Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

Q. LIÊN CHIỂU - TP. ĐÀ NẴNG

Bản án số: 78/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 18-9-2024

V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Anh Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Ngô Văn Sỹ
  2. Bà Trương Thị Mỹ Hạnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Chu Thị Phương Thùy – Thư ký Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.

Trong ngày 18 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 338/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 8 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2024/QĐXX-ST ngày 28/8/2024, Quyết định hoãn phiên toà số: 62/2024/QÐST-HNGĐ ngày 13/9/2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1984; Địa chỉ: Tổ D, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.
  2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1983; Địa chỉ: Tổ D, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị P trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông T xây dựng gia đình với nhau vào năm 2012, đến năm 2013 thì đăng ký kết hôn tại UBND phường V, thành phố V, tỉnh Nghệ An, hôn nhân hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại tổ C, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Quá trình sống chung thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, ông T không có trách nhiệm với gia đình, sống không chung thủy và còn đánh đập, xúc phạm bà. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn của vợ chồng đã thật sự trầm trọng, không hàn gắn được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với ông T.

Về quan hệ con chung: Bà xác định giữa bà và ông T có 02 con chung tên là Nguyễn Phúc Tú T1, sinh ngày 06/8/2012 và Nguyễn Phúc Tấn P1, sinh ngày 05/10/2022. Tại phiên tòa, bà P xác định có nguyện vọng được trực tiếp nuôi hai con khi ly hôn và yêu cầu ông T phải cấp dưỡng nuôi hai con mỗi tháng 3.000.000 đồng.

Về tài sản chung: Bà xác định tự thoả thuận và không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về nợ chung: Bà xác định không có và không yêu cầu Toà án giải quyết.

* Bị đơn ông Nguyễn Văn T đã được Toà án triệu tập nhiều lần nhưng vắng mặt và không có ý kiến trình bày gửi Toà án.

* Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án: Giấy chứng nhận kết hôn; bản sao khai sinh của con chung; CCCD, xác nhận thông tin cư trú của nguyên đơn, biên bản xác minh tại địa phương của Tòa án, bản ảnh chụp thương tích của nguyên đơn và tin nhắn ứng dụng Zalo.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng những quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và áp dụng Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình xử cho bà Nguyễn Thị P được ly hôn ông Nguyễn Văn T. Về con chung: đề nghị giao 02 con cho bà P nuôi dưỡng; ông T phải cấp dưỡng nuôi hai con mỗi tháng 3.000.000 đồng. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không đề cập đến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về áp dụng pháp luật tố tụng:

[1] Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện bị đơn về việc ly hôn, bị đơn là ông Nguyễn Văn T có địa chỉ nơi cư trú tại quận L. Do vậy, đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên toà không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung vụ án:

[3] Bà Nguyễn Thị P và ông Nguyễn Văn T xây dựng gia đình với nhau có đăng ký kết hôn vào năm 2013 tại UBND phường V, thành phố V, tỉnh Nghệ An (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 63 năm 2013), hôn nhân tự nguyện. Đây là hôn nhân có đủ các điều kiện do Luật Hôn nhân và Gia đình quy định nên được pháp luật công nhận và bảo vệ.

[4] Quá trình tố tụng và tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị P xác định mâu thuẫn vợ chồng đã quá trầm trọng nên tha thiết xin ly hôn. Ông Nguyễn Văn T vắng mặt tại phiên tòa và không có nguyện vọng ý kiến trình bày gì gửi Toà án xem xét.

[5] Xét yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị P thì thấy: Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện quá trình sống chung thì giữa vợ chồng bà Nguyễn Thị P và ông Nguyễn Văn T xảy ra mâu thuẫn; nguyên nhân là do tính tình quan điểm sống không hợp; quá trình sống chung ông T đã đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng. Ông Nguyễn Văn T đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng vắng mặt và không có ý kiến phản hồi, thể hiện ý chí không mong muốn hàn gắn mâu thuẫn và níu kéo cuộc hôn nhân này. Xét thấy, hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị P và ông Nguyễn Văn T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Yêu cầu xin được ly hôn của bà Nguyễn Thị P là chính đáng, phù hợp với pháp luật nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình xử cho bà Nguyễn Thị P được ly hôn ông Nguyễn Văn T.

[6] Về con chung: Bà Nguyễn Thị P xác định giữa bà và ông Nguyễn Văn T có 02 con chung tên là Nguyễn Phúc Tú T1, sinh ngày 06/8/2012 và Nguyễn Phúc Tấn P1, sinh ngày 05/10/2022. Ly hôn, bà P có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung, còn ông T vắng mặt và không có ý chí nguyện vọng gì về con chung. Xét thấy, các con chung hiện do bà P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; con Nguyễn Phúc Tấn P1 chưa đủ 36 tháng tuổi, con Nguyễn Phúc Tú T1 có nguyện vọng được sống cùng mẹ khi cha mẹ ly hôn. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần giao hai con cho bà P trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với ý chí mong muốn của con chung và bảo đảm quyền lợi mọi mặt của con chung. Sau khi ly hôn, các đương sự vẫn được thực hiện mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con: Tại phiên tòa, bà P yêu cầu ông T phải cấp dưỡng nuôi hai con mỗi tháng 3.000.000 đồng. Xét thấy, ông T là người không trực tiếp nuôi con nên phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy có cơ sở chấp nhận yêu cầu của bà P, buộc ông T phải cấp dưỡng nuôi hai con mỗi tháng 3.000.000 đồng (1.500.000 đồng/01 con/01 tháng) cho đến khi từng con chung đủ tuổi thành niên (18 tuổi).

[7] Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị P không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[8] Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị P xác định không có và không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[9] Án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn: 300.000 đồng bà Nguyễn Thị P phải chịu theo quy định của pháp luật. Án phí dân sự sơ thẩm về việc cấp dưỡng nuôi con: 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) ông Nguyễn Văn T phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 235, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 110, 116, 118 Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” của bà Nguyễn Thị P đối với ông Nguyễn Văn T.

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị P ly hôn ông Nguyễn Văn T.
  2. Về con chung: Giao 02 (hai) con chung tên là Nguyễn Phúc Tú T1, sinh ngày 06/8/2012 và Nguyễn Phúc Tấn P1, sinh ngày 05/10/2022 cho bà Nguyễn Thị P trực tiếp nuôi dưỡng. Buộc ông Nguyễn Văn T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi hai con mỗi tháng 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) (1.500.000 đồng/01 con/01 tháng). Thời gian cấp dưỡng kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi từng con chung đủ tuổi thành niên (18 tuổi).

Kể từ ngày bên có quyền có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên có nghĩa vụ chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền cấp dưỡng nuôi con nói trên thì còn phải trả lãi đối với số tiền chậm thực hiện nghĩa vụ theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

Sau khi ly hôn, quyền và nghĩa vụ đối với con chung các bên đương sự được thực hiện theo quy định của pháp luật.

Khi vì lợi ích con chung, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn.

  1. Về tài sản chung, nợ chung: Không giải quyết.
  2. Về án phí:

4.1. Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm về việc ly hôn 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) bà Nguyễn Thị P phải chịu nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0000918 ngày 05/8/2024 tại Chi Cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng. Bà Nguyễn Thị P đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

4.2. Án phí dân sự sơ thẩm về việc cấp dưỡng nuôi con: 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) ông Nguyễn Văn T phải chịu

  1. Án xử công khai sơ thẩm, đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
  2. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND quận Liên Chiểu;
  • - Chi cục THADS quận L;
  • - UBND p. V, Tp., t. Nghệ An (Số ĐKKH: 63 ngày 24/4/2013);
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Phạm Anh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 78/2024/HNGĐ-ST ngày 18/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 78/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà P ly hôn ông T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger