anh T3, anh T4 phải trả lại diện tích đất đã lấn chiếm là khoảng 74,8 m² và đề nghị hủy giấy CNQSDĐ đã cấp cho hộ ông T2, bà L tại thửa đất nêu trên. Phía bị đơn không đồng ý.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xem xét, thẩm định và đo đạc lại các thửa đất tranh chấp, phía ông T2, anh T3, anh T4 nhận thấy gia đình có sử dụng 8,9 m² thuộc thửa đất 63, tờ bản đồ 12, nay gia đình tự nguyện trả lại 8,9 m² nói trên cho gia đình ông T, bà T1. Ngoài ra, hiện trạng sử dụng thửa đất 65, tờ bản đồ 12 có sự lấn chiếm từ hộ ông T, bà T1 và UBND phường T, nhưng tại vụ án này phía bị đơn không đề nghị giải quyết, nếu có tranh chấp sẽ đề nghị giải quyết bằng vụ án khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị L: Thống nhất với lời khai của các bị đơn, không có ý kiến gì thêm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là UBND thành phố V, tỉnh Phú Thọ do đại diện theo ủy quyền trình bày:
Qua kiểm tra hồ sơ sổ sách, bản đồ địa chính lưu tại UBND phường T cho thấy: Hộ ông Nguyễn Thanh V và bà Đỗ Thị D được UBND thành phố cấp Giấy CNQSDĐ số AH 785774 ngày 12/01/2007 theo Quyết định số 125/QĐ-UBND tại thửa số 65, tờ bản đồ số 12, diện tích 243,5 m² đất ở thuộc khu A, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Nguồn gốc đất thổ cư cũ đã chia tách (nhận chuyển nhượng đất thổ cư của ông Nguyễn Ngọc H1).
Sau khi được cấp GiấyCNQSDĐ ông Nguyễn Thanh V và bà Đỗ Thị D đã lập Hợp đồng chuyển nhượng toàn bộ QSDĐ cho ông Nguyễn Văn L1, bà Đỗ Thị O1 và được UBND phường T xác nhận ngày 23/4/2007. Ông Nguyễn Văn L1, bà Đỗ Thị O1 đã được UBND thành phố V cấp GiấyCNQSDĐ số AK 046560 theo Quyết định số 1598/QĐ-UBND ngày 24/5/2007. Ngày 22/02/2008, ông Nguyễn Văn L1, bà Đỗ Thị O1 lập Hợp đồng chuyển nhượng toàn bộ QSDĐ cho ông Vũ Ngọc T2 và bà Nguyễn Thị L tại UBND phường T. Ông Vũ Ngọc T2 và bà Nguyễn Thị L đã được UBND thành phố V cấp GiấyCNQSDĐ số AK 038414 theo Quyết định số 1464/QĐ-UBND ngày 31/3/2008. Việc hộ gia đình ông T2, bà L mua nhận chuyển nhượng đất đã được cấp GiấyCNQSD đất của ông L1, bà O1 là hoàn toàn hợp pháp.
Ngày 07/10/2013, ông Vũ Ngọc T2 và bà Nguyễn Thị L đã lập Hợp đồng tặng cho 02 con trai là Vũ Anh T3 và Vũ Đức T4 một phần thửa đất nêu trên tại Phòng C tỉnh Phú Thọ. Anh T3, anh T4 có đến UBND phường T để làm thủ tục đăng ký cấp Giấy CNQSD đất, tuy nhiên do thửa đất liên quan đến việc quy hoạch đường T nên UBND phường T đã không xác nhận hồ sơ, đến nay anh T3, anh T4 chưa được cấp Giấy CNQSD đất.
Qua kiểm tra hồ sơ, bản đồ địa chính lưu tại UBND phường T cho thấy: Thửa đất số 63, tờ bản đồ số 12, diện tích 2290m², đất ao (NTTS) được UBND Thành phố cấp GCNQSD đất ngày 22/6/1999 theo Quyết định số 369/QĐ-UB. Thực hiện Dự án Đường T (đoạn từ nút giao thông đường sắt Hà Nội - Lào Cai đến nút giao thông đường H), thành phố V, ngày 08/11/2022 UBND thành phố V đã ban hành Quyết định số 5128/QĐ-UBND điều chỉnh diện tích thu hồi của hộ bà Mai Thị T1, trong đó diện tích thu hồi là 1887,5m², diện tích còn lại 422,5m². Hộ bà T1 đã nhận tiền bồi thường và quản lý sử dụng toàn bộ diện tích còn lại (ngày 31/10/2022, Bà T1 có đơn đề nghị được bồi thường cây cối hoa màu trên đất và đồng ý cho Dự án mượn phần diện tích còn lại để thực hiện thi công đường T). Thửa đất số 63, tờ bản đồ số 12 được UBND thành phố V cấp giấy CNQSDĐ ngày 22/6/1999 sau khi thu hồi một phần diện tích nay bà T1, ông T đã được chỉnh lý biến động trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là UBND phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ do đại diện theo ủy quyền trình bày:
Qua kiểm tra, đối chiếu các tài liệu tại UBND phường T còn lưu trữ và bản trích đo hiện trạng thửa đất, bản trích đo hiện trạng ghép bản đồ địa chính (do Công ty TNHH K thực hiện đo đạc), vị trí đề nghị thuộc một phần thửa là 63, 65, tờ bản đồ 12, địa chỉ tại tổ B, khu A, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
Thửa đất 63, tờ bản đồ 12 có nguồn gốc từ đất ruộng thuộc một phần đồng chiêm trũng thửa 146, tờ bản đồ 11, diện tích 53.251 m² (theo bản đồ 299, đo đạc hoàn thành năm 1991), sau này được UBND thành phố V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Quyết định số 369/QĐ-UB ngày 22/6/1999, đứng tên hộ bà Mai Thị T1, diện tích cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 2290m² (theo thực tế gia đình ông T, bà T1 đào ao thả cá). Quá trình sử dụng đến năm 2022 thì hộ bà Mai Thị Thanh B nhà nước thu hồi quyền sử dụng đối với một phần diện tích ao nói trên để thực hiện xây dựng dự án đường T, hộ gia đình đã giải tỏa và nhận tiền đền bù. Diện tích đất ao còn lại của hộ gia đình bà T1 là 422,5m², thửa đất này vẫn chưa được cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ bà T1, ông Thực hiện T7 thửa đất hộ bà T1, ông T đã san lấp đất không còn hiện trạng ao như ban đầu.
Thửa đất số 65, tờ bản đồ 12:
Về nguồn gốc: Thửa đất số 65, tờ bản đồ 12 có nguồn gốc từ thửa đất thổ cư cũ của hộ ông Nguyễn Thanh V.
Tại bản đồ 299 thành lập năm 1991, tờ bản đồ 11, thửa đất nói trên thuộc một phần đường giao thông và một phần thửa 212, diện tích 77,0m², không thể hiện mục đích sử dụng đất.
Tại bản đồ địa chính phường T, năm 1997, thửa đất 65 nói trên thuộc một phần thửa 65, tờ bản đồ 12, diện tích 44,7m², loại đất: Hg (đất hoang) và một phần thuộc thửa 85, tờ bản đồ 12, diện tích 1031,9m² loại đất Ao, chưa đăng ký chủ sử dụng.
Năm 2007, quá trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Nguyễn Thanh V đã đăng ký và chỉnh lý biến động vị trí cấp giấy chứng nhận là thửa 65, tờ bản đồ 12, diện tích là 243,5 m², MÐSD: đất ở. Ngày 12/01/2007, hộ Nguyễn Thanh V được UBND thành phố V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 785774, số vào sổ 3675 theo Quyết định 125/QĐ- UBND ngày 12/01/2007.
Về di biến động:
Ngày 23/4/2007, ông Nguyễn Thanh V có chuyển nhượng toàn bộ thửa đất số 65, tờ bản đồ 12, diện tích 243,5 m² đất ở cho ông Nguyễn Văn L2, bà Nguyễn Thị O. Đến ngày 24/5/2007 được UBND thành phố V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 046560 số vào sổ 3734 theo Quyết định 1598/QĐ-UB ngày 24/5/2007.
Ngày 22/02/2008, ông Nguyễn Văn L1, bà Nguyễn Thị O có chuyển nhượng toàn bộ thửa đất số 65, tờ bản đồ 12, diện tích 243,5m² đất ở cho ông Vũ Ngọc T2, bà Nguyễn Thị L. Đến ngày 31/3/3008, được UBND thành phố V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 038414 số vào sổ 4112 theo Quyết định 1464/QĐ-UB ngày 31/3/2008.
Về hiện trạng thửa đất: Hiện tại có 01 ngôi nhà cấp 4 và công trình phụ liền kề.
Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 65, tờ bản đồ 12 cho các hộ gia đình trên, thì UBND phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ khẳng định việc lập, hoàn thiện hồ sơ ban đầu đúng theo quy định pháp luật.
Những người làm chứng:
Ông Nguyễn Ngọc H1 trình bày: Ông có 01 thửa đất được ông cha để lại giáp thửa đất thổ cư nhà ông và giáp đường làng, ông sử dụng thửa đất trên để trồng tre, thửa đất này có số thửa là 65, tờ bản đồ 12, diện tích lúc ông sử dụng là khoảng 75 m², sau khai phá thêm là khoảng 120 m², địa chỉ thửa đất: Khu A, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
Khoảng năm 1990 đến năm 1993, ông H1 có chuyển nhượng thửa đất trên cho ông Nguyễn Văn Đ có viết giấy viết tay, để hai bên xây dựng quán kinh doanh, sau thì việc kinh doanh không thực hiện được.
Đến năm 2004, ông và ông Đ bàn nhau bán lại thửa đất này cho ông Nguyễn Thanh V rồi chia nhau tiền, số tiền bán là 20.000.000 đồng, có giấy viết tay, nhưng việc mua bán này không thành, ông V chưa trả tiền thì bị tai nạn, lợi dụng việc có bản phô tô giấy viết tay bán đất nên ông V đã làm thủ tục cấp Giấy CNQSDĐ đối với thửa đất 65, tờ bản đồ 12, sau khi được cấp Giấy CNQSDĐ, ông V có chuyển nhượng lại thửa đất này cho người khác và ông không hề hay biết, ông khẳng định ông chưa hề chuyển nhượng hợp pháp thửa này cho bất kỳ ai.
Ông Nguyễn Thanh V trình bày: Ông là chủ sử dụng đối với thửa đất 65, tờ bản đồ 12, địa chỉ thửa đất tại tổ B, khu A, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Ông nhận chuyển nhượng thửa đất trên từ ông Nguyễn Ngọc H1, diện tích đất nhận chuyển nhượng là 120 m², ông không chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất trên cho ông L1, việc ông L1 được cấp Giấy CNQSDĐ là không đúng quy định pháp luật.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 30/2024/DS-ST ngày 24/6/2024, Tòa án nhân dân (TAND) thành phố V đã quyết định:
Căn cứ khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39; các Điều 147, 227, 228, 229, 264 và Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 8, 163, 166, 169 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 26 và Điều 166 Luật Đất đai năm 2013; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: 1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn;
Buộc vợ chồng ông Vũ Ngọc T2 và bà Nguyễn Thị L phải trả cho vợ chồng ông Nguyễn Đức T và bà Mai Thị T1 diện tích đất lấn chiếm là 8,9m² tại vị trí số S14 (chỉ giới 3,4,48,3) theo kết quả đo đạc ngày 08/12/2023 do Tòa án trưng cầu, được thực hiện bởi Công ty TNHH K (Có bản vẽ hiện trạng kèm theo).
2. Bác yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Đức T, bà Mai Thị T1 về việc buộc hộ ông Vũ Ngọc T2 và bà Nguyễn Thị L phải trả lại diện tích lấn chiếm là 65,9 m² tại vị trí số S2 (chỉ giới 3,4,6,8,9,43,44,47,3) theo kết quả đo đạc ngày 08/12/2023 do Tòa án trưng cầu, được thực hiện bởi Công ty TNHH K (Có bản vẽ hiện trạng kèm theo).
Ngoài ra, bản án còn tuyên nghĩa vụ chịu án phí, chi phí tố tụng, quyền yêu cầu thi hành án và các quyền khác theo quy định của pháp luật.
Ngày 04/7/2024, ông Nguyễn Đức T kháng cáo không đồng ý với bản án sơ thẩm đề nghị cấp phúc thẩm xét xử huỷ bản án sơ thẩm điều tra xét xử lại.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Ông Nguyễn Đức T giữ nguyên kháng cáo đề nghị hủy bản án sơ thẩm, xét xử sơ thẩm lại và đưa ra những căn cứ kháng cáo:
- Bản án sơ thẩm xác định sai tư cách tố tụng của ông H1, ông V dẫn đến đưa thiếu người tham gia tố tụng là vợ của ông H1 và ông V.
- Bản án sơ thẩm không xem xét hết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đề nghị hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bị đơn, để chuyển vụ án giải quyết theo thẩm quyền.
- Bản trích đo hiện trạng sử dụng đất và áp bản đồ địa chính, hồ sơ thu hồi đất hộ bà Mai Thị T1 và ông Vũ Đức T8, địa chỉ tại: Phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ đối với thửa đất số 63, 65, tờ bản đồ số 12 thực hiện ngày 08/12/2023 bởi Công ty TNHH K sử dụng bản đồ địa chính năm bao nhiêu chưa được cấp sơ thẩm làm rõ, dẫn đến chỉ quyết định chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông T là không đảm bảo quyền lợi cho ông T.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 308 BLTTDS không chấp nhận đơn kháng cáo của ông Nguyễn Đức T, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 30/2024/DS-ST ngày 24/6/2024 của Tòa án nhân dân (TAND) thành phố V.
(Chi tiết tại bài phát biểu của Kiểm sát viên lưu hồ sơ vụ án)
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên; Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Kháng cáo của ông Nguyễn Đức T là nguyên đơn trong hạn luật định, đơn hợp lệ nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét nội dung kháng cáo, theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung kháng cáo:
Thứ nhất: Ông T kháng cáo cho rằng Bản án sơ thẩm xác định sai tư cách tố tụng của ông H1, ông V dẫn đến đưa thiếu người tham gia tố tụng là vợ của ông H1 và ông V. Hội đồng xét xử nhận định như sau: Trong vụ án ông T khởi kiện ông T8, bà T1, anh T3, anh T4 trả lại diện tích đất mà ông T cho rằng gia đình ông T8 lấn chiếm. Quá trình giải quyết vụ án, bản án sơ thẩm đưa ông H1 là người chủ sử dụng đầu tiên của thửa đất số 65, tờ bản đồ số 12, ông V là người được ông H1 chuyển nhượng lại thửa đất số 65, tờ bản đồ số 12, ông L1 là người nhận chuyển nhượng lại thửa đất số 65, tờ bản đồ số 12 của ông V và bán lại thửa đất số 65, tờ bản đồ số 12 cho ông T8, bà T1 vào tham gia tố tụng với tư cách người làm chứng. Hiện nay thửa đất của ông T8, bà T1 đã được UBND thành phố V cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2008 đứng tên ông T8, bà T1. Do vậy, ông H1, ông V, ông L1 không có quyền lợi, nghĩa vụ gì liên quan đến vụ án này nên cấp sơ thẩm xác định 03 ông chỉ là người làm chứng là đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm ông H1, ông V cho rằng không có việc ông V ký hợp đồng chuyển nhượng thửa đất số 65, tờ bản đồ số 12 cho ông L1, do vậy không có việc ông L1 chuyển nhượng cho ông T8, bà T1 và đề nghị giám định chữ ký trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông V với ông L1 vì ông V cho rằng chữ ký trong hợp đồng không phải của ông V và ông V đề nghị hủy giấy chứng nhận của ông T8, bà T1. Tuy nhiên, như phân tích trên trong vụ án này, Tòa án cấp sơ thẩm chỉ xem xét yêu cầu khởi kiện của ông T, Tòa án cấp phúc thẩm cũng chỉ xem xét những nội dung thuộc phạm vi của bản án sơ thẩm và nội dung kháng cáo của ông T. Việc ông V đề nghị giám định chữ ký trong hợp đồng chuyển nhượng thửa đất số 65, tờ bản đồ số 12 ký kết giữa ông V với ông L1 và ông V đề nghị hủy giấy chứng nhận của ông T8, bà T1 không thuộc phạm vi xét xử của bản án phúc thẩm nên không được Hội đồng xét xử xem xét. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xác định ông H1, ông V là người làm chứng và không đưa vợ ông H1, vợ ông V tham gia tố tụng trong vụ án là phù hợp với pháp luật. Ông V có quyền khởi kiện vụ án khác theo quy định của pháp luật.
Thứ hai: Bản án sơ thẩm không xem xét hết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc đề nghị hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bị đơn và không chuyển vụ án giải quyết theo thẩm quyền. Đối với nội dung này, sau phiên tòa xét xử phúc thẩm ngày 20/9/2024, bị đơn là anh Vũ Anh T3 đã có đơn đề nghị TAND thành phố Việt Trì giải thích đối với bản án sơ thẩm số 30/2024/DS-ST ngày 24/6/2024. Tại Văn bản số 341 ngày 23/9/2024, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa cấp sơ thẩm đã giải thích nội dung đơn đề nghị của ông T3 như sau:
Tại mục 2.2 bản án sơ thẩm số 30/2024/DS-ST ngày 24/6/2024 của TAND thành phố Việt Trì đã nhận định rõ:
Phía nguyên đơn yêu cầu hủy GiấyCNQSDĐ đã cấp cho hộ ông Vũ Ngọc T2 tại thửa đất 65, tờ bản đồ 12, địa chỉ thửa đất: khu A, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, thấy rằng:
UBND phường T và UBND thành phố V đã khẳng định bằng văn bản và cung cấp tài liệu, chứng cứ về trình tự, thủ tục cấp GiấyCNQSDĐ, thu hồi một phần diện tích đất của hộ bà T1, ông T, việc cấp Giấycho hộ ông Nguyễn Thanh V, hộ ông Nguyễn Văn L1, hộ ông Vũ Ngọc T2 là hoàn toàn đúng quy định pháp luật. Giả thiết nếu việc cấp Giấycho hộ ông T2 là sai, dẫn đến diện tích đất hộ ông T2 tăng lên và diện tích thửa đất hộ ông T giảm xuống thì cũng không thể hủy GiấyCNQSDĐ đã cấp cho hộ ông T2 được vì bản thân hộ ông T2, bà L chỉ nhận chuyển nhượng lại thửa đất 65, tờ bản đồ 12 từ hộ ông Nguyễn Văn L1, hộ ông L1 đã được cấp Giấyđối với thửa đất trên hợp pháp chứ không phải hộ ông T2 được cấp Giấylần đầu, nên hộ ông T2 không biết và không buộc phải biết việc cấp Giấycủa những chủ sử dụng đất trước là đúng hay không đúng. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét yêu cầu hủy GiấyCNQSDĐ đã cấp cho hộ ông Vũ Ngọc T2, tại thửa đất số 65, tờ bản đồ số 12 là phù hợp.
Mục 2.2 của bản án phần trên đã nhận định trình tự, thủ tục cấp GiấyCNQSDĐ, thu hồi một phần diện tích đất của hộ bà T1, ông T, việc cấp Giấycho hộ ông Nguyễn Thanh V, hộ ông Nguyễn Văn L1, hộ ông Vũ Ngọc T2 là hoàn toàn đúng quy định pháp luật. Phần dưới Mục 2.2 của bản án có nội dung: “Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét yêu cầu hủy GiấyCNQSDĐ đã cấp cho hộ ông Vũ Ngọc T2, tại thửa đất 65, tờ bản đồ 12 là phù hợp”. Nội dung này được hiểu vì phần trên của phần nhận định đã nhận định trình tự, thủ tục cấp GiấyCNQSDĐ, thu hồi một phần diện tích đất của hộ bà T1, ông T, việc cấp Giấycho hộ ông Nguyễn Thanh V, hộ ông Nguyễn Văn L1, hộ ông Vũ Ngọc T2 là hoàn toàn đúng quy định pháp luật, nên không có căn cứ để Hội đồng xét xử xem xét yêu cầu hủy Giấyđã cấp cho hộ ông Vũ Ngọc T2, tại thửa đất 65, tờ bản đồ 12 chứ không phải Hội đồng xét xử không xem xét yêu cầu hủy Giấyđã cấp cho hộ ông Vũ Ngọc T2 của ông Nguyễn Đức T.
Tại tiểu mục 1 Mục 3 Công văn 196/TANDTC- PC ngày 03/10/2023 của TAND Tối cao đã hướng dẫn cụ thể: Trong quá trình giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, nguyên đơn, bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đề nghị hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trong trường hợp này, cần xác định đề nghị hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là yêu cầu của đương sự, nhưng không phải là yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập. Khi giải quyết vụ việc dân sự liên quan đến việc hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì phải được Tòa án xem xét giải quyết trong cùng một vụ việc dân sự theo quy định tại Điều 34 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì đề nghị hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không phải là yêu cầu khởi kiện, do vậy, phần quyết định của bản án không tuyên bác yêu cầu hủy GiấyCNQSDĐ đã cấp cho hộ ông Vũ Ngọc T2, tại thửa đất 65, tờ bản đồ 12.
Như vậy, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông T đã được xem xét, nhận định rất rõ trong bản án và nội dung văn bản giải thích của Thẩm phán cấp sơ thẩm hoàn toàn phù hợp với nội dung bản án số 30/2024/DS-ST ngày 24/6/2024 và phù hợp với quy định của pháp luật.
Đối với kháng cáo về việc không chuyển thẩm quyền giải quyết vụ án: Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại giải đáp số 02/2016/TANDTC ngày 19/9/2016 của TANDTC đã hướng dẫn:
Điều 34 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định về thẩm quyền của Tòa án đối với quyết định cá biệt của cơ quan, tổ chức:
“1. Khi giải quyết vụ việc dân sự, Tòa án có quyền hủy quyết định cá biệt trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ việc dân sự mà Tòa án có nhiệm vụ giải quyết.
...
4. Thẩm quyền của cấp Tòa án giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp có xem xét việc hủy quyết định cá biệt quy định tại khoản 1 Điều này được xác định theo quy định tương ứng của Luật tố tụng hành chính về thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện, Tòa án nhân dân cấp tỉnh.”
Theo quy định nêu trên thì chỉ có những văn bản là quyết định cá biệt trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ việc dân sự mà Tòa án có nhiệm vụ giải quyết mới bị Tòa án xem xét hủy (những văn bản không phải là quyết định hành chính cá biệt thì không thuộc đối tượng điều chỉnh của Điều này).
Khi giải quyết vụ việc dân sự có liên quan đến quyết định cá biệt của cơ quan, tổ chức thì Tòa án phải xem xét, đánh giá về tính hợp pháp của quyết định cá biệt đó.
Trường hợp quyết định cá biệt rõ ràng trái pháp luật xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự và phải hủy quyết định đó mới bảo đảm giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự mà việc hủy quyết định đó không làm thay đổi thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự thì Tòa án đang giải quyết vụ việc dân sự tiếp tục giải quyết và xem xét hủy quyết định đó.
Trường hợp việc xem xét hủy quyết định đó dẫn đến thay đổi thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự xác định theo quy định tương ứng của Luật Tố tụng hành chính về thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh thì Tòa án nhân dân cấp huyện đang thụ lý giải quyết vụ việc dân sự phải chuyển vụ việc cho Tòa án nhân dân cấp tỉnh giải quyết và xem xét hủy quyết định đó.
Trường hợp khi giải quyết vụ việc dân sự có liên quan đến quyết định cá biệt nhưng không cần thiết phải hủy quyết định cá biệt đó và việc không hủy quyết định đó vẫn đảm bảo giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự thì Tòa án đang giải quyết vụ việc dân sự tiếp tục giải quyết.
Tại giải đáp số 64/2016/TANDTC ngày 03/4/2019 của TANDTC đã hướng dẫn:
Điểm d khoản 2 của Điều 106 của Luật Đất đai quy định cơ quan cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không được thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong trường hợp “...người được cấp Giấy chứng nhận đó đã thực hiện chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật đất đai...”. Theo Điều 195 của Luật Đất đai thì trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận hoặc xác nhận nội dung biến động do chuyển quyền sử dụng đất do Chính phủ quy định. Điều 79 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định việc đăng ký biến động, cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do chuyển quyền dựa trên cơ sở hồ sơ hợp đồng, Văn phòng đăng ký đất đai có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ, nếu đủ điều kiện thực hiện các quyền theo quy định thì xác nhận nội dung biến động vào Giấy chứng nhận đã cấp hoặc lập hồ sơ trình cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Như vậy, theo quy định của Luật Đất đai và Nghị định số 43/2014/NĐ-CPngày 15/5/2014 của Chính phủ thì việc cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc xác nhận nội dung biến động trong trường hợp thực hiện hợp đồng (các trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 105 của Luật Đất đai) là thủ tục hành chính trong giao dịch dân sự, không mang tính chất của quyết định hành chính cá biệt; cơ quan, tổ chức có thẩm quyền sẽ thực hiện việc đăng ký biến động, cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cơ sở kết quả giao dịch có hiệu lực. Cho nên, khi giải quyết tranh chấp về hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất mà hợp đồng đó bị vô hiệu, nhưng người nhận chuyển quyền đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc đã được xác nhận nội dung biến động thì không đưa cơ quan có thẩm quyền trong việc cấp giấy tham gia tố tụng và không cần phải tuyên hủy giấy chứng nhận cấp cho người nhận chuyển nhượng. Khi Tòa án tuyên hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất vô hiệu thì Văn phòng đăng ký đất đai, cơ quan Tài nguyên và Môi trường căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án để giải quyết điều chỉnh biến động hoặc cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án.
Từ những nhận định, phân tích trên Hội đồng xét xử thấy rằng: Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì không quyết định chuyển thẩm quyền giải quyết vụ án lên TAND tỉnh Phú Thọ là đúng quy định của pháp luật. Do vậy, nội dung kháng cáo thứ hai của ông T, không có căn cứ nên không được chấp nhận.
Đối với nội dung kháng cáo thứ ba: Bản trích đo hiện trạng sử dụng đất và áp bản đồ địa chính, hồ sơ thu hồi đất hộ bà Mai Thị T1 và ông Vũ Đức T8, địa chỉ tại: Phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ đối với thửa đất số 63, 65, tờ bản đồ số 12 thực hiện ngày 08/12/2023 bởi Công ty TNHH K sử dụng bản đồ địa chính năm bao nhiêu chưa được cấp sơ thẩm làm rõ, dẫn đến chỉ quyết định chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông T là không đảm bảo quyền lợi cho ông T.
Ngày 23/9/2024, TAND tỉnh Phú Thọ đã có buổi làm việc với Công ty TNHH K và ngày 24/9/2024 làm việc với đại diện theo ủy quyền của UBND thành phố V để làm rõ nội dung kháng cáo của ông T. Công ty TNHH K và đại diện theo ủy quyền của UBND thành phố V đã xác định: Đối với Bản trích đo hiện trạng sử dụng đất và áp bản đồ địa chính, hồ sơ thu hồi đất hộ bà Mai Thị T1, ông Nguyễn Đức T và ông Vũ Đức T8, địa chỉ tại: Phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ đối với thửa đất số 63, 65 tờ bản đồ số 12 thực hiện ngày 08/12/2023 bởi Công ty TNHH K, Công ty TNHH K đã sử dụng bản đồ địa chính đo vẽ năm 1997 – 2000, đó cũng chính là bản đồ sử dụng cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông T và ông T8, ngoài ra Công ty TNHH K còn tham khảo hồ sơ thu hồi đất hộ ông Nguyễn Đức T năm 2022.
Đối với yêu cầu khởi kiện ông T đòi gia đình ông T8 trả lại diện tích 74,8m², xem xét nguồn gốc và quá trình sử dụng thửa đất số 63, tờ bản đồ 12 của ông T, bà T1:
Thửa đất số 63, tờ bản đồ 12, diện đất 2290 m², địa chỉ tại khu A, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ được UBND thành phố V cấp Giấycho hộ bà Mai Thị T1 theo Quyết định số 369/QĐ-UB ngày 22/6/1999. Năm 2022, Nhàthu hồi toàn bộ thửa đất số 63, diện tích 2.290m² nhưng sau đó Nhàđiều chỉnh chỉ thu hồi một phần là 1867,5 m², phần diện tích còn lại là 422,5 m². Phần diện tích đất còn lại gia đình ông T, bà T1 sử dụng đã được chỉnh lý biến động trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp năm 1999 cho gia đình ông T.
Về nguồn gốc và quá trình sử dụng thửa đất số 65, tờ bản đồ 12 của ông Vũ Ngọc T2, bà Nguyễn Thị L:
Thửa đất số 65, tờ bản đồ 12, diện tích 243,5 m² của ông T2, bà L được UBND thành phố V, tỉnh Phú Thọ cấp GiấyCNQSDĐ ngày 31/3/2008, đứng tên ông Vũ Ngọc T2 và bà Nguyễn Thị L.
Nguồn gốc thửa đất trên là của ông Nguyễn Văn L1 và bà Nguyễn Thị O, được cấp Giấyngày 24/5/2007. Đến tháng 2/2008. Ông nhận chuyển nhượng QSDĐ từ ông Nguyễn Văn L1, bà Đỗ Thị O1 thửa đất số 65, tờ bản đồ số 12, diện tích 243,5m²; loại đất: Đất ở, địa chỉ thửa đất tại khu A, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Sau đó ông bà được UBND thành phố V cấp GiấyCNQSDĐ.
Hội đồng xét xử nhận thấy: Ông T, bà T1 khởi kiện cho rằng gia đình ông T2 lấn chiếm phần diện tích thửa đất trên của gia đình ông T diện tích 74,8m². Quá trình giải quyết vụ án Toà án cấp sơ thẩm tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản, tiến đo vẽ thực trạng sử dụng thửa đất số 63, tờ bản đồ 12 với việc xác định diện tích đất ông T, bà T1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đo vẽ thực trạng sử dụng thửa đất số 65, tờ bản đồ 12 với việc xác định diện tích đất ông T2, bà L được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đơn vị đo vẽ đã tiến hành ốp các bản đồ địa chính 1997 - 2000 của thửa đất ông T, bà T1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1999 lên hiện trạng sử dụng thấy rằng: Diện tích đất ông T, bà T1 được cấp giấy chứng nhận năm 1999 với diện tích 2290 m². Năm 2022, Nhàthu hồi toàn bộ thửa đất số 63 diện tích 2.290m², nhưng sau đó Nhàđiều chỉnh chỉ thu hồi một phần là 1867,5 m², phần diện tích còn lại là 422,5 m² đã được chỉnh lý biến động trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp năm 1999 cho gia đình ông T. Tuy nhiên, thực tế hiện nay gia đình ông T, bà T1 đang sử dụng 576m² thừa so với diện tích sau khi thu hồi còn lại là 153,5m². Đơn vị đo vẽ đã tiến hành ốp các bản đồ địa chính 1997 - 2000 của thửa đất của gia đình ông T2, bà L được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2013 lên hiện trạng sử dụng thấy rằng: Diện tích đất ông T2, bà L được cấp giấy chứng nhận năm 2013 với diện tích 243,5 m², thực tế hiện nay gia đình ông T2, bà L đang sử dụng 215,4m² thiếu so với diện tích được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 28,1m². Khi tiến hành ốp bản đồ địa chính thửa đất của gia đình ông T, bà T1 và thửa đất ông T2, bà L lên hiện trạng sử dụng thì hiện nay gia đình ông T2, bà L tuy diện tích hiện trạng sử dụng thiếu so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp, nhưng trên bản trích đo hiện trạng sử dụng ngày 08/12/2023 thể hiện gia đình ông T2, bà L đang sử dụng phần diện tích 8,9m² nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông T, bà T1. Do vậy, bản án sơ thẩm xác định gia đình ông T2, bà L sử dụng lấn chiếm diện tích đất của ông T, bà T1 là 8,9m² và buộc ông T2, bà L phải trả cho ông T, bà T1 8,9m² và bác yêu cầu khởi kiện của bà T1, ông T đòi ông T2, bà L diện tích 65,9m² là có căn cứ, đúng pháp luật. Hồ sơ vụ án đã được thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ. Do vậy, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông T cũng không được chấp nhận.
Từ những phân tích, nhận định trên thấy rằng không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông T.
[3] Về án phí phúc thẩm: Ông T kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí phúc thẩm nhưng ông T thuộc trường hợp được miễn án phí.
Xét thấy, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ là có căn cứ, đúng pháp luật nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1]. Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Đức T. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 30/2024/DS-ST ngày 24/6/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
[2]. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Đức T thuộc trường hợp được miễn án phí.
[3]. Các quyết định khác của bản án không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Hán Hưởng |
Điêu Thị Bích Lượt |
|
Nguyễn Thị Thùy Hương |
|
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Điêu Thị Bích Lượt |
Bản án số 78/2024/DS-PT ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 78/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đức T - Vũ Ngọc T2 - Tranh chấp quyền sử dụng đất
