|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MỸ HÀO TỈNH HƯNG YÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 78/2024/HSST.
Ngày: 20/09/2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MỸ HÀO - TỈNH HƯNG YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trương Thế Dương.
- - Các Hội thẩm nhân dân: 1- Ông Phan Xuân Hùng.
- 2- Ông Nguyễn Xuân Khải.
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thúy Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Thùy Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 20/09/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 74/2024/TLST-HS ngày 29/08/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2024/QĐXXST-HS ngày 09/09/2024 đối với các bị cáo:
1/- Trịnh Văn V, Sinh năm 1971 tại phường N, thị xã M, tỉnh Hưng Yên; Nơi đăng ký thường trú: Tổ dân phố N, phường N, thị xã M, tỉnh Hưng Yên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/10; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trịnh Văn T (đã chết) và bà: Vũ Thị T1 (đã chết); Có vợ: Trần Thị T2 (đã ly hôn) và có 02 con.
Tiền sự, tiền án: Không.
Nhân thân:
- - Ngày 14/06/1997 bị Tòa án nhân dân huyện Mỹ Văn xử phạt 15 tháng tù giam về tội “Tổ chức đánh bạc”.
- - Ngày 26/05/2000 bị Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xử phạt 08 năm tù giam về tội “Cướp tài sản”.
- - Ngày 17/8/2006 bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 17 năm tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/05/2024, tạm giam từ ngày 07/05/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam thuộc Công an tỉnh H. (Có mặt tại phiên toà).
2/- Hoàng Minh A, Sinh năm 1996 tại xã B, huyện V, tỉnh Yên Bái; Nơi đăng ký thường trú: Tổ B, phường T, thị xã N, tỉnh Yên Bái; Nơi ở trước khi bị bắt: Tổ dân phố Đ, phường P, thị xã M, tỉnh Hưng Yên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 08/12; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hoàng Minh T3, sinh năm 1972 và bà: Hoàng Thị H, sinh năm 1973; Có vợ: Nghiêm Thị Y, sinh năm 1996 (đã ly hôn) và có 01 con.
Tiền sự, tiền án: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/05/2024, tạm giam từ ngày 07/05/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam thuộc Công an tỉnh H. (Có mặt tại phiên toà).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Anh Lò Văn C, sinh năm 1995 (Vắng mặt). Địa chỉ: Bản S, xã N, huyện M, tỉnh Điện Biên.
- - Anh Lường Văn B, sinh năm 1999 (Vắng mặt). Địa chỉ: Bản H, xã C, huyện T, tỉnh Điện Biên.
- - Anh Hoàng Minh T3, sinh năm 1972 (Vắng mặt). Địa chỉ: Tổ B, phường T, thị xã N, tỉnh Yên Bái.
* Người làm chứng:
- - Chị Hoàng Thị C1, sinh năm 1999 (Vắng mặt). Địa chỉ: Bản T, xã H, thị xã N, tỉnh Yên Bái.
* Người chứng kiến:
- - Anh Ninh Văn L, sinh năm 1973 (Vắng mặt). Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường P, thị xã M, tỉnh Hưng Yên.
- - Anh Nguyễn Văn C2, sinh năm 1991 (Vắng mặt). Địa chỉ: Tổ dân phố N, phường P, thị xã M, tỉnh Hưng Yên.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trịnh Văn V, sinh năm 1971, trú tại tổ dân phố N, phường N, thị xã M, tỉnh Hưng Yên và Hoàng Minh A, sinh năm 1996, trú tại tổ B, phường T, thị xã N, tỉnh Yên Bái (ở trọ tại tổ dân phố Đ, phường P, thị xã M, tỉnh Hưng Yên) có quan hệ quen biết với nhau và đều là đối tượng nghiện ma túy.
Do muốn thu lợi bất chính bằng việc bán trái phép ma túy và có ma túy để sử dụng nên khoảng 06 giờ ngày 02/5/2024, Trịnh Văn V đi bộ từ nhà đến khu vực cổng trường đại học S1 thuộc tổ dân phố Y, phường N, thị xã M, tỉnh Hưng Yên thuê 01 người xe ôm (không rõ tên, tuổi, địa chỉ) chở đến khu vực C huyện Y, tỉnh Hưng Yên. Tại đây, V gặp một người đàn ông tên M (không rõ họ tên đệm, tuổi và địa chỉ), hỏi mua ma túy, loại heroine với số tiền 4.000.000đ, M đồng ý cầm tiền rồi bỏ đi. Một lúc sau, M quay lại đưa cho V 01 gói nilon, bên trong có vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, chứa chất màu trắng dạng cục, bột. Biết là ma túy nên V cầm lấy cất vào túi quần rồi đi xe ôm về nhà. Khi về nhà, V dùng mảnh dao lam có sẵn từ trước, chia gói ma túy vừa mua được thành 04 phần: 01 phần được bọc lại bằng 01 mảnh vỏ bao thuốc lá T rồi tiếp tục bọc bằng vỏ bơm kim tiêm rồi để ở hộp gỗ cạnh giường ngủ; 02 phần đựng vào 02 túi nilon rồi hàn kín, 01 phần gói bằng giấy bạc rồi cho vào vỏ bơm kim tiêm rồi hàn kín, rồi để 03 gói ma túy này vào 01 túi nilon màu đen, cất vào chiếc chăn lông được cuộn tròn, dựng thẳng ở góc phòng. Chia ma túy xong, V cất mảnh dao lam vào hộp gỗ, để khi nào có người hỏi mua ma túy thì sẽ dùng mảnh dao lam để chia ma túy.
Với mục đích thu lợi bất chính bằng việc bán trái phép ma túy và có ma túy để sử dụng, khoảng 09 giờ ngày 03/5/2024, Hoàng Minh A sử dụng điện thoại Iphone 7S Plus, lắp sim số 0375 246 007 gọi vào số 0946 233 886 của V hỏi mua 2.500.000₫ ma túy, loại heroine thì V đồng ý và hẹn Minh A đến nhà V. Sau đó, Minh A điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu đỏ đen, biển số 21B1-680.78 đến nhà V ở tổ dân phố N, phường N, thị xã M, tỉnh Hưng Yên. Trên đường đi, Hoàng Minh A vào một hiệu thuốc ở rìa đường mua 01 xi lanh, 01 lọ nước cất mang theo người.
Trong khi đợi Minh A, V lấy gói ma túy cất trong hộp gỗ để cạnh giường ngủ rồi dùng dao lam chia lấy 01 phần ma túy bọc vào mảnh giấy bạc có sẵn từ trước rồi cất lại gói ma túy vào chỗ cũ. Đến khoảng 09 giờ 15 phút cùng ngày, Minh A đến nhà V và đưa số tiền 2.500.000₫ qua cửa sổ, V nhận tiền rồi đưa cho Minh A gói ma túy bọc trong giấy bạc đã chuẩn bị từ trước. Sau khi nhận được ma túy. Minh A điều khiển xe mô tô quay về phòng trọ của mình ở tổ dân phố Đ, phường P, thị xã M. Lúc này, tại phòng trọ có Hoàng Thị C1, sinh năm 1999, trú tại: Bản T, xã H, thị xã N, tỉnh Yên Bái (là bạn gái của Minh A) đang ngủ. Minh A ngồi vào bàn gỗ trong phòng, bỏ gói ma túy vừa mua được của V ra, dùng dao lam chia thành 06 gói ma túy gói bằng các mảnh giấy có dòng kẻ và để lại một phần ma túy chưa chia, mục đích để bán khi có người hỏi mua. Đồng thời, Minh A cũng lấy từ đây một ít ma túy, dùng kim tiêm và nước cất mua từ trước rồi sử dụng bằng hình thức tiêm chích.
Khoảng 11 giờ cùng ngày, Lò Văn C, sinh năm 1995, trú tại Bản S, xã N, huyện M, tỉnh Điện Biên dùng số điện thoại 0358.241.xxx của Lường Văn B, sinh năm 1999, trú tại bản Hiệu, xã C, huyện T, tỉnh Điện Biên gọi đến số điện thoại 0375.246.xxx của Minh A bảo “anh ơi có hàng không, ra lán ở N, Phùng Chí K bán em một gói”, Minh A đồng ý và cho 06 gói ma túy vào vỏ bao kim tiêm rồi cầm ở tay trái (số ma túy chưa chia được thì vẫn để ở trên bàn), điều khiển xe mô tô đến khu vực lán ở cạnh cửa hàng T4 thuộc tổ dân phố N, phường P, thị xã M. Khi đến nơi, C và B đi ra gần xe của Minh A, cho rằng một trong hai người là người hỏi mua ma túy nên Minh A hỏi “lấy bao nhiêu?” thì C bảo “lấy một” (tức là lấy một gói ma túy) rồi chuẩn bị lấy tiền đưa cho Minh A thì bị lực lượng Công an phường P phối hợp với Công an thị xã M kiểm tra phát hiện, bắt quả tang. Thu giữ của Minh A: Tại lòng bàn tay trái đang cầm 01 túi nilon màu trắng, bên trong có 06 gói giấy màu trắng có dòng kẻ, đều chứa chất màu trắng dạng cục, bột, niêm phong ký hiệu A; 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng tại túi áo ngực phía trước bên trái; 01 điện thoại di động Iphone 7s plus màu đen; 01 ví giả da màu đen, bên trong không có tài sản gì tại túi quần phía sau bên phải và quản lý của Minh A 01 xe mô tô, nhãn hiệu Yamha Exciter màu đỏ đen, biển số 21B1-680.78, kiểm tra cốp xe không phát hiện, thu giữ gì; Thu giữ của Lò Văn C: 02 tờ tiền mệnh giá 100.000đ và 01 điện thoại di động Oppo màu đen; Thu giữ của Lường Văn B: 01 điện thoại di động Oppo màu đen.
Căn cứ lời khai của Minh A, Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Trịnh Văn V.
Ngày 03/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã M tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Hoàng Minh A, phát hiện và thu giữ tại mặt bàn gỗ trong phòng trọ của Minh A: 01 cân điện tử màu đen, mặt cân bằng kim loại màu trắng bạc, bề mặt cân có bám dính chất bột màu trắng, được niêm phong ký hiệu “CI”; chất màu trắng dạng cục và bột trên mặt trang giấy trắng có dòng kẻ, tiếp giáp với bìa của quyển vở, niêm phong ký hiệu “A1”; 01 dao lam bằng kim loại, có chữ “croma” trên mặt trang giấy trắng có dòng kẻ tiếp giáp với bìa của quyển vở, bám dính chất bột màu trắng, niêm phong ký hiệu “B1”. Ngoài ra, còn thu giữ: 01 quyển vở học sinh, bìa có nhiều màu, bên trong đã bị cắt, xé nhiều trang, các trang bên trong là giấy trắng, có dòng kẻ, không có nội dung gì.
Cùng ngày 03/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã M tiến hành khám xét chỗ ở của Trịnh Văn V, phát hiện và thu giữ trong phòng ngủ của V: Trong hộp gỗ đặt dưới nền nhà, sát tường phía Nam và cạnh đầu giường 01 cân điện tử màu đen, mặt ngoài có chữ “Digital Pocket Scale 100g x 0,01g”, trên bề mặt cân có bám dính chất màu trắng dạng bột, niêm phong ký hiệu “A2”; trong hộp gỗ màu vàng, có chữ nước ngoài đặt dưới nền nhà, sát tường phía Nam có 01 dao tem bằng kim loại sáng màu, bề mặt có chữ “Droco” màu đen, trên bề mặt có bám dính chất màu trắng dạng bột, niêm phong ký hiệu “A3” và 01 vỏ bơm tiêm bằng nilon màu trắng, có chữ màu xanh bên trong có 01 gói giấy là vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, trắng chứa chất màu trắng, dạng cục, bột, niêm phong ký hiệu “A4”; bên trong 01 chăn lông được quấn tròn, dựng thẳng đứng, đặt dưới nền nhà ở góc Đông Nam có 01 túi nilon màu đen đựng 02 túi nilon màu trắng được hàn kín, bên trong chứa chất màu trắng dạng cục, bột và 01 gói nilon bằng vỏ bơm kim tiêm có in chữ màu xanh, bên trong có 01 gói giấy bạc, chứa chất màu trắng dạng cục, bột niêm phong ký hiệu “A5”.
Tại kết quả xét nghiệm sinh hóa ngày 03/5/2024, xác định Trịnh Văn V và Hoàng Minh A dương tính với H1 - Morphine.
Tại bản thông báo kết luận sơ bộ số 346/KL-KTHS (MT) ngày 03/5/2024 và Kết luận giám định số 346/KL-KTHS (MT) ngày 06/5/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh H kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong ghi ký hiệu A, có tổng khối lượng là 0,168g (không phẩy một sáu tám gam); Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong ghi ký hiệu A1 có khối lượng là 0,768g (không phẩy bảy sáu tám gam); Mẫu chất màu trắng dạng bột bám dính trên bề mặt dao tem trong niêm phong ghi ký hiệu B1 không xác định được khối lượng; Chất màu trắng dạng bột bám dính trên bề mặt chiếc cân điện tử trong niêm phong ghi ký hiệu C1, không xác định được khối lượng; Mẫu chất màu trắng dạng bột bám dính trên bề mặt chiếc cân điện tử ghi ký hiệu A2, không xác định được khối lượng; Mẫu chất màu trắng dạng bột bám dính trên bề mặt mảnh dao tem trong niêm phong ghi ký hiệu A3 không xác định được khối lượng; Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong ghi ký hiệu A4, có khối lượng 0,876g (không phẩy tám bảy sáu gam); Chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong ghi ký hiệu A5 có tổng khối lượng là 2,931g (hai phẩy chín ba một gam) đều là ma túy, loại Heroine (heroin), có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất. H2 lại đối tượng giám định: Mẫu hoàn lại được niêm phong trong một niêm phong ghi số 346/KL-KTHS (MT), giao cho Công an thị xã M, tỉnh Hưng Yên quản lý theo quy định của pháp luật.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha exciter, biển số 21B1-680.78, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của ông Hoàng Minh T3, sinh năm 1972, trú tại tổ B, phường T, thị xã N, tỉnh Yên Bái (là bố đẻ của Minh A). Ông T3 cho Minh A mượn xe làm phương tiện đi lại và không biết Minh A sử dụng xe vào việc phạm tội nên ông T3 đề nghị được nhận lại chiếc xe này. Hiện xe đang được quản lý tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Mỹ Hào.
Đối với 01 điện thoại di động Oppo, màu vàng bên trong lắp 01 sim (quản lý của B); 01 điện thoại di động Oppo màu đen, bên trong lắp 02 sim (quản lý của C); 01 điện thoại Iphone 7 plus, màu đen, bên trong lắp 01 sim, 01 ví giả da màu đen, 01 quyển vở học sinh, bìa có nhiều màu bên trong là giấy trắng có dòng kẻ, đã bị cắt xé nhiều trang và 04 mảnh giấy có dòng kẻ (đều quản lý của Minh A); 01 điện thoại Iphone Xsmax màu đen, bên trong lắp 01 sim và 01 điện thoại Nokia 1280 màu đen, bên trong lắp 01 sim (đều quản lý của V) hiện đang được quản lý tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Mỹ Hào.
Đối với số tiền 700.000đ (trong đó có 200.000đ quản lý của C và 500.000₫ quản lý của Minh A) đang được gửi tại tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Mỹ Hào mở tại Kho bạc nhà nước thị xã M.
Bản cáo trạng số 69/CT-VKSMH ngày 29/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mỹ Hào đã truy tố các bị cáo Trịnh Văn V, Hoàng Minh A về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay:
Vắng mặt toàn bộ người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Lò Văn C, anh Lường Văn B, anh Hoàng Minh T3; Vắng mặt người làm chứng là chị Hoàng Thị C1; Vắng mặt người chứng kiến anh Ninh Văn L, anh Nguyễn Văn C2.
Các bị cáo Trịnh Văn V, Hoàng Minh A và Đại diện Viện kiểm sát đều đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục phiên toà xét xử vụ án vì những người vắng mặt đều đã có lời khai đầy đủ tại hồ sơ nên việc vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án.
Các bị cáo Trịnh Văn V, Hoàng Minh A đều đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mỹ Hào duy trì công tố tại phiên toà giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố bị cáo Trịnh Văn V, Hoàng Minh A và đề nghị với Hội đồng xét xử:
- * Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với cả 02 bị cáo Trịnh Văn V và Hoàng Minh A.
- * Tuyên bố: Các bị cáo Trịnh Văn V và Hoàng Minh A phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- * Xử phạt:
- 1- Bị cáo Trịnh Văn V từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 03/05/2024.
- 2- Bị cáo Hoàng Minh A từ 02 năm 06 tháng đến 02 năm 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 03/05/2024.
- * Về hình phạt bổ sung: Đề nghị Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo.
- * Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 46; khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Tịch thu, tiêu hủy: 01 hộp bìa cát tông niêm phong hoàn mẫu vật giám định của Phòng K1 Công an tỉnh H số 346/KL-KTHS (MT), có chữ ký và con dấu của Phòng K1 Công an tỉnh H; 01 quyển vở học sinh, bìa có nhiều màu, bên trong đã bị cắt xé nhiều trang, các trang bên trong là giấy trắng, có dòng kẻ, không có nội dung gì; 04 mảnh giấy có dòng kẻ; các sim lắp bên trong các điện thoại đã thu giữ.
- - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: Số tiền 100.000đ và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đen, bên trong lắp 02 sim đã thu giữ của Lò Văn C; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu vàng, bên trong lắp 01 sim đã thu giữ của B; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu đen, bên trong lắp 01 sim đã thu giữ của Minh A; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS max màu đen, bên trong lắp 01 sim đã thu giữ của V.
- - Cho tiêu huỷ chiếc điện thoại Nokia 1208 màu đen và 01 chiếc ví giả da màu đen đã thu giữ của bị cáo V do V tự nguyện không nhận lại vì không còn giá trị sử dụng;
- - Truy thu số tiền 2.500.000đ của bị cáo V do phạm tội mà có.
- - Trả lại bị cáo Minh A số tiền 500.000đ đã thu giữ;
- - Trả lại ông Hoàng Minh T3 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, màu đỏ đen, biển kiểm soát 21B1-680.78, số khung: RLCUG061HY540430, số máy: G3D4E-563963.
- * Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo Trịnh Văn V, Hoàng Minh A không tranh luận gì về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và các vấn đề khác theo bản luận tội của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mỹ Hào, mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã M, Điều tra viên, kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mỹ Hào trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện nên đều hợp pháp.
[2]- Lời khai nhận của các bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên toà phù hợp với lời khai của người liên quan, người làm chứng, biên bản vụ việc, biên bản khám xét, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định cùng các tài liệu có trong hồ sơ nên có đủ căn cứ kết luận: "Vào ngày 03/5/2024 sau khi mua được ma túy, loại Heroine của một đối tượng tên M, Trịnh Văn V đã chia số ma túy trên ra làm nhiều phần trong đó có một phần sử dụng cho bản thân, một phần bán cho Hoàng Minh A với giá 2.500.000đ, phần ma túy, H1 còn lại có khối lượng 3,267 gam Việt cất giấu tại nơi ở tại tổ dân phố N, phường N, thị xã M, tỉnh Hưng Yên để tiếp tục bán trái phép thì bị thu giữ. Sau khi mua ma túy, loại Heroine của Trịnh Văn V, Hoàng Minh A tiếp tục chia số ma túy ra làm nhiều phần trong đó có một phần sử dụng cho bản thân, một phần có khối lượng 0,768 gam để tại nơi ở tại tổ dân phố Đ, phường P, thị xã M, tỉnh Hưng Yên, phần còn lại được gói thành 06 gói giấy nhỏ có tổng khối lượng 0,168 gam để mang đi bán cho Lò Văn C 01 gói với giá 100.000đ thì bị bắt quả tang. Trong vụ án trên Trịnh Văn V phải chịu trách nhiệm hình sự với tổng khối lượng 4,743 gam ma túy Heroine; Hoàng Minh A chịu trách nhiệm hình sự với tổng khối lượng 0,936 gam Heroine”. Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mỹ Hào đã truy tố các bị cáo Trịnh Văn V, Hoàng Minh A về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự là chính xác và đúng pháp luật.
[3]- Các bị cáo Trịnh Văn V, Hoàng Minh A phạm tội độc lập, tội phạm đã hoàn thành. Việc mua bán trái phép chất ma tuý của các bị cáo với nhau và với người khác là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma tuý được luật hình sự bảo vệ. Khi phạm tội, các bị cáo có đầy đủ khả năng nhận thức, điều khiển hành vi, các bị cáo biết và buộc phải biết việc mua bán trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào đều là vi phạm pháp luật hình sự. Bản thân các bị cáo đều là người nghiện ma túy nên biết rõ tác hại của ma tuý không những gây cảnh nghiện ngập, làm cho gia đình kinh tế kiệt quệ, hạnh phúc gia đình bị đổ vỡ, ma tuý còn là nguyên nhân phát sinh các vụ phạm pháp hình sự, gây mất trật tự trị an xã hội và là nguyên nhân lây nhiễm các căn bệnh xã hội, nhưng do ý thức coi thường pháp luật, muốn có tiền tiêu xài nhưng lười lao động, ham muốn thu lợi bất chính và có ma túy để sử dụng nên các bị cáo đã bất chấp pháp luật để thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, Hội đồng xét xử sẽ áp dụng hình phạt tù có thời hạn, tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi của các bị cáo đã thực hiện, nhằm tiếp tục cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục các bị cáo sớm trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời cũng thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật và làm bài học cho các hành vi khác tương tự có thể xẩy ra.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng xem xét trong quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Chị gái bị cáo V có đơn trình bày hoàn cảnh, xin giảm nhẹ hình phạt và miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo được chính quyền địa phương xác nhận, tại phiên toà bị cáo nhất trí với nội dung đơn của chị gái bị cáo và đề nghị hội đồng xét xử xin được giảm nhẹ một phần hình phạt và miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Bị cáo Hoàng Minh A có ông nội được nhà nước tặng thưởng Huy chương chiến sĩ vẻ vang hạng 3 và Huân chương kháng chiến hạng 3, bà nội bị cáo được nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất nên cả hai bị cáo đều được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Đối với người đàn ông tên M (không rõ họ tên đầy đủ, tuổi và địa chỉ), V khai đã bán ma túy cho V vào ngày 02/05/2024 tại khu vực cổng Bưu điện huyện Y, ngoài lời khai của V không còn tài liệu, chứng cứ gì khác nên không đủ căn cứ để xử lý. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ có căn cứ sẽ xử lý sau theo quy định của pháp luật.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại nơi ở của Trịnh Văn V và Hoàng Minh A, Công an thị xã M đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với V và Minh A là phù hợp.
Đối với Lò Văn C có hành vi tìm mua ma túy của Minh A để sử dụng nhưng chưa mua được nên công an thị xã M không xử lý đối với C là phù hợp.
Đối với chị Hoàng Thị C1 (là bạn gái của Minh A), tuy ở cùng phòng với Minh A nhưng không biết việc Minh A sử dụng và bán trái phép chất ma túy nên cơ quan Công an không có căn cứ để xử lý đối với Hoàng Thị C1 là phù hợp theo quy định.
[4] Về hình phạt bổ sung: Qua điều tra xác minh và tại phiên toà có đủ căn cứ xác định: Bị cáo Trịnh Văn V và bị cáo Hoàng Minh A đều không có tài sản riêng, không có thu nhập ổn định, hiện tại cả hai bị cáo đang bị giam giữ nên hội đồng xét xử sẽ miễn, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[5] Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
- - Đối với mẫu hoàn lại được niêm phong trong 01 hộp bìa cát tông niêm phong số 346/KL-KTHS (MT) bên trong có: 0,138g ma túy, loại Heroine, có tên khoa học là D trong niêm phong ký hiệu A; 0,752g ma túy, loại Heroine, có tên khoa học là D trong niêm phong ký hiệu A1; 01 dao tem bằng kim loại, bề mặt có chữ “Croma” trong niêm phong ký hiệu B1; 01 chiếc cân điện tử màu đen, mặt cân làm bằng kim loại màu trắng bạc trong niêm phong ghi ký hiệu C1; 01 chiếc cân điện tử màu đen, mặt ngoài có chữ “Digital Pocket Scale 100g x 0,01g" trong niêm phong ký hiệu A2; 01 mảnh dao tem bằng kim loại sáng màu, bề mặt có chữ “DORCO” trong niêm phong ký hiệu A3; 0,842gam ma túy, loại Heroine, có tên khoa học là D trong niêm phong ký hiệu A4; 2,884gam ma túy, loại Heroine, có tên khoa học là D trong niêm phong ký hiệu A5; Các vỏ túi nilon và các mảnh giấy gói ma túy; 08 vỏ niêm phong mẫu vật gửi giám định. Đây là vật chứng cấm lưu hành cũng như công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội nay sẽ cho tịch thu, tiêu hủy theo quy định.
- - Đối với 01 quyển vở học sinh, bìa có nhiều màu, bên trong đã bị cắt xé nhiều trang, các trang bên trong là giấy trắng, có dòng kẻ, không có nội dung gì; 04 mảnh giấy có dòng kẻ. Đây là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội nay không còn giá trị sử dụng sẽ cho tịch thu, tiêu hủy theo quy định.
- - Đối với số tiền 2.500.000₫ bị cáo Trịnh Văn V đã nhận do bán ma tuý Heroine cho bị cáo Hoàng Minh A mà có. Xét thấy, đây là số tiền dùng vào việc phạm tội, do bị cáo V phạm tội mà có nên sẽ truy thu của bị cáo Trịnh Văn V số tiền 2.500.000đ này để sung vào ngân sách nhà nước.
- - Đối với số tiền 200.000₫ đã thu giữ của anh Lò Văn C. Xét thấy C chỉ bỏ ra số tiền 100.000₫ mục đích để dùng vào việc mua ma túy nên sẽ cho tịch thu nộp ngân sách nhà nước; Số tiền 100.000đ còn lại không liên quan đến việc phạm tội sẽ trả lại cho anh Lò Văn C theo quy định.
- - Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu vàng, bên trong lắp 01 sim đã thu giữ của anh B do anh B sử dụng để gọi, liên lạc mua ma tuý của bị cáo Hoàng Minh A; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đen, bên trong lắp 02 sim đã thu giữ của anh C đã gọi vào số điện thoại của bị cáo Hoàng Minh A và mục đích anh C dùng để gọi, liên lạc mua ma tuý của Hoàng Minh A; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu đen, bên trong lắp 01 sim đã thu giữ của bị cáo Hoàng Minh A; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS max màu đen, bên trong lắp 01 sim đã thu giữ của bị cáo Trịnh Văn V. Các điện thoại này anh B, anh C, bị cáo Hoàng Minh A và bị cáo Trịnh Văn V đã dùng vào việc liên lạc, phạm tội nay sẽ cho tịch thu sung vào ngân sách nhà nước theo quy định.
- - Đối với 01 điện thoại di động Nokia 1208 màu đen đã thu giữ của bị cáo Trịnh Văn V. Quá trình điều tra và tại phiên toà xác định không liên quan đến tội phạm, nay bị cáo V tự nguyện không nhận lại với lý do nhà nước đã tắt sóng 2G chiếc điện thoại này không còn sử dụng được. Xét bị cáo V đã tự nguyện không nhận lại tài sản này và nhà nước đã có quyết định tắt sóng 2G nên chiếc điện thoại này không còn giá trị sử dụng nên sẽ cho tiêu huỷ theo quy định.
- - Đối với các sim số lắp bên trong các điện thoại đã thu giữ của B, C, bị cáo V, bị cáo Minh A cũng như sim số lắp bên trong chiếc điện thoại Nokia 1208 của bị cáo V sẽ cho tiêu huỷ theo quy định.
- - Đối với Số tiền 500.000đ và 01 ví giả da màu đen của bị cáo Minh A. Quá trình điều tra và tại phiên toà xác định số tiền này không liên quan đến tội phạm, bị cáo Minh A xin được nhận lại số tiền này nên sẽ trả lại cho bị cáo, còn đối với chiếc ví giá da màu đen bị cáo không có nhu cầu nhận lại, nay xác định giá trị sử dụng không còn nên sẽ cho tiêu huỷ theo quy định.
- - Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, màu đỏ đen, biển kiểm soát 21B1-680.78, số khung: RLCUG061HY540430, số máy: G3D4E-563963 quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của ông Hoàng Minh T3, ông T3 xin được nhận lại tài sản này nên sẽ trả lại chiếc xe trên cho ông T3 theo quy định của pháp luật.
[6] Về án phí: Các bị cáo Trịnh Văn V, Hoàng Minh A phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
- * Căn cứ: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với cả 02 bị cáo Trịnh Văn V và Hoàng Minh A.
- * Tuyên bố: Các bị cáo Trịnh Văn V, Hoàng Minh A phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- * Xử phạt:
- 1- Bị cáo Trịnh Văn V 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 03/05/2024.
- 2- Bị cáo Hoàng Minh A 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 03/05/2023.
- * Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 46; khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Tịch thu, tiêu hủy: Mẫu hoàn lại được niêm phong trong 01 (Một) hộp bìa cát tông niêm phong số 346/KL-KTHS (MT) bên trong có: 0,138g (Không phẩy một ba tám gam) ma túy, loại Heroine, trong niêm phong ký hiệu A; 0,752g (Không phẩy bảy năm hai gam) ma túy, loại Heroine trong niêm phong ký hiệu A1; 01 (Một) dao tem bằng kim loại, bề mặt có chữ “Croma” trong niêm phong ký hiệu B1; 01 (Một) chiếc cân điện tử màu đen, mặt cân làm bằng kim loại màu trắng bạc trong niêm phong ghi ký hiệu C1; 01 (Một) chiếc cân điện tử màu đen, mặt ngoài có chữ “Digital Pocket Scale 100g x 0,01g” trong niêm phong ký hiệu A2; 01 (Một) mảnh dao tem bằng kim loại sáng màu, bề mặt có chữ “DORCO” trong niêm phong ký hiệu A3; 0,842g (Không phẩy tám bốn hai gam) ma túy, loại Heroine trong niêm phong ký hiệu A4; 2,884g (Hai phẩy tám tám bốn gam) ma túy, loại Heroine trong niêm phong ký hiệu A5; các vỏ túi nilon và các mảnh giấy gói ma túy; 08 (Tám) vỏ niêm phong mẫu vật gửi giám định; 01 (Một) quyển vở học sinh, bìa có nhiều màu, bên trong đã bị cắt xé nhiều trang, các trang bên trong là giấy trắng, có dòng kẻ, không có nội dung gì; 04 (Bốn) mảnh giấy có dòng kẻ; 01 (Một) ví giả da màu đen; 01 (Một) điện thoại di động Nokia 1208 màu đen.
- - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 100.000đ (Một trăm nghìn đồng), 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đen đã thu giữ của anh Lò Văn C; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu vàng đã thu giữ của anh Lường Văn B; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu đen đã thu giữ của bị cáo Hoàng Minh A; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XSmax màu đen đã thu giữ của bị cáo Trịnh Văn V.
- - Truy thu của bị cáo Trịnh Văn V số tiền 2.500.000₫ (Hai triệu, năm trăm nghìn đồng) để sung vào ngân sách nhà nước.
- - Tiêu huỷ các sim số lắp bên trong các điện thoại đã thu giữ của anh B, anh C, bị cáo V, bị cáo Minh A và sim số lắp bên trong chiếc điện thoại Nokia 1208 của bị cáo V.
- - Trả lại bị cáo Hoàng Minh A số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng);
- - Trả lại anh Lò Văn C số tiền 100.000đ (Một trăm nghìn đồng);
- - Trả lại ông Hoàng Minh T3 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, màu đỏ đen, biển kiểm soát 21B1-680.78, số khung: RLCUG061HY540430, số máy: G3D4E-563963. (Tất cả theo quyết định chuyển vật chứng số 62/QĐ-VKSMH ngày 29 tháng 8 năm 2024 và Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 05/09/2024).
- * Về án phí: Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Trịnh Văn V và bị cáo Hoàng Minh A mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm;
Án xử công khai sơ thẩm, Tòa đã báo cho các bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thế Dương |
Bản án số 78/2024/HSST ngày 20/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MỸ HÀO - TỈNH HƯNG YÊN về hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 78/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MỸ HÀO - TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trịnh Văn Việt
