Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 78/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 20/9/2024

V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM,

TỈNH NINH THUẬN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Nga

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Minh Trâm

Ông Lê Huỳnh Sinh

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thanh Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Lê Nguyễn Tường V - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 481/2024/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 8 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 92/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05/9/2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ông Võ Văn H - sinh năm 1980.

    Nơi cư trú: Khu phố G, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận (có mặt tại phiên tòa).

  • - Bị đơn: Bà Phạm Thị Ngọc H1 - Sinh năm 1983.

    Nơi cư trú: Khu phố A, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận (có mặt tại phiên toà).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 02/8/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Võ Văn H trình bày:

Ông Võ Văn H và bà Phạm Thị Ngọc H1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 79 ngày 07 tháng 7 năm 2008. Sau khi kết hôn vợ chồng ông chung sống tại khu phố G, phường Đ. Hai vợ chồng chung sống tương đối hạnh phúc đến năm 2023 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do bà H1 quản lý kinh tế chung của gia đình không được minh bạch, rõ ràng, dẫn đến nợ nần; cuộc sống chung của hai vợ chồng thường xuyên cãi vã, xích mích. Mặc dù đã nhiều lần cố gắng hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng hai bên không có tiếng nói chung và tình trạng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn. Từ tháng 5 năm 2024 đến nay hai vợ chồng không chung sống cùng nhau. Cuộc sống vợ chồng mạnh ai nấy sống, không ai quan tâm nhau. Nay, ông xác định đã hết tình cảm với bà Phạm Thị Ngọc H1 nên đề nghị được Tòa án giải quyết cho ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Võ Thị Ngọc T, sinh ngày 03/9/2010 và Võ Minh H2, sinh ngày 22/10/2021. Hiện tại hai con đang sống cùng bà Phạm Thị Ngọc H1 tại khu phố A, phường Đ, thành phố P - T. Sau khi ly hôn, ông yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cả hai con và không yêu cầu bà Phạm Thị Ngọc H1 cấp dưỡng nuôi con. Nếu bà Phạm Thị Ngọc H1 được quyền nuôi con thì ông không đồng ý cấp dưỡng nuôi con. Ông làm nông nghiệp, thu nhập bình quân khoảng 10.000.000 đồng/quý.

Tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn bà Phạm Thị Ngọc H1 trình bày:

Bà và ông Võ Văn H chung sống với nhau có cưới hỏi và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đ đúng theo trình bày của ông Võ Văn H. Cuộc sống chung của vợ chồng tương đối hạnh phúc đến năm 2023 có xảy ra mâu thuẫn dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã, xích mích. Bà H1 là người lo toan, gánh vác mọi công việc trong gia đình nhưng không được gia đình chồng tôn trọng. Mọi chi phí, sinh hoạt chung của gia đình đều do bà H1 quán xuyến, các con ngày càng lớn, mức chi tiêu sinh hoạt ngày càng cao, thu nhập của vợ chồng chỉ dựa vào nghề nông nghiệp dẫn đến đôi khi tiền bạc thiếu hụt buộc bà phải vay mượn thêm bên ngoài để trang trải cuộc sống chung trong gia đình. Điều này dẫn đến vợ chồng mâu thuẫn, xích mích. Bà H1 cùng hai con đã về nhà ngoại tại khu phố A, phường Đ sinh sống từ cuối tháng 5 năm 2024 đến nay. Do tình cảm không còn nên trước yêu cầu ly hôn của ông Võ Văn H, bà đồng ý thuận tình ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng bà có 02 con chung tên Võ Thị Ngọc T, sinh ngày 03/9/2010 và Võ Minh H2, sinh ngày 22/10/2021. Hiện tại bà H1 đang trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con. Bà đề nghị được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung và yêu cầu ông H phải cấp dưỡng nuôi mỗi con là 1.000.000 đồng/ tháng/trẻ. Bà có chỗ ở ổn định tại khu phố A, phường Đ, không phải đi thuê mướn nhà cửa. Công việc của bà là giúp việc nhà thu nhập khoảng hơn 3.000.000 đồng/ tháng. Bà có thời gian để chăm sóc các con.

Tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát:

Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, việc thu thập chứng cứ, lấy lời khai của đương sự, việc cấp, tống đạt các giấy tờ cho Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Thẩm phán đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định về phiên tòa sơ thẩm. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

- Về quan điểm giải quyết nội dung vụ án:

  • + Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử công nhận thuận tình ly hôn giữa ông Võ Văn H và bà Phạm Thị Ngọc H1.

  • + Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao hai con chung tên Võ Thị Ngọc T, sinh ngày 03/9/2010 và Võ Minh H2, sinh ngày 22/10/2021 cho bà Phạm Thị Ngọc H1 tiếp tục nuôi dưỡng.

  • + Về cấp dưỡng nuôi con: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc ông Võ Văn H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi mỗi con là 1.000.000 đồng/tháng/trẻ.

  • + Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, trình bày của đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn ông Võ Văn H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bị đơn Phạm Thị Ngọc H1. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn ở phường Đ, TP - T nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân TP. Phan Rang - T theo khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung tranh chấp:

[2.1] Về yêu cầu xin ly hôn: Xét cuộc hôn nhân giữa ông Võ Văn H và bà Phạm Thị Ngọc H1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 79 ngày 07 tháng 7 năm 2008, nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, ông H và bà H1 đều khẳng định cuộc sống hôn nhân của ông bà đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Tại giai đoạn chuẩn bị xét xử, ông H và bà H1 đồng ý ly hôn.

Căn cứ vào Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử ghi nhận việc thuận tình ly hôn giữa ông Võ Văn H và bà Phạm Thị Ngọc H1.

[2.2] Về con chung: Ông H và bà H1 đều có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung Võ Thị Ngọc T, sinh ngày 03/9/2010 và Võ Minh H2, sinh ngày 22/10/2021. Từ khi không chung sống với nhau, các con đang sống cùng mẹ.

Theo quy định của Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con, trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ và quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con”.

Xét thấy, cháu Võ Minh H2 chưa đủ 36 tháng tuổi rất cần sự quan tâm chăm sóc từ người mẹ và nguyện vọng của cháu Võ Thị Ngọc T muốn được tiếp tục sống cùng mẹ và em trai. Bà H1 có chỗ ở ổn định - điều này ông H cũng xác nhận, không phải thuê mướn nhà cửa, có đủ khả năng nuôi các con nên Hội đồng xét xử quyết định giao cháu Võ Minh H2 và cháu Võ Thị Ngọc T cho bà Phạm Thị Ngọc H1 trực tiếp nuôi dưỡng sẽ đảm bảo tốt nhất về sự phát triển tâm sinh lý cho các cháu theo yêu cầu của bà H1 là phù hợp, đúng với hướng dẫn tại Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc hôn nhân gia đình.

[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Phạm Thị Ngọc H1 đề nghị ông Võ Văn H cấp dưỡng nuôi con 1.000.000 đồng/ tháng/trẻ. Ông Võ Văn H không đồng ý cấp dưỡng nuôi con.

Theo quy định tại Điều 110 Luật hôn nhân và gia đình: “Cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không sống chung với con

Xét thấy việc bà H1 đề nghị ông H cấp dưỡng nuôi con là cần thiết để đảm bảo quyền lợi của các con. Theo quy định tại khoản 2 Điều 7 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình: “Tiền cấp dưỡng cho con là toàn bộ chi phí cho việc nuôi dưỡng, học tập của con và do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định mức cấp dưỡng căn cứ vào thu nhập, khả năng thực thể của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yêu của người được cấp dưỡng. Mức cấp dưỡng do Tòa án quyết định nhưng không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng đang cư trú cho mỗi tháng đối với mỗi người con”. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn trình bày bản thân làm nông nghiệp, thu nhập khoảng 10.000.000 đồng/quý. Mức cấp dưỡng bà H1 yêu cầu 1.000.000 đồng/tháng/trẻ là phù hợp với thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng nên có cơ sở chấp nhận.

[2.4] Tài sản chung và nợ chung: Ông H, bà H1 không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

[3] Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thành phố P-T tại phiên tòa hôm nay là có căn cứ và đúng pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về án phí: Ông Võ Văn H, bà Phạm Thị Ngọc H1 phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm; Ông Võ Văn H phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 51, 53, 55, các Điều 81, 82, 83, 110, 116, 117 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ vào Điều 6, 7, 11 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự về quan hệ hôn nhân như sau: Ông Võ Văn H và bà Phạm Thị Ngọc H1 thuận tình ly hôn.
  2. Về con chung: Giao cho bà Phạm Thị Ngọc H1 được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung tên Võ Thị Ngọc T, sinh ngày 03/9/2010 và Võ Minh H2, sinh ngày 22/10/2021.
  3. Buộc ông Võ Văn H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho mỗi con là 1.000.000 đồng/tháng/trẻ (Một triệu đồng cho mỗi tháng cho mỗi trẻ) cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, có khả năng lao động tự túc được.

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

    Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 của Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.

  4. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  5. Về án phí:
  6. Ông Võ Văn H, bà Phạm Thị Ngọc H1 mỗi người phải chịu 75.000 đồng án phí về việc ly hôn. Ông Võ Văn H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí cấp dưỡng nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) ông Võ Văn H đã nộp theo biên lai thu tiền số 0003015 ngày 05/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận. Ông Võ Văn H còn phải nộp số tiền án phí sơ thẩm sau khi khấu trừ là 75.000 đồng (Bảy mươi lăm nghìn đồng). Bà Phạm Thị Ngọc H1 phải nộp số tiền án phí ly hôn sơ thẩm là 75.000 đồng (Bảy mươi lăm nghìn đồng).

Án xử công khai sơ thẩm. Nguyên đơn, bị đơn có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 20/9/2024).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND TP. PR-TC;
  • - Chi cục THADS TP. PR-TC;
  • - UBND phường Đô Vinh (năm 2008);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 78/2024/HNGĐ-ST ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 78/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger