TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ Bản án số: 78/2024/HS-ST Ngày 16/9/2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Phương.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Minh;
Bà Phan Thị Gái.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kiều Trinh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phượng - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 8 năm 2024 tại Phòng xét xử số 01 - Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 70/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2024/HSST-QĐ ngày 22 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Đăng H
, sinh ngày 23/3/1993 tại Quảng Trị; nơi cư trú: khu phố I, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Việt A, sinh năm 1961 và bà Trần Thị L, sinh năm 1963; có vợ là Lê Thị Thu H1, sinh năm 1993; có 02 con, con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2024.Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/3/2024 đến ngày 05/4/2024 thì được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.
2. Nguyễn Ngọc L1
, sinh ngày 08/10/1980 tại Quảng Trị; nơi cư trú: khu phố L, phường Đ, Đ, Quảng Trị; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn B, sinh năm 1943 và bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1953; có vợ là Phan Thị Tú T, sinh năm 1984; có 03 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh2
năm 2016.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/3/2024, đến ngày 05/4/2024 thì được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” cho đến nay; có mặt.
3. Bùi Văn D
, sinh ngày 10/02/1991 tại Quảng Trị; nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện C, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: nhân viên điện lực; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn T1, sinh năm 1957 và bà Phạm Thị G, sinh năm 1958; vợ, con: chưa có.Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/3/2024, đến ngày 05/4/2024, được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” cho đến nay; có mặt.
4. Trương Văn T2
, sinh ngày 19/6/1989 tại Quảng Trị; nơi cư trú: khu phố D, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: lái xe; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn C, sinh năm 1953 và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1955; có vợ là bà Trần Thị N, sinh năm 1954; có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2013, con nhỏ nhất sinh năm 2020.Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Năm 2014, bị Công an thành phố Đ xử phạt hành chính 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”. Đã nộp phạt ngày 17/6/2014.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/3/2024, đến ngày 05/4/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” cho đến nay; có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Xuân P, sinh năm 1978; địa chỉ: khu phố B, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; vắng mặt.
- Anh Trần Đình H3, sinh năm 1994; địa chỉ: khu phố T, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; vắng mặt.
- Anh Nguyễn Đình T3, sinh năm 1995; địa chỉ: khu phố G, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tháng 02/2024, Nguyễn Đăng H được một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) giao tài khoản cá độ bóng đá có tên đăng nhập là “Llll1111”, mật
3
khẩu “Hhhh1234” với định mức tài khoản 1.000 điểm, tương ứng số tiền 50.000.000 đồng và hướng dẫn H vào trang Webside cá cược bóng đá có tên miền: https://mb.Portoa88.comđăng nhập tài khoản và mật khẩu vào để tham gia cá cược bóng đá. H và người đàn ông đó quy ước đổi Đ (hay còn gọi là điểm) thành tiền Việt Nam đồng (1 USD = 50.000 đồng). Sau nhận tài khoản tổng OKA20304, H đổi tên đăng nhập thành: “Hung1993”, mật khẩu: “Lep855725” và chia thành 14 tài khoản nhỏ. H sử dụng 01 tài khoản, giao 09 tài khoản khác cho người chơi sử dụng để đánh bạc và quy ước đổi Đ (1 đô = 50.000 đồng) để làm căn cứ thanh toán tiền cá cược. Về thể thức và tỷ lệ thắng thua là theo quy định của nhà cái tại trang W cá độ bóng đá, số tiền thắng thua sẽ được thanh toán sau khi kết thúc cá cược.
Từ ngày tháng 02/2023 đến tháng 3/2024, Nguyễn Đăng H, Bùi Văn D, Nguyễn Ngọc L1 và Trương Văn T2 sử dụng mạng internet đã đăng nhập vào tài khoản để nhiều lần đánh bạc, cụ thể.
1. Tài khoản OKA20304007 và OKA20304009 do Bùi Văn D sử dụng:
Bùi Văn D được Nguyễn Đăng H giao tài khoản OKA20304007 có 60 điểm (tương ứng số tiền 3.000.000 đồng) và khoản OKA20304009 có 100 điểm (tương ứng số tiền 5.000.000 đồng) sử dụng để đánh bạc. Trong các ngày 24, 25, 28/02/2024 và ngày 03/03/2024, D sử dụng mạng internet đã đăng nhập vào 02 tài khoản bằng điện thoại di động SamSung Galaxy A30 màu đen để đặt cược cá độ bóng đá, bóng rổ của các giải đấu trên thế giới, cụ thể:
- Ngày 24/02/2024, D sử dụng tài khoản OKA20304009 đặt cược 08 trận đấu với 12 lượt cá cược, tiền đặt cược là 20.900.000 đồng, tiền thắng cược là 4.357.000 đồng, tổng số tiền đánh bạc là 25.257.000 đồng, số tiền thua cược là 15.000.000 đồng. Trong đó, có 01 trận số tiền đánh bạc là 5.000.000 đồng (trận Adelaide U và WI), 07 trận còn lại số tiền đánh bạc dưới 5.000.000 đồng.
- Ngày 25/02/2024, D sử dụng tài khoản OKA20304009 đặt cược 08 trận đấu với 08 lượt cá cược, số tiền thắng cược là 4.382.000 đồng, tổng số tiền đánh bạc là 24.282.000 đồng, số tiền thua cược là 11.2500.000 đồng. Trong đó, có 02 trận đấu số tiền đánh bạc trên 5.000.000 đồng (trận A2 và A1, số tiền là 5.450.000 đồng và trận J và F, số tiền là 5.362.500 đồng), 06 trận còn lại số tiền đánh bạc dưới 5.000.000 đồng.
- Ngày 28/02/2024, D sử dụng tài khoản OKA20304007 đặt cược 04 trận đấu với 06 lượt cá cược, số tiền đặt cược 5.000.000 đồng, số tiền thắng cược là 1.603.000 đồng, tổng số tiền đánh bạc là 6.603.000 đồng, số tiền thua cược là 3.100.000 đồng. Số tiền đánh bạc ở mỗi trận đều dưới 5.000.000 đồng.
4
- Ngày 03/03/2024, D sử dụng tài khoản OKA20304007 đặt cược 01 trận đấu với 02 lượt cá cược, tổng số tiền D dùng đánh bạc là 1.000.000 đồng. Trận đấu này D thua cược.
Tổng hợp 02 tài khoản, số tiền thắng thua đã được H và D thanh toán xong, số tiền H hưởng lợi là 20.008.000 đồng.
2. Tài khoản OKA2030400B, OKA2030400C và OKA2030400D do Nguyễn Ngọc L1 sử dụng:
Nguyễn Ngọc L1 được Nguyễn Đăng H giao tài khoản OKA2030400B có 40 điểm (tương ứng số tiền 2.000.000 đồng), OKA2030400C có 100 điểm (tương ứng số tiền: 5.000.000 đồng), OKA2030400D có 40 điểm (tương ứng số tiền 2.000.000 đồng) sử dụng để đánh bạc. Ngày 29/02/2024 và ngày 03/03/2024, L1 sử dụng mạng internet đã đăng nhập vào tài khoản bằng điện thoại di động Iphone 7plus màu hồng để đặt cược cá độ bóng đá của các giải đấu trên thế giới, cụ thể:
- Ngày 29/02/2024, L1 sử dụng tài khoản OKA2030400B đặt cược 03 trận đấu với 03 lần cá cược, với tổng số tiền đánh bạc là 500.000 đồng. Trận đấu này L1 thua cược.
- Ngày 03/03/2024, L1 sử dụng tài khoản OKA2030400C đặt cược 09 trận đấu với 13 lần cá cược, số tiền đặt cược là 18.550.000 đồng, số tiền thắng là 5.082.500 đồng, tổng số tiền đánh bạc là 23.632.500 đồng, số tiền thua là 10.916.500 đồng. Trong đó, có 02 trận tiền đánh bạc trên 5.000.000 đồng (trận T5 và Werder B1, số tiền đánh bạc là 5.600.000 đồng; trận Manchester C1 và Manchester UI, số tiền đánh bạc là 15.782.500 đồng), 07 trận còn lại số tiền đánh bạc dưới 5.000.000 đồng.
- Ngày 03/03/2024, L1 sử dụng tài khoản OKA2030400D đặt cược 02 trận đấu với 08 lần cá cược, số tiền đặt cược là 4.150.000 đồng, số tiền thắng là 2.000.000 đồng, tổng số tiền đánh bạc là 6.150.000 đồng, số tiền thua là 2.100.000 đồng. Số tiền đánh bạc trong một trận đấu đều dưới 5.000.000 đồng.
Tổng hợp 02 tài khoản, số tiền thắng thua đã được H và L1 thanh toán xong, số tiền H hưởng lợi là 6.434.000 đồng.
3. Tài khoản OKA20304004 do Trương Văn T2 sử dụng:
Trương Văn T2 được Nguyễn Đăng H giao tài khoản OKA20304004 có 60 điểm (tương ứng số tiền 3.000.000 đồng) sử dụng để cá độ bóng đá của các giải đấu trên thế giới. Ngày 25/02/2024, T2 sử dụng mạng internet đã đăng nhập vào tài khoản bằng máy vi tính (sử dụng dịch vụ tại quán internet, không xác định được địa chỉ) để đặt cược 02 trận đấu với 04 lần cá cược, số tiền đặt cược là
5
6.900.000 đồng, số tiền thắng cược là 4.713.000 đồng, tổng số tiền đánh bạc là 11.613.000 đồng, số tiền thua cược là 640.000 đồng. Trong đó, có trận New castle J1 và M1 có số tiền đánh bạc là 9.743.000 đồng, 03 trận còn lại số tiền đánh bạc dưới 5.000.000 đồng. Đối với tài khoản này, số tiền thắng thua đã được H và T2 đã thanh toán xong, số tiền T2 hưởng lợi là 4.073.000 đồng.
Ngoài ra, Nguyễn Đăng H còn sử dụng 01 tài khoản và giao 03 tài khoản khác cho những người chơi sử dụng để đánh bạc, mỗi lần đánh bạc đều dưới 5.000.000 đồng, cụ thể:
- Nguyễn Đăng H: Ngày 06 và 07/03/2024, H sử dụng tài khoản OKA20304000 và điện thoại Redmi 13C màu đen đặt cược 12 trận, tổng số tiền đánh bạc là 25.142.000 đồng. Số tiền H hưởng lợi là 566.000 đồng.
- Nguyễn Xuân P - sinh năm 1978 (trú tại khu phố B, Đ, Đ): Ngày 03/03/2024, P sử dụng tài khoản OKA20304003 đặt cược 11 trận, tổng số tiền đánh bạc là 1.967.000 đồng. Số tiền H hưởng lợi là 287.500 đồng.
- Trần Đình H3 sinh năm 1994 (trú tại khu phố T, Đ, Đ): Ngày 26/02/2024, H3 sử dụng tài khoản OKA20304005 đặt cược 08 trận, tổng số tiền đánh bạc là 4.515.000 đồng. Số tiền H hưởng lợi là 507.500 đồng.
- Nguyễn Đình T3 - sinh năm 1985 (trú tại khu phố G, Phường E, Đ). Ngày 01 và 03/03/2024, sử dụng tài khoản OKA20304002 cá cược ở 16 trận, tổng số tiền đánh bạc là 26.100.000 đồng. Số tiền H hưởng lợi là 5.946.500 đồng.
Các tài khoản còn lại là OKA20304001; OKA20304006; OKA20304008; OKA2030400E: H chưa sử dụng.
* Thu giữ vật chứng, gồm:
- Nguyễn Đăng H tự nguyện giao nộp: Điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 13C màu đen, không có sim, máy đã qua sử dụng.
- Bùi Văn D tự nguyện giao nộp: Điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy A30 màu đen, không có sim, máy đã qua sử dụng.
- Nguyễn Ngọc L1 tự nguyện giao nộp: Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7plus màu hồng, không có sim, máy đã qua sử dụng.
* Tạm giữ, xử lý tài sản, gồm:
- 02 điện thoại di động (01 máy nhãn hiệu SamSung và 01 máy nhãn hiệu Iphone 6S). Do không liên quan đến vụ án, nên đã trả lại cho T2 và P.
Tại bản kết luận giám định số 620/KL- KTHS ngày 25/5/2024 của phòng K Công an tỉnh Q kết luận: Trong bộ nhớ chung Pictures máy điện thoại Redmi
6
13C của Nguyễn Đăng H có 28 tập tin hình ảnh liên quan đến hành vi cá cược bóng đá.
Cáo trạng số 24/CT-VKS-P2 ngày 22/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị đã truy tố các bị cáo Nguyễn Đăng H, Bùi Văn D, Nguyễn Ngọc L1 và Trương Văn T2 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:
Về trách nhiệm hình sự:
- Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 321; Điều 65; điểm s, t khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS năm 2015 đề nghị xử phạt các bị cáo Nguyễn Đăng H và Bùi Văn D 36 tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách gấp đôi.
- Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 321; Điều 65; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS năm 2015 đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc L1 36 tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách gấp đôi.
- Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 321; Điều 65; Điều 17; điểm s, i khoản 1, 2 Điều 51 BLHS năm 2015 đề nghị xử phạt bị cáo Trương Văn T2 36 tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách gấp đôi.
Về xử lý vật chứng: căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 13C màu đen, không có sim, máy đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy A30 màu đen, không có sim, máy đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7plus màu hồng, không có sim, máy đã qua sử dụng.
Về biện pháp tư pháp: căn cứ Điều 46, các điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự: truy thu, sung công quỹ nhà nước số tiền các bị cáo thu lợi bất chính (H hưởng lợi 29.676.500 đồng, T2 hưởng lợi 4.073.000 đồng).
Các bị cáo H và T2 được khấu trừ khoản tiền đã nộp tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị H 29.676.500 đồng, Tưởng 4.073.000 đồng.
Về án phí: căn cứ Điều 136 BLTTHS; Điều 23 Nghị quyết số 326/ UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội các bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
7
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Xét lời khai nhận hành vi của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:
Từ ngày 14/02/2023 đến ngày 03/3/2024, Nguyễn Đăng H nhận tài khoản cá độ bóng đá ký hiệu OKA20304 của người đàn ông lạ mặt. Sau khi chia thành 14 tài khoản nhỏ, H sử dụng 01 tài khoản, giao 09 tài khoản khác cho người chơi sử dụng mạng internet để đăng nhập các tài khoản trên bằng các thiết bị điện tử để đánh bạc. Trong đó, H giao cho Bùi Văn D tài khoản OKA20304007 và OKA20304009, Nguyễn Ngọc L1 tài khoản OKA2030400B, OKA2030400C và OKA2030400D, Trương Văn T2 tài khoản OKA20304004.
Tổng hợp 6 tài khoản trên, H phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi đánh bạc 06 lần với tổng số tiền là 46.938.000 đồng; D 03 lần với tổng số tiền là 15.812.500 đồng, L1 02 lần với tổng số tiền là 21.382.000 đồng; Tưởng 01 lần với số tiền là 9.743.000 đồng. Tổng hợp tất cả các tài khoản, H hưởng lợi 29.676.500 đồng, T2 hưởng lợi 4.073.000 đồng, L1 và D chưa hương lợi.
Do đó, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị truy tố các bị cáo H, D, L1, T2 về tội "Đánh bạc" theo điểm c khoản 2 Điều 321 BLHS là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3]. Hành vi của các bị cáo đánh bạc thông qua mạng internet thắng thua bằng tiền đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[4]. Xét vai trò của các bị cáo, số tiền tham gia đánh bạc và quá trình nhân thân, HĐXX thấy rằng:
Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mang tính đồng phạm nhưng ở mức độ giản đơn, không có sự phân công cấu kết của những người cùng thực hiện. Trong đó, bị cáo H đánh bạc với Bùi Văn D tài khoản OKA20304007 và OKA20304009, Nguyễn Ngọc L1 tài khoản OKA2030400B, OKA2030400C và
8
OKA2030400D, Trương Văn T2 tài khoản OKA20304004. Bị cáo H có vai trò cao nhất trong vụ án, rủ rê các bị cáo L1, D, T2 thực hiện hành vi phạm tội; H thực hiện hành vi đánh bạc 06 lần với số tiền 46.938.000 đồng, số tiền thu lợi bất chính nhiều nhất nên cần phải có hình phạt tương xứng cho bị cáo.
Bị cáo D thực hiện hành vi đánh bạc 03 lần với tổng số tiền là 15.812.500 đồng; L1 02 lần với tổng số tiền là 21.382.000 đồng; Tưởng 01 lần với số tiền là 9.743.000 đồng; trong đó D và L1 chưa được hưởng lợi; T2 thu lợi bất chính số tiền 4.073.000 đồng.
[5]. Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo Nguyễn Đăng H, Bùi Văn D và Nguyễn Ngọc L1 phạm tội 02 lần trở lên nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra, truy tố và xét xử các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
- Các bị cáo Bùi Văn D, Nguyễn Ngọc L1 và Nguyễn Văn T4 sau khi biết Nguyễn Đăng H bị phát hiện do hành vi bán tài khoản cho các bị cáo nên D, L1 và T4 đã tự nguyện đến đầu thú tại cơ quan điều tra quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.
- + Đối với bị cáo H: bị cáo H khi phát hiện 03 hộp pháo hoa nên đã giao nộp cho Cơ quan Công an, có xác nhận của Công an phường Đ, được Chủ tịch UBND phường Đ tặng giấy khen đã có thành tích trong công tác tuyên truyền, vận động thu hồi vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ và pháp trên địa bàn phường Đ; bị cáo là lao động chính trong gia đình, vợ bị cáo mới sinh con được 03 tháng tuổi, chưa có khả năng lao động trở lại (có xác nhận của U2); bị cáo đã tự nguyện nộp lại toàn bộ số tiền thu lợi bất chính 29.676.000 đồng nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm u khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.
- + Đối với bị cáo L1: khoảng tháng 5/2024, bị cáo có thành tích cứu người bị chết đuối có xác nhận của nạn nhân và UBND phường Đ; bị cáo là lao động chính trong gia đình chăm sóc bố mẹ già, vợ thu nhập không ổn định (có xác nhận của UBND phường Đ); gia đình bị cáo L1 thờ cúng Liệt sỹ nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm v khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.
9
- + Đối với bị cáo T4: bị cáo T4 thực hiện hành vi phạm tội 01 lần thu lợi bất chính có được từ hành vi phạm tội không lớn; bị cáo phạm tội lần đầu, phạm tội rất nghiêm trọng nhưng bị cáo có vị trí, vai trò thứ yếu, không đáng kể trong vụ án và đã tự nguyện nộp lại toàn bộ số tiền thu lợi bất chính là 4.073.000 đồng; mẹ bị cáo T4 được Nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhì và kỷ niệm chương chiến sỹ bảo vệ thành cổ Quảng Trị năm 1972 nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.
- + Đối với bị cáo D: ngày 04/9/2024, bị cáo D nhặt được ví bên trong có 15.320.000 đồng và nhiều loại giấy tờ tùy thân đã đến Công an xã T báo cáo nộp lại để trả lại cho người đánh rơi, được Chủ tịch UBND xã T có thư khen ngợi gương người tốt việc tốt; trong quá trình công tác, bị cáo nhiều lần phát hiện một thanh niên thường xuyên cầm xe và mua ma túy sau đó vào một khách sạn tại Phường B, TP . để sử dụng ma túy, bị cáo tìm hiểu thì biết đối tượng là người Cam Thành nên đã báo cho Công an xã C và sau đó đối tượng đã bị bắt đi cai nghiện tại cơ sở cai nghiện bắt buộc được Công an xã C xác nhận; bị cáo là lao động duy nhất trong gia đình, bố mẹ đã lớn tuổi, thường xuyên đau ốm, gia đình bị cáo D thờ cúng Liệt sỹ, đã từng tham gia nghĩa vụ quân sự (có xác nhận của UBND xã T) nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm u khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.
Căn cứ vào nhân thân của các bị cáo; tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả do hành vi bị cáo gây ra và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Hội đồng xét xử xét thấy:
Hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng nên việc áp dụng hình phạt tù đối với các bị cáo sẽ đảm bảo việc xử lý nghiêm khắc đối với hành vi phạm tội. Tuy nhiên, xét thấy các bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS và áp dụng khoản 1 Điều 54 đối với bị cáo D, L1, T4. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho các bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm của mình cũng đủ răn đe và phòng ngừa chung.
Xét thấy mức đề nghị hình phạt của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.
[6]. Đối với các hành vi khác:
Đối với các lần số tiền đánh bạc dưới 5.000.000 đồng của các bị cáo và của Nguyễn Xuân P, Trần Đình H3, Nguyễn Đình T3: do hành vi không cấu thành
10
tội phạm, nên Cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ vụ việc đến cơ quan có thẩm quyền để xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.
Đối với người đàn ông lạ mặt giao tài khoản tài khoản tổng OKA20304 cho H, khi nào làm rõ thì sẽ xử lý sau.
[7]. Về xử lý vật chứng: căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS:
Cần tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 13C màu đen, không có sim, máy đã qua sử dụng của bị cáo Nguyễn Đăng H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A30 màu đen, không có sim, máy đã qua sử dụng của bị cáo Bùi Văn D; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7plus màu hồng, không có sim, máy đã qua sử dụng của bị cáo Nguyễn Ngọc L1 là công cụ, phương tiện phạm tội.
[8]. Về biện pháp tư pháp: căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS:
Cần tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước toàn bộ số tiền bị cáo Nguyễn Đăng H thu lợi bất chính là 29.676.500 đồng; bị cáo Trương Văn T2 thu lợi bất chính là 4.073.000 đồng. Bị cáo H và T2 đã nộp đủ số tiền trên.
[9]. Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đăng H, Bùi Văn D, Nguyễn Ngọc L1, Trương Văn T2 phạm tội "Đánh bạc".
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 321; điểm s, u khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 65 BLHS xử phạt bị cáo Nguyễn Đăng H 36 (ba mươi sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 (sáu mươi) tháng kể từ ngày xét xử sơ thẩm 16/9/2024.
Giao bị cáo Nguyễn Đăng H cho U2, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố tình vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 321; điểm s, u khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 54, Điều 65 BLHS xử phạt bị cáo Bùi
11
Văn D 24 (hai mươi bốn) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 (bốn mươi tám) tháng kể từ ngày xét xử sơ thẩm 16/9/2024.
Giao bị cáo Bùi Văn D cho UBND xã T, huyện C, tỉnh Quảng Trị giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố tình vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 321; điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 54, Điều 65 BLHS xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc L1 24 (hai mươi bốn) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 (bốn mươi tám) tháng kể từ ngày xét xử sơ thẩm 16/9/2024.
Giao bị cáo Nguyễn Ngọc L1 cho UBND phường Đ, thành phố Đ,, tỉnh Quảng Trị giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố tình vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 321; điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 54, Điều 65 BLHS xử phạt bị cáo Trương Văn T2 24 (hai mươi bốn) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 (bốn mươi tám) tháng kể từ ngày xét xử sơ thẩm 16/9/2024.
Giao bị cáo Trương Văn T2 cho UBND phường Đ, thành phố Đ,, tỉnh Quảng Trị giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố tình vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Xử lý vật chứng: căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS:
Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước:
12
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi (không kiểm tra được thông tin đời máy “13C” do máy không khởi động lên được) màu đen, không có sim, máy đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong máy;
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung (không kiểm tra được thông tin đời máy “Galaxy A30” do máy không khởi động lên được) màu đen, không có sim, máy đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong máy;
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone (không kiểm tra được thông tin đời máy “7Plus” do máy không khởi động lên được) màu hồng, không có sim, máy đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong máy.
(Vật chứng trên hiện có tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05 tháng 8 năm 2024)
3. Về biện pháp tư pháp: căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS:
Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước:
- Số tiền 29.676.500 (hai mươi chín triệu sáu trăm bảy mươi sáu nghìn năm trăm đồng) đồng thu lợi bất chính của bị cáo Nguyễn Đăng H, bị cáo đã nộp đủ số tiền 29.676.500 (hai mươi chín triệu sáu trăm bảy mươi sáu nghìn năm trăm đồng) đồng (khoản thu lợi bất chính). Số tiền này hiện được tạm giữ tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị theo biên lai số 0000167 ngày 18/7/2024 và biên lai số 0000175 ngày 19/8/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị.
- Số tiền 4.073.000 (bốn triệu không trăm bảy mươi ba nghìn) đồng thu lợi bất chính của bị cáo Trương Văn T2, bị cáo đã nộp đủ số tiền 4.073.000 (bốn triệu không trăm bảy mươi ba nghìn) đồng (khoản thu lợi bất chính). Số tiền này hiện được tạm giữ tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị theo biên lai số 0000176 ngày 19/8/2024 của Cục T6 hánh án dân sự tỉnh Quảng Trị.
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Đăng H, Bùi Văn D, Nguyễn Ngọc L1, Trương Văn T2 mỗi bị cáo phải nộp 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Phương |
Bản án số 78/2024/HS-ST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ về hình sự về tội đánh bạc
- Số bản án: 78/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đăng Hùng cùng đồng phạm - Đánh bạc
