TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. SÔNG CÔNG TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 78/2024/ HS-ST Ngày 19 - 9 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Toản;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Tiến và bà Nguyễn Thị Thu Hiền.
- Thư ký phiên tòa: Bà Bằng Thị Kim Dung - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện thành phố Sông Công gia phiên tòa: Ông Vũ Đại Dương - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số: 64/2024/TLST-HS, ngày 29 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2024/QĐXXST - HS ngày 06 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Vũ Thị T - Sinh ngày: 21/02/1984, tại huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ dân phố B, phường C, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ, tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Vũ Hoàng H - Sinh năm: 1957 và bà: Nguyễn Thị Đ - Sinh năm: 1960. Gia đình bị cáo có 04 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; có chồng là: Nguyễn Xuân H1 - Sinh năm: 1977 và 02 con, con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm: 2008.
Tiền án, tiền sự: Không có.
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam ngày nào, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú.
(Có mặt tại phiên tòa).
*.Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Trường Mầm non B1, xã B, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên;
- Người đại diện hợp pháp của Trường Mầm non B1: Bà Vũ Thị Minh H2, sinh năm: 1980 - Chức vụ: Hiệu trưởng.
Nơi cư trú: Tổ T, phường T, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên.
- Chị Nông Thị L - Sinh năm 1997;
Nơi cư trú: Tổ dân phố C, phường C, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên.
(Bà H2 và chị L vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 9/2019, Vũ Thị T vào làm việc tại trường Mầm non B1, thành phố S và được giao nhiệm vụ làm cấp dưỡng của nhà trường theo hình thức hợp đồng. Đến khoảng tháng 6/2023, trường Mầm non B1 có đợt tuyển dụng Giáo viên Mầm non hợp đồng. Qua tìm hiểu điều kiện tuyển dụng theo quy định của nhà trường, bản thân T thấy mình không đủ điều kiện tuyển dụng vì chưa có Bằng tốt nghiệp Cao đẳng Sư phạm Mầm non nên T đã nảy sinh ý định tìm mua Bằng tốt nghiệp cao đẳng Sư phạm giả nhằm mục đích làm hồ sơ tuyển dụng vào làm Giáo viên hợp đồng của trường. Thực hiện ý định trên, T đã sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J7 Prime,màu đen, lắp sim thuê bao số 0393705632 của mình, đăng nhập vào ứng dụng Facebook tên tài khoản “Tâm V”, tìm kiếm với nội dung “làm bằng cấp của trường Cao đẳng S” thì T thấy trang Facebook “Nhận làm bằng Cao đẳng sư phạm”. T sử dụng Messenger Facebook nhắn tinvới nội dung muốn làm bằng cấp, chứng chỉ của Trường Cao đẳng S và để lại số điện thoại của T cho người này để liên hệ làm bằng tốt nghiệp. Sau đó, T được một người phụ nữ (T không nhớ số điện thoại và không biết nhân thân lai, lịch của người phụ nữ này) gọi điện đến số điện thoại của T, thỏa thuận về việc làm Bằng tốt nghiệp của trường Cao đẳng S với giá tiền là 5.000.000 đồng, T đồng ý và cung cấp thông tin cá nhân họ tên, ngày, tháng, năm sinh, địa chỉ cho người phụ nữ đó. Đến khoảng giữa tháng 7/2023, có một người phụ nữ mang đến cổng trường Mầm non xã B đưa cho T 01 Bằng tốt nghiệp giả và 01 Bảng điểm giả. T kiểm tra thấy thông tin trùng khớp với thông tin cá nhân của mình đã cung cấp trước đó, bằng và bảng điểm giả do trường Cao đẳng S cấp ngày 14/7/2023, có dấu tròn đỏ với nội dung “Trường Cao đẳng S”, có chữ ký của Hiệu trưởng và Trưởng phòng đào tạo của Trường Cao đẳng S. Kiểm tra xong, T trả số tiền 5.000.000 đồng tiền mặt cho người phụ trên. Ngày 27/7/2023, T mang Bằng tốt nghiệp giả và Bảng điểm giả đến UBND phường C, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên để công chứng, chứng thực bản sao mục đích làm hồ sơ tuyển dụng vào vị trí Giáo viên mầm non hợp đồng của trường Mầm non B1.
Đến khoảng giữa tháng 8/2023, T tiếp tục cung cấp thông tin cá nhân và 01 ảnh chụp chân dung 4x6 cho chị Nông Thị L (là đồng nghiệp với T) nhờ làm hộ Giấy khám sức khỏe của Bệnh viện C - Thái Nguyên. Khoảng một tuần sau, T nhận được cuộc gọi của một người nam giới (T không biết nhân thân lai lịch) hẹn T đến cổng Trung tâm Y tế thành phố S để nhận Giấy khám sức khỏe. T đến nhận Giấy khám sức khỏe và kiểm tra thấy Giấy khám sức khỏe đề tên Cơ quan cấp là “Sở Y - Bệnh viện C”, có hình dấu tròn màu đỏ nội dung“Sở Y - Bệnh viện C” ở giáp lai ảnh chân dung của T, phần nếp gấp giữa trang 2 và trang 3, tại mục kết luận có hình dấu tròn màu đỏ “Sở Y - Bệnh viện C” và chữ ký của người đề tên Đoàn Văn H3, có ghi kết quả tại các mục khám bằng mực màu xanh, tại phần thông tin người đề nghị khám sức khoẻ chưa ghi nội dung gì rồi T thanh toán cho người đàn ông trên số tiền 250.000 đồng. Sau khi nhận được Giấy khám sức khỏe,T đã sử dụng bút bi mực xanh tự điền thông tin cá nhân và ký tên tại trang 1 của giấy khám sức khoẻ và tự ghi ngày 27/7/2023 vào giấy khám sức khỏe. Sau đó, T làm hồ sơ trong đó có Bằng tốt nghiệp giả và Bảng điểm giả, giấy khám sức khỏe giả, rồi đem nộp cho Trường Mầm non B1, thành phố S.Ngày 04/9/2023, T được tuyển dụng vào vị trí Giáo viên Mầm non theo hợp đồng giao khoán giảng dạy số 03/2023-HĐKGD thời hạn từ ngày 04/9/2023 đến ngày 31/12/2023. Ngày 15/12/2023, Đội An ninh thuộc Công an thành phố S, tỉnh Thái Nguyên làm việc tại trường Mầm non B1 phát hiện Vũ Thị T có dấu hiệu của hành vi sử dụng giấy tờ giả, thu giữ của Vũ Thị T: 01 Bằng tốt nghiệp Cao đẳng mang tên Vũ Thị T, sinh ngày 21/02/1984 do Trường Cao đẳng S cấp ngày 14/7/2023 số B657542, số vào sổ cấp bằng 378/CĐ-2023; 01 Bảng điểm mang tên Vũ Thị T, sinh ngày 21/02/1984, khóa 2020-2023 lớp GDMN A2, ngành học: Giáo dục mầm non do trường Cao đẳng S cấp; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Prime, màu đen, đã qua sử dụng, được niêm phòng vào bì niêm phong ký hiệu A. Sau đó, Đội an ninh Công an thành phố S đã chuyển tài liệu, hồ sơ đến Đội điều tra Công an thành phố S giải quyếttheo thẩm quyền.
Ngày 22/12/2023, Đội An ninh thuộc Công an thành phố S, tỉnh Thái Nguyên làm việc tại trường Cao đẳng S xác định: Trường Cao đẳng S đã sát nhập với Trường Cao đẳng S, đổi tên trường mới thành Trường Cao đẳng S, theo Quyết định số 276/QĐ-LĐTBXH ngày 01/3/2021 của Bộ L1. Ngày 14/7/2023, nhà trường không cấp bằng tốt nghiệp Cao đẳng Sư phạm mầm non số ký hiệu B657542 và Bảng điểm lớp giáo dục mầm non A2, khóa học 2020-2023, hệ cao đẳng cho Vũ Thị T.Tại thời điểm tháng 7/2023 trường Cao đẳng S không có vị trí chức danh Hiệu trưởng trường Cao đẳng S đối với ông Đồng Văn Đ1 và chức danh Trưởng phòng Đào tạo đối với ông Nguyễn Quang H4.
Ngày 10/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra (CSĐT) Công an thành phố Sông Công tiến hành làm việc tại Trường B1 và đã thu giữ: 01 Giấy khám sức khoẻ của Bệnh viện C – Sở Y cấp cho Vũ Thị T, chỗ ở tổ dân phố B, phường C, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên, cấp ngày: 27/7/2023, có hình dấu tròn đỏ, nội dung “SỞ Y TẾ TỈNH THÁI NGUYÊN – BỆNH VIỆN C” tại vị trí giáp lai ảnh ở trang 1 và vị trí nếp gấp giữa trang 2 và trang 3, tại phần người kết luận ghi nội dung “KT. GIÁM ĐỐC – PHÓ GIÁM ĐỐC” và có hình dấu tròn đỏ nội dung “SỞ Y TẾ TỈNH THÁI NGUYÊN – BỆNH VIỆN C” đóng lên chữ ký DS: Đoàn Văn H3(được niêm phong trong phong bì X);01 bản photo căn cước công dân số [...], mang tên Vũ Thị T, do UBND phường C chứng thực ngày 27/07/2023; 01 bản photo Bằng tốt nghiệp cao đẳng, bìa có dòng chữ “BẰNG TỐT NGHIỆP CAO ĐẲNG”, mặt trong ghi thông tin người được cấp là Vũ Thị T, giới tính: Nữ, ngày sinh 21/02/1984, xếp loại tốt nghiệp: Trung bình, cấp ngày 14/07/2023, số hiệu B 657542, số vào số cấp bằng 378/CĐ-2023, có 01 dấu tròn nội dung “ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH T1 – TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM THÁI NGUYÊN”, có chữ ký đề tên Hiệu trưởng ThS. Đồng Văn Đ1 tại góc dưới bên phải,do UBND phường C chứng thực ngày 27/07/2023; 01 bản photo Bảng điểm của trường Cao đẳng S đề tên Vũ Thị T, ngày sinh 21/02/1984, giới tính nữ, lớp GVMN A2, ngành học Giáo dục mầm non, khóa học 2020-2023, hệ đào tạo Cao đẳng do trường Cao đẳng S, cấp ngày 14/07/2023. Tại góc dưới bên phải, vị trí TL.HIỆU TRƯỞNG - TRƯỞNG PHÒNG ĐÀO TẠO có 01 dấu tròn nội dung “ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH T1 TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM THÁI NGUYÊN”, có chữ ký đề tên PGS.TS. Nguyễn Quang H4, do UBND phường C chứng thực ngày 27/07/2023; 01 bản photo giấy khai sinh mang tên Vũ Thị T, do UBND phường C chứng thực ngày 27/07/2023; 01 sơ yếu lý lịch tự thật đề tên Vũ Thị T, sinh năm 1984, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú hiện nay: Tổ dân phố B, phường C, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên, CCCD: [...], cấp ngày 09/5/2021, có 02 dấu tròn đỏ nội dung “UBND PHƯỜNG CHÂU SƠN TP.SÔNG CÔNG T.THÁI NGUYÊN” tại vị trí giáp lai ảnh ở trang 1, giáp lai tại vị trí ngoài cùng bên phải trang 1,2,3 và tại phần người thực hiện chứng thực ghi nội dung “PHÓ CHỦ TỊCH”, có hình dấu tròn đỏ nội dung “UBND PHƯỜNG CHÂU SƠN TP. SÔNG CÔNG T.THÁI NGUYÊN” đóng lên chữ ký Lê Quốc H5.
Cơ quan CSĐTCông an thành phố S ra Quyết định trưng cầu giám định đối với 01 Bằng tốt nghiệp Cao đẳng (ký hiệu A1); 01 Bảng điểm của trường Cao đẳng S(ký hiệu A2); 01 Giấy khám sức khỏe của Bệnh viện C – Sở Y (ký hiệu X).
Tại kết luận giám định số 285/KL-KTHS, ngày 30/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận:
- Hình dấu trên mẫu cần giám định ký hiệu A1, A2 không đóng trực tiếp, là in phun màu.
- Chữ ký trên mẫu cần giám định ký hiệu A1, A2 được ký trực tiếp. (Bút lục: 68)
Tại Kết luận giám định số 267/KL-KTHS, ngày 19/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận:
- Hình dấu giáp lai, hình dấu tròn, chữ ký tại phần kết luận trên mẫu giám định ký hiệu X không đóng, ký trực tiếp, là in phun màu.
- Chữ viết, chữ ký tại trang 1 trên mẫu cần giám định ký hiệu X so với chữ viết, chữ ký trên mẫu so sánh ký hiệu M do cùng một người viết, ký ra.
Quá trình điều tra, bị cáo Vũ Thị T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Vật chứng của vụ án gồm: 01 Bằng tốt nghiệp Cao đẳng giả, 01 Bảng điểm giả mang tên Vũ Thị T, 01 Giấy khám sức khỏe giả được chuyển theo hồ sơ vụ án; 01 bì niêm phong ký hiệu A2 bên trong chứa 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Prime, màu đen, đã qua sử dụng,được chuyển bảo quản theo quy định theo đúng quy trình quản lý vật chứng.
Tại bản Cáo trạng số 65/CT-VKS-SC, ngày 26-7-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo Vũ Thị T về tội: “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” và tội: “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, theo quy định khoản 1 Điều 341 của BLHS.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Vũ Thị T đã thành khẩn nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản Cáo trạng truy tố.
- Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử như sau:
Tuyên bố:
Bị cáo Vũ Thị T phạm tội: “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” và tội: “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 341, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của BLHS, xử phạt bị cáo T từ 9 – 12 tháng tù cho hưởng án treo về tội: “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”, và từ 6 - 9 tháng tù cho hưởng án treo về tội: “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Áp dụng Điều 55 của BLHS tổng hợp hình phạt chung của cả 02 tội buộc bị cáo T phải thi hành từ 15 - 21 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 - 42 tháng.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
-Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 của BLHS và Điều 106 của BLTTHS: Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Prime màu đen đã qua sử dụng;
- Về án phí: Buộc bị cáo Vũ Thị T phải chịu án phí HSST nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định.
Bị cáo Vũ Thị T không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì về hành vi phạm tội của mình, thừa nhận việc truy tố, xét xử bị cáo về tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố là không oan, đúng người, đúng tội.
Khi được nói lời sau cùng Vũ Thị T nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt tù và cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Trong quá trình điều tra và phiên tòa, bị cáo Vũ Thị T đã khai nhận toàn bộ hành vi, diễn biến nội dung sự việc đúng như nội dung kết luận điều tra và cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu chứng cứ khác Cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Do đó đã có đủ căn cứ để Hội đồng xét xử kết luận:
Vì muốn được tuyển dụng vào làm giáo viên mầm non hợp đồng tại Trường Mầm non B1, tuy nhiên, do không có bằng Sư phạm Mầm non, nên bị cáo T nảy sinh ý định tìm mua Bằng tốt nghiệp Cao đẳng Sư phạm giả nhằm mục đích làm hồ sơ tuyển dụng. Thực hiện ý định trên, vào khoảng tháng 6/2023, bị cáo đã mua 01 Bằng tốt nghiệp Cao đẳng Sư phạm giả và bảng điểm giả của một người phụ nữ trên mạng xã hội với giá 5.000.000 đồng. Đến khoảng giữa tháng 8/2023, bị cáo lại tiếp tục đặt mua 01 Giấy khám sức khỏe giả mục đích làm hồ sơ tuyển dụng vào trường Mầm non B1, thành phố S. Sau khi nhận được giấy khám sức khỏe giả, bị cáo sử dụng bút bi mực xanh tự điền thông tin cá nhân, ký tên tại trang 1 của giấy khám sức khoẻ giả và tự ghi ngày 27/7/2023. Sau đó, bị cáo đã nộp hồ sơ tuyển dụng, trong đó có các giấy tờ giả nêu trên cho Trường Mầm non B1, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên. Ngày 04/9/2023, bị cáo đã được Trường Mầm non xã B1 ký hợp đồng giao khoán giảng dạy vào vị trí Giáo viên Mầm non với thời hạn từ ngày 04/9/2023 đến ngày 31/12/2023. Đến ngày 15/12/2023, bị Đội An ninh thuộc Công an thành phố S, tỉnh Thái Nguyên phát hiện, thu giữ vật chứng.
Xét hành vi tự viết, điền thông tin vào giấy khám sức khỏe giả và hành vi sử dụng bằng tốt nghiệp Cao đẳng sư phạm giả để thực hiện hành vi trái pháp luật của bị cáo Vũ Thị T đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” và tội: “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Tội phạm và hình phạt đối với bị cáo được quy định tại khoản khoản 1 Điều 341 của BLHS. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo về các tội danh và điều luật viện dẫn nêu trên là có căn cứ và đúng quy định của Pháp luật.
Nội dung điều luật quy định như sau:
Điều 341. Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức.
1. Người nào làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 02 năm.
[3] Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý hành chính, đến hoạt động bình thường, đúng đắn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, hành vi phạm tội của bị cáo còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật, nhưng vì vụ lợi cá nhân đã bất chấp hậu quả xảy ra. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo phải xử lý nghiêm minh bằng pháp luật hình sự nhằm tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo, răn đe và phòng ngừa chung.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Vũ Thị T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS. Bị cáo còn có ông, bà ngoại là người có công với nước được Đảng và Nhà nước ta tặng thưởng Huy chương kháng chiến, nên bị cáo T còn được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khác quy định tại khoản 2 Điều 51 của BLHS
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 của BLHS.
Xét nhân thân thấy: Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, nhận thức và hiểu biết pháp luật có phần hạn chế, hiện không có công ăn việc làm ổn định, bị cáo phạm tội với mục đích chỉ muốn xin được việc làm, hơn nữa bị cáo có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng và được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS. Hội đồng xét xử nhận thấy, tuy bị cáo phạm 02 tội, tuy nhiên cả 02 tội bị cáo bị xét xử và kết án đều là tội phạm ít nghiêm trọng, căn cứ quy định Điều 2 và điểm b khoản 4 Điều 3 Văn bản hợp nhất số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng điều 65 của BLHS về án treo, có căn cứ chấp nhận ý kiến của bị cáo và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy không cần thiết cách ly xã hội đối với bị cáo, cho bị cáo được cải tạo, giáo dục dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt có ích cho gia đình, xã hội, cho bị cáo có cơ hội tìm việc làm mới và cũng cho bị cáo cũng thấy được sự khoan hồng, nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta.
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 341 của BLHS thì người phạm tội còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của của bị cáo tại phiên tòa thấy bị cáo không có công ăn việc làm ổn định, không có tài sản riêng. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của BLHS, Điều 106 BLTTHS, xử lý vật chứng vụ án như sau:
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Prime màu đen, đã thu giữ của bị cáo; xét thấy bị cáo đã sử dụng chiếc điện thoại để liên lạc, trao đổi mua bán bằng tốt nghiệp Cao đẳng sư phạm giả, nên cần tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước.
[6] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát trong lời luận tội đối với bị cáo như đề nghị về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt chính, và xử lý vật chứng vụ án là phù hợp với các quy định của Pháp luật cần được chấp nhận.
[7] Đối với người phụ nữ bán Bằng tốt nghiệp giả, người đàn ông bán Giấy khám sức khỏe giả (T không biết tên, tuổi địa chỉ cụ thể) và Nông Thị L được T nhờ làm Giấy khám sức khỏe giả. Quá trình điều tra, ngoài lời khai của T không có căn cứ nào khác để xác minh, làm rõ nên Cơ quan CSĐT Công an thành phố S không xem xét, xử lý.
Trong vụ án này, bị cáo T đã sử dụng giấy tờ giả để làm hồ sơ xin việc vào Trường mầm non B1, thành phố S và sử dụng công chứng, chứng thực B và Bảng điểm giả tại UBND phường C, thành phố S. Quá trình điều tra làm rõ Trường mầm non B1 và UBND phường C, thành phố S không biết việc T sử dụng Bằng giả nên Cơ quan CSĐT Công an thành phố S không xem xét, xử lý là phù hợp.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu một khoản án phí HSST nộp vào ngân sách Nhà nước theo quy định của pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 341, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 47, Điều 55 và Điều 65 của BLHS,
- Các Điều 106, 136, 331 và Điều 333 của BLTTHS;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Thị T phạm tội: “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” và tội: “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
2. Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Vũ Thị T 09 (Chín) tháng tù cho hưởng án treo về tội: “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” và 07 (Bảy) tháng tù cho hưởng án treo về tội: “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội buộc bị cáo Vũ Thị T phải thi hành là 16 (Mười sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 32 (Ba mươi hai) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Vũ Thị T cho UBND phường C, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên theo dõi giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án Hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định khoản 4 Điều 341 của BLHS.
4.Về xử lý vật chứng vụ án như sau: Tịch thu, nộp vào ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Prime màu đen, lắp 01 thẻ sim điện thoại số 0393.705.xxx, đã qua sử dụng, được niêm phong trong bì niêm phong ký hiệu A2.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/7/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra của Công an thành phố S và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên).
5. Về án phí: Buộc bị cáo Vũ Thị T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí HSST nộp vào ngân sách nhà nước.
6.Thông báo quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án (Trường Mầm non B1, xã B, thành phố S và chị Nông Thị L) có quyền kháng cáo phần Bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Minh Toản |
Bản án số 78/2024/ HS-ST ngày 19/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự sơ thẩm
- Số bản án: 78/2024/ HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Điều 341. Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức. 1. Người nào làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 02 năm.
