|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM TỈNH NINH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 78/2024/DS-ST
Ngày 19/9/2024
V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM,
TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Nguyễn Thị Nga |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Bà Nguyễn Thị Minh Trâm |
| Ông Nguyễn Thế Bình |
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thanh Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Lê Nguyễn Tường V - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 141/2024/TLST-DS ngày 15/4/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 121/2024/QĐXXST-DS ngày 21/8/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần S.
Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D – Chức vụ: Tổng Giám đốc.
Địa chỉ: Số B N, phường V, quận C, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Võ Huỳnh Anh K, chức danh: Trưởng phòng giao dịch Ngân hàng Thương mại Cổ phần S – Chi nhánh N (Theo Quyết định ủy quyền số 3525/2023/QĐ-PL ngày 25/12/2023).
Bị đơn: Bà Võ Thị H, sinh năm: 1962
Địa chỉ: Khu phố D, phường T, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
(Ông K có mặt tại phiên tòa, bà H có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Bà Võ Thị H có quan hệ tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần S (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) theo Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 15/03/2023 và Giấy nhận nợ số LD2326200667 và LD 2326200656 ngày 19/09/2023; Số tiền vay: 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng);Thời hạn duy trì hạn mức tín dụng 12 tháng; Mục đích vay: bổ sung vốn kinh doanh thu mua nông sản; Lãi suất cho vay: cố định 06 tháng 11%/năm; Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn; Hình thức trả nợ: lãi trả hàng tháng, gốc trả cuối kỳ; Thời điểm trả nợ gốc: 19/03/2024.
Tài sản đảm bảo cho khoản vay: Toàn bộ hiện trạng trên đất và khuôn viên lô đất có diện tích 511,8m² tọa lạc tại Phường T, thành phố P T, tỉnh Ninh Thuận. Thuộc thửa đất số 82, tờ bản đồ số 53 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CU 700521 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh N cấp ngày 21/01/2020 cho bà Võ Thị H đứng tên. Số vào sổ cấp GCN:CS04163. Chi tiết tại hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 151/TC23/PGD ngày 17/03/2023 tại phòng công chứng Số A tỉnh Ninh Thuận giữa bên nhận thế chấp Ngân hàng thương mại cổ phần S – Phòng G - Chi nhánh N và bên thế chấp là bà Võ Thị H. Tài sản thế chấp đã được đăng ký giao dịch đảm bảo tại Văn phòng Đ.
Trong quá trình vay từ ngày giải ngân theo giấy nhận nợ số LD2326200667 và LD 2326200656 ngày 19/09/2023 đến nay bà Võ Thị H đã thanh toán cho Ngân H1 tổng số tiền lãi là 7.944.444 (Bảy triệu, chín trăm bốn mươi bốn nghìn, bốn trăm bốn mươi bốn đồng). Tuy nhiên từ ngày 14/11/2023 đến nay bà Võ Thị H không thanh toán số tiền lãi và gốc cho Ngân hàng. Do bà Võ Thị H vi phạm nghĩa vụ trả nợ, ngày 05/03/2024 Ngân hàng TMCP S – Phòng G - Chi nhánh N đã chuyển toàn bộ số nợ vay còn thiếu sang nợ quá hạn.
Tính đến ngày 19/9/2024 bà Võ Thị H còn nợ các khoản sau:
| Số tiền gốc: | 1.000.000.000 đồng. |
| Số tiền lãi: | 130.706.620 đồng. |
Trong đó lãi trong hạn là: 47.528.538 đồng, lãi quá hạn là: 83.178.082 đồng
Tổng cộng: 1.130.706.620 đồng (Một tỷ, một trăm ba mươi triệu, bảy trăm lẻ sáu nghìn, sáu trăm hai mươi đồng).
Mặc dù Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc, nhiều lần làm việc trực tiếp với bà Võ Thị H yêu cầu bà có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn, đồng thời Ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để bị đơn trả nợ, tuy nhiên bị đơn vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã qui định tại Hợp đồng tín dụng đã ký.
Do đó, Ngân hàng Thương mại cổ phần S khởi kiện bà Võ Thị H, đề nghị Tòa án giải quyết như sau:
- Buộc bà Võ Thị H thực hiện nghĩa vụ trả nợ ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tính đến ngày 19/9/2024 là 1.130.706.620 đồng (Bằng chữ: Một tỷ, một trăm ba mươi triệu, bảy trăm lẻ sáu nghìn, sáu trăm hai mươi đồng). Trong đó, số tiền gốc: 1.000.000.000 đồng; lãi trong hạn là: 47.528.538 đồng, lãi quá hạn là: 83.178.082 đồng. Và lãi phát sinh kể từ ngày 20/9/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quá hạn quy định tại Hợp đồng tín dụng cho đến khi trả hết nợ.
- Yêu cầu bà Võ Thị H tiếp tục duy trì Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất số 151/TC23/PGD ngày 17/03/2023 để đảm bảo cho việc Thi hành án.
- Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản đảm bảo được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của bà Võ Thị H đối với Ngân hàng. Nếu số tiền thu được từ bán/xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì bà Võ Thị H vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho ngân hàng.
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Võ Thị H trình bày:
Bà thừa nhận có vay của Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền 1.000.000.000 đồng theo hợp đồng tín dụng đã ký kết ngày 15/3/2023 với các thỏa thuận như nguyên đơn đã trình bày. Để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ vay, bà có thế chấp tài sản quyền sử dụng đất thuộc Thửa đất số 82, tờ bản đồ số 53, diện tích 511,8 m², tọa lạc tại phường T, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận. Việc thế chấp có được đăng ký giao dịch đảm bảo theo quy định của pháp luật. Quá trình thực hiện hợp đồng, do hoàn cảnh kinh tế gặp khó khăn nên bà không trả nợ đúng hạn theo cam kết. Trước yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, bà không có ý kiến gì và bà đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Do công việc bận, không thể sắp xếp thời gian tham gia tố tụng nên bà đề nghị Tòa án giải quyết xét xử vắng mặt.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa sơ thẩm, cụ thể như sau:
Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án.
Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn, và sự thừa nhận của bị đơn tại biên bản lấy lời khai ngày 19/8/2024 và các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp thì việc khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Lời trình bày và kết quả tranh tụng của đương sự. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng.
[1.1] Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng thương mại cổ phần S khởi kiện yêu cầu bà Võ Thị H phải trả số tiền nợ đã vay theo Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 15/3/2023 Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có địa chỉ tại Khu phố D, phường T, TP. - T, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân TP. Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận.
[1.2] Về sự vắng mặt của bị đơn: Ngày 19/8/2024, bà Võ Thị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần S đối với bà Võ Thị H, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[2.1] Về tính hợp pháp của hợp đồng tín dụng: Căn cứ lời trình bày của nguyên đơn tại phiên tòa, Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 15/3/2023, Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 151/TC23/PGD có công chứng ngày 17/3/2023 tại Phòng C và lời thừa nhận của bị đơn bà Võ Thị H: Căn cứ vào các chứng cứ trên có đủ cơ sở để xác định: Ngày 15/3/2023 bà Võ Thị H có vay của Ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền 1.000.000.000 đồng, thời hạn vay 12 tháng, mục đích vay bổ sung vốn thu mua nông sản; lãi suất cho vay cố định 06 tháng 11%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn; Chủ thể ký kết hợp đồng có năng lực pháp luật dân sự, hình thức, mục đích và nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái với đạo đức xã hội nên Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 15/3/2023 được coi là hợp pháp, có hiệu lực.
[2.2] Đối với yêu cầu trả nợ gốc, lãi tiền vay:
Tính đến ngày 19/9/2024 bà Võ Thị H đã trả được 7.944.444 đồng tiền lãi, và chưa trả được khoản tiền gốc nào. Đến hạn trả nợ bà H không thực hiện nghĩa vụ trả nợ là vi phạm thỏa thuận của Hợp đồng tín dụng và Giấy nhận nợ đã ký kết. Tính đến ngày 19/9/2024, bà Võ Thị H còn nợ Ngân hàng số tiền: 1.130.706.620 đồng (Bằng chữ: Một tỷ, một trăm ba mươi triệu, bảy trăm lẻ sáu nghìn, sáu trăm hai mươi đồng). Trong đó, số tiền gốc: 1.000.000.000 đồng; lãi trong hạn là: 47.528.538 đồng, lãi quá hạn là: 83.178.082 đồng. Đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn đã cung cấp cho Tòa án, cũng như trong quá trình giải quyết vụ án bà Võ Thị H thừa nhận theo trình bày của nguyên đơn. Vì vậy, căn cứ vào Điều 466 của Bộ luật Dân sự và khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp pháp luật.
[2.3] Về đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ, bà Võ Thị H đã ký kết Hợp đồng thế chấp tài sản:
Hợp đồng số 151/TC23/PGD có công chứng ngày 17/3/2024 tại Phòng C để thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CU700521 - Số vào sổ cấp GCN: CS04163, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh N cấp ngày 21/01/2020 đối với Thửa đất số 82, tờ bản đồ số 53; địa chỉ thửa đất: phường T, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận; Diện tích: 511,8 m². Mục đích sử dụng: Đất trồng cây hàng năm khác. Đăng ký giao dịch đảm bảo ngày 17/3/2024 tại Văn phòng Đ chi nhánh P - T.
Xét thấy, việc ký kết hợp đồng thế chấp tài sản và đăng ký giao dịch đảm bảo giữa Ngân hàng TMCP S với bị đơn bà Võ Thị H đã tuân thủ theo đúng nội dung, hình thức theo quy định của pháp luật. Đánh giá về bản chất hợp đồng đều thể hiện ý chí tự nguyện giao kết giữa các bên. Do đó, Ngân hàng có quyền yêu cầu phát mãi tài sản bảo đảm theo đúng nghĩa vụ được bảo đảm là có căn cứ, được chấp nhận.
Toàn bộ số tiền thu được từ việc xử lý tài sản đảm bảo được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của bà Võ Thị H đối với Ngân hàng. Nếu số tiền thu được từ xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì bà Võ Thị H vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho ngân hàng.
[3] Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với những nhận định nêu trên nên được chấp nhận.
[4] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Bà Võ Thị H phải chịu 2.000.000₫ (Hai triệu đồng) chi phí xem xét thẩm định tại chỗ. Ngân hàng TMCP S đã nộp tạm ứng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ. Bà Võ Thị H phải hoàn trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền 2.000.000đ (Hai triệu đồng).
[5] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Tuy nhiên, bị đơn thuộc trường hợp người cao tuổi và có đơn xin miễn tiền án phí nên căn cứ quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án nên Hội đồng xét xử quyết định miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bị đơn.
Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 228, Điều 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 317, 319, 320, 322, 357, 463, 466 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ khoản 16 Điều 4 và Điều 91, 95 của Luật Các tổ chức tín dụng;
Căn cứ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần S.
- Buộc bà Võ Thị H có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền tính đến ngày 19/9/2024 là: 1.130.706.620 đồng (Bằng chữ: Một tỷ, một trăm ba mươi triệu, bảy trăm lẻ sáu nghìn, sáu trăm hai mươi đồng). Trong đó, số tiền gốc: 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng); lãi trong hạn là: 47.528.538 đồng (Bốn mươi bảy triệu năm trăm hai mươi tám nghìn năm trăm ba mươi tám đồng), lãi quá hạn là: 83.178.082 đồng (Tám mươi ba triệu một trăm bảy mươi tám nghìn không trăm tám mươi hai đồng).
-
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm bà Võ Thị H còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh của số tiền chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng thương mại cổ phần S thì lãi suất mà bà Võ Thị H phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng thương mại cổ phần S.
Bà Võ Thị H phải tiếp tục duy trì Hợp đồng thế chấp tài sản quyền sử dụng đất số 151/TC23/PGD ngày 17/3/2024 được ký kết giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần S và bà Võ Thị H để đảm bảo cho việc thi hành án trả toàn bộ nợ vay cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S. Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất thuộc thửa số 82, tờ bản đồ số 53, diện tích 511,8 m² tọa lạc tại phường T, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CU700521, số vào sổ cấp GCN: CS04163 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh N cấp ngày 21/01/2020 cho bà Võ Thị H.
Trường hợp bà Võ Thị H không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện nghĩa vụ trả nợ không đầy đủ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần S có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý tài sản thế chấp theo quy định của Luật thi hành án dân sự để thu hồi nợ.
Toàn bộ số tiền thu được từ việc xử lý tài sản đảm bảo được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của bà Võ Thị H đối với Ngân hàng Thương mại cổ phần S. Nếu số tiền thu được từ xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì bà Võ Thị H vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S.
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Bà Võ Thị H phải hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền 2.000.000đ (Hai triệu đồng).
-
Về án phí: Bà Võ Thị H được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
- H2 lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền 21.276.000 đồng (Hai mươi mốt triệu hai trăm bảy mươi sáu nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0002560 ngày 11/4/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Án xử công khai có mặt đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 19/9/2024). Bị đơn vắng mặt, quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án./.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Nga |
Bản án số 78/2024/DS-ST ngày 19/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 78/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng S với bà Võ Thị H
