Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 78/2024/DS-ST

Ngày: 28 - 8 - 2024

V/v “Tranh chấp quyền sử dụng

đất và hủy quyết định cá biệt”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thúy Quỳnh.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Xuân Thành,
  • Bà Bùi Thị Hoa.
  • Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Châu - Thẩm tra viên chính Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 79/2023/TLST-DS ngày 17 tháng 4 năm 2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy quyết định cá biệt” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 114/2024/QĐXX-ST ngày 23 tháng 7 năm 2024; Thông báo về thời gian mở phiên tòa xét xử vụ án số 318/2024/TB-DS.KTNV ngày 01 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 353/2024/QĐST-DS ngày 19 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Bà Ngô Thị B, sinh năm 1966.
    • Địa chỉ: xóm C, xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
  • - Bị đơn: Ông Lương Văn H, sinh năm 1963, bà Đoàn Thị T, sinh năm 1967.
    • Địa chỉ: xóm C, xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Ủy ban nhân dân huyện Y, tỉnh Nghệ An. Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn D. Chức vụ: Phó Chủ tịch UBND huyện. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
    2. Ủy ban nhân dân xã, huyện Y, tỉnh Nghệ An.
      • Đại diện theo pháp luật: ông Đặng Quang H1, Chức vụ: Chủ tịch UBND xã. Vắng mặt. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
    3. Chị Ngô Thị Ngọc V, sinh năm 1995;
    4. Chị Ngô Mỹ H3, sinh năm 2000.
      • Cùng địa chỉ: Xóm 3 (mới), xã Viên Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
      • Người đại diện theo ủy quyền của chị V, chị H3: Bà Ngô Thị B, sinh năm 1966. Địa chỉ: Xóm 3 (mới), xã Viên Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
  • Người làm chứng:
    • Ông Lương Xuân H2. Địa chỉ: xóm C, xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
    • - Ông Nguyễn Ích L. Địa chỉ: xóm C, xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
    • Ông Vũ Văn D1.
    • Bà Ngô Thị T1, sinh năm 1955. Cùng địa chỉ: Số E, ngõ I, Tổ 29, T, L, Hà Nội. Vắng mặt.
    • Bà Ngô Thị T2, sinh năm 1945. Địa chỉ: xóm C, xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
    • Bà Ngô Thị D2, sinh năm 1945. Địa chỉ: xóm G, xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An.
    • Bà Ngô Thị N, sinh năm 1962.
      • Địa chỉ: Tổ D, phường M, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.
    • - Bà Ngô Thị S, sinh năm 1964.
      • Trú tại: TDP M, phường B, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình hòa giải và tại phiên tòa, bà Ngô Thị B trình bày:

Thửa đất của gia đình bà B là thửa đất số 1022 tờ bản đồ số 6, diện tích 319m² tại xóm D, xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An, đã được Ủy ban nhân dân (viết tắt là UBND) huyện Y cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt là GCNQSD) số BE527208 ngày 28/12/2022 cho hộ bà Ngô Thị B. Thửa đất có nguồn gốc do bố mẹ bà B để lại cho bà B sau khi qua đời. Sau khi nhận chuyển nhượng, bà B sử dụng ổn định, không tranh chấp với ai. Phía Tây thửa đất có một phần bờ bao giáp đất nhà bà Bùi Thị N1, có bờ bao dài khoảng 3m là khu vực giếng nước sinh hoạt không có mái ngói; phần còn lại phía Tây giáp với đất nhà ông Lương Xuân T3 (có cổng ra vào nhà ôngTôn). Phần tiếp giáp nhà ông T3 có một mương chảy do gia đình tự xây dựng và ông H có sử dụng cùng gia đình bà B. Ngày 08/3/2021, trong lúc bà B không ở nhà, gia đình ông H sửa lại sân, cổng đã lấp mương tưới tiêu của gia đình bà. Bà B đã báo lên chính quyền địa phương yêu cầu ông H trả lại phần đất lấn chiếm của gia đình bà. Ngày 11/3/2021, UBND xã đã mời hai gia đình đến hòa giải nhưng không thành. Sau đó, bà B có làm đơn khiếu nại đếnUBND xã và đề nghị trích sao hồ sơ cấp GCNQSDĐ của gia đình bà thì phát hiện UBND huyện đã cấp thiếu diện tích đất cho gia đình bà và một số giấy tờ trong hồ sơ không hợp lệ, chữ ký trong biên bản không phải của bà B.

Việc UBND huyện Y cấp thiếu diện tích đất cho gia đình bà dẫn đến tranh chấp đất với gia đình ông H đã ảnh hưởng đến quyền lợi của gia đình bà. Do đó bà Ngô Thị B đề nghị Tòa án giải quyết những vấn đề sau:

  • Yêu cầu gia đình ông Lương Văn H trả lại đất cho gia đình bà theo hiện trạng từ trước tới nay, với diện tích khoảng 6m².
  • Hủy GCNQSD đất của gia đình bà đã được cấp đổi lại ngày 28/12/2012 có số BE527208 vào sổ cấp giấy chứng nhận CH00201, thửa đất số 1022, tờ bản đồ số 6, diện tích sử dụng 319m² mang tên hộ bà Ngô Thị B tại xóm D, xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An để chỉnh lý lại diện tích đúng ranh giới và cấp lại GCNQSD đất cho gia đình bà theo đúng quy định.

Trong bản tự khai, quá trình tham gia tố tụng cũng như tại phiên tòa, bị đơn ông Lương Văn H và bà Đoàn Thị T thống nhất trình bày:

Thửa đất của gia đình ông H đang sử dụng là thửa đất số 956 tờ bản đồ số 6, diện tích 433m², có nguồn gốc của bố ông mua từ năm 1976 sử dụng cho đến nay, đã được UBND huyện Y cấp GCNQSDĐ số G052784 ngày 12/4/1995 và gia đình chưa thực hiện cấp đổi GCNQSDĐ. Trước đây, giáp ranh giữa thửa đất của ông H với bà B có một rãnh nước chảy từ nhà bà L phía trên xuống qua cổng nhà ông và qua mương hẹp đường. Trước đây, bố của bà B xây nhà bếp thì có xin lấn ra diện tích đất của gia đình tôi và xin cho nước của nhà bếp, nhà tắm chảy qua phần mương nước bên cổng nhà ông H. Đến ngày 09/03/2021, gia đình ông H kê nền sân và cổng lên, làm hết phần diện tích đất thì bà B cho rằng rãnh nước đó thuộc phần diện tích đất của bà B nên hai gia đình xảy ra tranh chấp. Do đó, đề nghị không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà B.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Ngô Thị Ngọc V, Ngô Thị Mỹ H3 thống nhất như lời khai của bà B. Đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Ngày 19/8/2024, ông Lương Văn H và bà Đoàn Thị T có đơn phản tố với nội dung: Yêu cầu bà Ngô Thị B phải tháo dỡ toàn bộ các mái ngói của nhà bà B đang lấn chiếm đất của nhà ông bà và ống nước của nhà bà B đang chảy trên đất của nhà ông H bà T.

Ngày 20/8/2024, ông H và bà T có đơn rút toàn bộ nội dung yêu cầu phản tố, không yêu cầu Tòa án giải quyết nữa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND huyện Y, ông Nguyễn Văn D làm đại diện có văn bản trình bày:

  • Về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất:
    • * Thửa đất thổ cư của bà Ngô Thị B do cha mẹ để lại làm nhà ở từ trước tới nay, đã được UBND huyện Y cấp GCNQSD đất số G052785 ngày 12/4/1995 mang tên bà Ngô Thị B, tổng diện tích 1.683m², trong đó có thửa đất không ghi số, diện tích 280m² đất ở và đất vườn (thửa đất bà B đang phản ánh), theo bản đồ địa chính xã Viên Thành là thửa đất số 1022 tờ bản đồ số 6. Thực hiện chủ trương cấp đổi GCNQSD đất cho nhân dân sau đo đạc bản đồ địa chính, tại hồ sơ cấp đổi GCNQSD đất, bà B xác nhận chữ ký tại biên bản xác định ranh giới mốc giới thửa đất vào chỗ chủ sử dụng đất, đơn đề nghị cấp đổi GCNQSD đất là của bà Ngô Thị B (theo Biên bản làm việc giữa Phòng T12 và bà B ngày16/4/2021). Ngày 28/12/2012 đã được UBND huyện Y cấp GCNQSD đất số BE 527208 tại thửa đất số 1022, tờ bản độ số 6, xã V, diện tích 319m² (300m² đất ở và 19m² đất trồng cây lâu năm).
    • - Về hồ sơ địa chính: Sổ mục kê xã Viên Thành có thể hiện số thứ tự 26 chủ sử dụng “bà T2” là tên mẹ đẻ của bà B gọi theo tên chị gái đầu của bà B là bà Ngô Thị T2, diện tích 190m².
      • + Đơn đăng ký quyền sử dụng đất năm 1994 thể hiện 200m² đất ở và 80m² đất vườn;
      • + Bản đồ 299 thửa đất của bà B thể hiện là thửa đất số 398, diện tích 190m².
      • + T4 sổ cấp GCNQSD đất thể hiện tổng diện tích được cấp GCNQSD đất 1.683m², số phát hành G 052785.
      • + Sơ đồ kỷ thuật thửa đất khi đo đạc bản đồ địa chính xã Viên Thành thể hiện là thửa đất số 1022, tờ bản đồ số 06, xã V, diện tích 367m², quy chủ sử dụng đất là bà Ngô Thị B, có chữ ký “Ngô Thị B” tại phần chủ sử dụng;
    • * Đối với thửa đất của ông Lương Văn H:
      • Về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất: Thửa đất nguyên là của gia đình ông Trang T5. Năm 1976, gia đình ông H mua lại sử dụng làm nhà ở từ đó đến nay, đã được UBND huyện Y cấp GCNQSD đất, số phát hành G 052784 ngày 12/4/1995. Theo bản đồ địa chính xã Viên Thành là thửa 956, tờ bản đồ số 6, gia đình ông H chưa thực hiện cấp đổi GCNQSD đất theo số liệu bản đồ địa chính.
      • - Về hồ sơ địa chính:
        • + Sổ mục kê xã Viên Thành trang xóm 4 thể hiện số thứ tự 20, chủ sử dụng “L. Huân", diện tích 360m².
        • + Bản đồ 299 thể hiện là thửa đất số 392, diện tích 360m²;
        • + Trang sổ cấp GCNQSDĐ thể hiện tổng diện tích được cấp GCNQSD đất 2.195m², số phát hành G 052784.
        • + Sơ đồ kỹ thuật thửa đất thể hiện khi đo đạc bản đồ địa chính xã Viên Thành thể hiện là thửa đất số 956 tờ bản đồ số 06, xã V, diện tích 433 m² chủ sử dụng đất Lương Văn H;
    • * Về hiện trạng sử dụng đất tại thời điểm tháng 4, tháng 5 năm 2021: Hai hộ gia đình bà B và ông H ranh giới giáp ranh được xây bằng tường bao kiên cố do bà B xây (một phần tường nhà và một phần tường rào), giáp ranh 2 thửa đất có 01 rãnh nước chảy từ nhà bà L phía trên xuống qua cổng ông H và ra mương kẹp đường, phần tiêu nước sinh hoạt từ khu vực nhà bếp và khu vực giếng của bà B tiêu ra rãnh nước này, sau khi ông H kê nền cổng năm 2021 thì thành rãnh tiêu nước nằm dưới nền cổng. Rãnh nước này không được thể hiện tại bản đồ 299 cũng như bản đồ địa chính và hiện trạng rãnh nước này được đo trong thửa đất số 956, tờ bản đồ số 06, xã V, diện tích 433m² quy chủ sử dụng Lương Văn H.
  • Năm 2013, bà B nhận được GCNQSD đất số BE 527208 (cấp đổi năm 2012), từ trước cho đến ngày 09/3/2021 hai gia đình không xảy ra tranh chấp gì về đất đai. Đến ngày 09/3/2021, ông H kê nền cổng, sân lên cao dẫn đến ách tắc nước trong khu vực sinh hoạt của gia đình bà B cho nên bà B và ông Lương Văn H xảy ra tranh chấp phần đất rãnh nước này và ông H có gửi đơn UBND xã yêu cầu giải quyết tranh chấp. Ngày 11/3/2021, UBND xã đã tổ chức hòa giải 2 hộ gia đình nhưng không thành.

Từ các căn cứ trên, UBND huyện có ý kiến như sau:

  • Tại bản đồ 299 ranh giới giáp ranh giữa thửa 398 của bà B và thửa 392 của ông H cũng như bản đồ địa chính giáp ranh thửa 1022 và thửa 956 không thể hiện rãnh nước hay phần đất mương. Phần công trình trên đất của gia đình bà B tường nhà và tường rào ngăn cách (tiếp giáp thửa đất số 956, tờ bản đồ 6 của gia đình ông H) do gia đình bà B xây.
  • Tại sơ đồ kỹ thuật thửa đất, hồ sơ cấp đổi GCNQSD đất thửa đất số 1022, tờ bản đồ số 6, xã V bà Ngô Thị B đã ký xác nhận về ranh giới, diện tích. Về hồ sơ, thủ tục cấp đổi GCNQSD đất số BE 527208 ngày 28/12/2012 đúng quy định pháp luật. Do đó, quan điểm của UBND huyện Y là giữ nguyên GCNQSD đất đã cấp đổi cho bà Ngô Thị B số BE 527208 ngày 28/12/2012 tại thửa đất số 1022 tờ bản đồ số 6, xã V.

Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Đại diện Ủy ban nhân dân xã có văn bản trình bày:

  1. Nguồn gốc sử dụng đất, hiện trạng sử dụng đất đối với đất của bà Ngô Thị B và ông Lương Văn H.
    • Đất của bà Ngô Thị B:
      • + Theo bản đồ 299 là thửa 398; diện tích 190m². Đã được cấp GCNQSD đất số G 052785 ngày 12/4/1995, mang tên Ngô Thị B. Nay là thửa 1022 tờ 06; diện tích: 367m². Được cấp đổi GCNQSD đất năm 2013; số phát hành:
      • + Nguồn gốc: Đất cha mẹ để lại trên đất sử dụng trước năm 1979.
      • + Hiện trạng sử dụng: đất ở, ranh giới được thể hiện bằng bờ rào xây xung quanh. Sử dụng ổn định.
    • Đất của Ông Lương Văn H (Lương Xuân H4):
      • + Theo bản đồ 299 là thửa 392; diện tích 360m². Đã được cấp GCNQSD đất số G 052784. cấp ngày 12/4/1995 mang tên Lương Xuân H4 (Lương Văn H). Nay là thửa 956, tờ 06; diện tích: 443m²; chưa cấp đổi GCNQSD đất.
      • + Nguồn gốc: Đất mua lại của ông Trang T5 năm 1976.
      • + Hiện trạng sử dụng: đất ở, ranh giới được thể hiện bằng bờ rào xây xung quanh. Sử dụng ổn định. Giáp ranh giữa đất của ông H và bà B có 01 rãnh nước. Rãnh nước tự tạo cho nước chảy từ nhà bà L phía trên chảy xuống qua cổng ông H và ra đường, Rãnh nước này không thể hiện trên bản đồ 299 và bản đồ địa chính. Theo hiện trạng thì rãnh nước này đang nằm trên diện tích đất của ông H.
  2. Về hồ sơ:
    • Đất của bà Ngô Thị B và ông Lương Văn H: có trong trang sổ địa chính, trang sổ mục kê, có bản đồ 299, có trang sổ cấp giấy và có hồ sơ kỷ thuật đo vẽ năm 2005. (Có hồ sơ kèm theo).
  3. Giải trình diện chênh lệch giữa bản đồ 299 và bản đồ địa chính 02 thửa đất của 02 gia đình.
    • + Đất bà Ngô Thị B: Diện tích theo bản đồ 299 là: 190m²; diện tích bản đồ địa chính là: 367m². Diện tích tăng chênh lệch là: 177m².
    • + Đất ông Lương Xuân H4: Diện tích theo bản đồ 299 là: 360m²; diện tích bản đồ địa chính là: 443m². Diện tích tăng chênh lệch là: 83m².
    • - Trong GCNQSD đất của bà B và ông H4 không ghi số thửa, tờ bản đồ.
    • Đây là tồn tại chung của xã Viên Thành tại thời điểm cấp giấy theo Nghị định 64/CP. Riêng đất ở chỉ có ghi diện tích không ghi số thửa, tờ bản đồ.
    • Vì thế diện tích được cấp tại bìa của bà Ngô Thị B là thửa 398 và của ông H4 là thửa 392 trong bản đồ 299.
    • * Giải trình về diện tích chênh lệch: Đối chiếu bản đồ 299 và bản đồ địa chính thì hình thể thửa đất không thay đổi, nên diện tích chênh lệch của 02 gia đình là do sai số giữa 02 kỳ đo đạc và do trước đây là bờ rào tre và cây cối rậm rạp, giờ được xây bằng tường xây nên diện tích tăng do phát quang bờ bụi rậm.

Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Người làm chứng, bà Ngô Thị T1, bà Ngô Thị T2, bà Ngô Thị N, bà Ngô Thị S là các chị em gái của bà Ngô Thị B có bản tự khai thống nhất trình bày:

Bố tôi là Ngô Trực T6 đã chết ngày 05/11/2002, mẹ là bà Trần Thị D3, chết 2010. Bố mẹ qua đời để lại cho em tôi một mảnh đất và tài sản gắn liền trên đất, mảnh đất đó nay đã được mang tên em tôi là Ngô Thị B. Thửa đất số 1022, tờ bản đồ số 6, diện tích 319m² cấp ngày 28/12/2012, có số BE 527208 vào sổ cấp GCNQSD đất CH00201. Chúng tôi đã từ chối nhận di sản và thống nhất để lại cho em tôi chăm sóc phụng sự cha mẹ tôi vì cha mẹ tôi sinh con một bề không có con trai, hơn nữa chúng tôi đã thoát ly làm việc nhà nước và đã có gia đình. Mảnh đất hiện nay em tôi đang ở là của bố mẹ để lại trước đây gần nhà ông Lương Xuân T3. Khi cha mẹ làm nhà thì khu vực giếng nước rửa sinh hoạt không có mái ngói cho nên đã xây hết phần đất, còn từ khu vực làm nhà trở ra đường thì có nhà nên có rọt ngói nước chảy (vì trong sinh hoạt đời thường khi làm nhà phải chừa đất không cho nước chảy sang nhà người khác) chính vì thế cha mẹ tôi đã chừa một phần đất làm rãnh nước chảy từ khu vực giếng nước ra với chiều rộng khoảng 40cm, chiều dài tôi không biết rõ, khoảng 6m², thực tế rãnh nước hiện nay đã bị gia đình ông Lương Xuân H4 tranh chấp là do của cha mẹ tôi để lại và có thật. Tôi đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông H4 phải trả lại hiện trạng cho bà B.

Người làm chứng, ông Vũ Văn D1 có văn bản trình bày:

Tôi là anh rể của bà B. Cuối năm 2019, tôi có về quê sửa nhà nhà bếp cho em vợ tôi là Ngô Thị B, vì nhà bếp có liên quan đến giếng nước sinh hoạt nên từ trước ông bà đã trừ rãnh nước chảy sang phía tiếp giáp nhà ông H4 đang sử dụng. Chính vì thế, trước khi đặt ống nước nhà ông H4 chảy ống nước nhà em tôi (trích nguyên văn văn bản), tôi nghĩ gần mái kề hồi nên tôi đã đồng ý cho ông H4 đặt chung. Do đó, tiền mua ống nước từ giếng nhà ông H4 ra cổng làng thì 02 nhà chịu chung, còn từ giếng nhà ông H4 trở vào bếp của em tôi và phía nhà bà L thì em tôi chịu. Hai gia đình cùng nhau đặt ống, rãnh nước đó của bố mẹ vợ tôi đã có từ trước và thực tế bắt nguồn từ giếng nước ra, còn ông H4 không có nguồn gốc nào tạo ra dòng nước chảy để có nguồn nước đó.

Người làm chứng, ông Lương Xuân H2, anh ruột của ông Lương Văn H có bản tự khai và tại phiên tòa trình bày:

Nguồn gốc thửa đất của ông H bà T là do tôi mua của anh trai con bác là ông Lương Văn T7 (tên thường gọi là ông T4) năm 1982, diện tích không xác định. Giữa đất nhà ông T7 (T4) và ông T2 (cha đẻ bà B) có một đoạn tường nhà ngang và nhà bếp của ông T2 ngăn cách dài khoảng 5-6m, cao khảng 2m, được xây bằng đá rú được xây từ trước đó, còn lại là bờ rào bằng tre.

Năm 1986, mưa bão làm đổ tường nhà ông T2, sau đó ông T2 xây lại. Do ranh giới giữa hai thửa đất là đường cong nên ông T2 (cha đẻ bà B) xin lấn qua đất bên tôi ở góc tường nhà bếp để cho thẳng tường. Vì là hàng xóm láng giềng nên tôi và cha tôi đồng ý cho lấn qua khoảng 15cm tường nhà bếp. Tường nhà bà B hiện nay được xây từ năm 2010, ngay trên vị trí móng bức tường nhà ngang cũ do ông T2 xây, còn đoạn tường nhà bếp bà B có xin chú H thêm khoảng 10cm vì bề ngang nhà bếp hẹp khó sinh hoạt. Tầng hai xin lấn tường nhà bếp của ông T2 trước đó và bà B sau này là khoảng 25cm.

Mương nước trước đây do chú H kè bằng táp lô tự đóng để thoát nước sinh hoạt, thoát nước mưa ở sân cổng. Sau đó bà B và nhà bà L xin cho nước mưa và nước giếng sinh hoạt (nhà bà B) chảy qua. Hiện nay, tại vị trí mương nước cũ có đường ống thoát nước sinh hoạt của hai gia đình đặt năm 2021 (do anh rể bà B xin đặt) để cho nước nhà bếp và nhà tắm bà B chảy ra mương lớn ngoài đường.

Người làm chứng ông Nguyễn Ích L trong biên bản lấy lời khai trình bày:

Thửa đất số 1021, tờ bản đồ số 6 trước đây mang tên tôi là Nguyễn Ích L nhưng cách đây vài năm đã chuyển tên mẹ là Bùi Thị N2. Thửa đất của gia đình tôi trước đây thoát nước mưa tại các điểm giáp nhà ông T8 (giáp nhà bà B); giáp nhà ông T9, chảy qua nhà ông N3 và một điểm thoát nước tại ranh giới giữa gia đình tôi và gia đình ông H. Nhưng hiện nay, tôi làm nhà lại họ không cho chảy nữa nên gia đình tôi tôn tạo đắp đất cao để cho nước mưa chảy ra mương lớn của xóm. Trước đây, khi nước mưa trong vườn chảy, giữa nhà bà B và gia đình ông H có điểm thoát nước nhưng là chảy tự phát, gia đình họ vét cho gia đình tôi chảy nhờ, họ cũng chảy đó và mình nhờ chảy qua để ra mương lớn chứ không có cống rãnh hay mương nước gì. Đặc điểm của lối thoát nước tại ranh giới giữa hộ ông H và hộ bà B là lối thoát nước tự phát, gia đình ông H vét sát nhà bà B nên cho gia đình tôi thoát nước nhờ qua chứ lối thoát nước này không có cấp thoát nước hay mương thoát nước của xã hội. Hiện nay có cống rãnh hay không thì tôi không biết.

Kết quả thu thập chứng cứ của Tòa án phản ánh:

Kết quả thu thập tại địa chính xã Viên Thành: Hai hộ gia đình ông H và bà B và với các thửa đất liền kề không có tranh chấp với hộ ông H và bà B. Đối với việc diện tích chênh lệch giữa kết quả đo vẽ hiện trạng thửa đất và diện tích được ghi trong GCNQSD đất của bà B và trong GCNQSD đất của ông H sai số là do đo đạc. Tòa án đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ đối với thửa đất tranh chấp:

Kết quả được phản ánh bằng biên bản và sơ đồ bản vẽ kèm theo lưu tại hồ sơ vụ án như sau:

  • Thửa đất số 1022 tờ bản đồ số 6, diện tích sử dụng riêng 319m², trong đó có 300m² đất ở và 19m² đất trồng cây lâu năm. Phần diện tích lưu không đường không được cấp GCNQSD đất là 48m² do UBND huyện Y cấp cho hộ bà Ngô Thị B ngày 28/12/2012.
  • Thửa đất số 956 tờ bản đồ số 6, diện tích sử dụng riêng 443m², trong đó có 300m² đất ở; 143m² đất trồng cây lâu năm. Phần diện tích lưu không đường không được cấp GCNQSD đất là do UBND huyện Y cấp cho hộ ông Lương Văn H và đã được Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất đính chính, bổ sung ngày 03/8/2018 theo hồ sơ biến động số 1191.
  • Thửa đất số 1022 có vị trí hình thể kích thước được mô tả như sau: Phía Bắc có chiều dài kéo từ Đ sang Tây giáp thửa đất số 956 (hộ ông H). Phần ranh giới, mốc giới theo hiện trạng như sau: Ranh giới giữa hai hộ có 01 mương thoát nước nhỏ, năm 2021 ông H đổ bê tông sân ngõ nên hai hộ đã đặt cống nhựa, sau đó đổ bê tông láng kín (không nhìn thấy mương, cống nước); Ranh giới từ Đ sang T gồm: Trụ cổng ngõ hộ ông H, nhà chăn nuôi của hộ bà B, tường xây giáp đất hộ ông H có đặc điểm tính từ mặt đất trở lên bờ tường có 03 lớp vật liệu được xây dựng vào các thời điểm khác nhau, lớp từ mặt đất lên 70cm là xây bằng đá, tiếp theo là xây bằng 04 lớp sò cũ và bờ tường phía trên cùng xây bằng sò mới, mái nhà lợp bằng tôn năm 2022; tiếp theo là chuồng chăn nuôi + nhà vệ sinh cùng xây năm 2012; nhà ba gian xây năm 1986 năm 2010 cải tạo lại trên nền móng cũ của cha mẹ bà B để lại. Các công trình nhà chăn nuôi, công trình phụ lợp tôn đều có kích thước mái tôn vượt ra ngoài tường xây giáp nhà ông H khoảng 10cm; nhà 03 gian có 02 trương 02 ô cửa sổ mái ngói đều vượt ra ngoài tường nhà khoảng 15cm; các công trình nhà bếp và giếng nước của hộ bà B.

Có ranh giới hiện trạng giáp hộ ông H là tường nhà cách vị trí tường nhà 03 gian dịch ra hướng bắc khoảng 20cm. T10 nhà bếp hộ nhà bà B kéo dài hết đất hộ ông H phần giáp các thửa đất 1021, 1020 tạo thành 01 đường thẳng. (Nhà bếp, giếng nước hộ bà B sửa lại năm 2019, nền móng cũng xây lại năm 2019). Theo ông H thì tường nhà bếp trước đây xây bằng nhà lớn nhà bà B nhưng năm 2019 bà xây lại có xin xây bờ ra trên cống nước chảy từ nhà bà L.

Kết quả đo vẽ được thể hiện tại ngày 10/9/2023 như sau: Các hộ bà B và ông H đều chỉ ranh giới khác nhau nhưng đều xác định ranh giới ngoài tường nhà ở và công trình phụ của hộ bà B. (Ranh giới các hộ chỉ xác định theo nét đứt và ranh giới các thửa đất được thể hiện bằng nét đậm tại kết quả đo hiện trạng lưu trong hồ sơ vụ án).

Hiện trạng thửa đất của hộ bà B được thể hiện như sau:

Phía Đông giáp đường đi, có chiều dài kéo từ B1 - Nam chia làm 02 đoạn: đoạn 1 = 4,94m; đoạn 2=8,65m có đặc điểm: 48m² diện tích đất lưu không không được cấp GCNQSD đất trong đó có 09m² đã làm đường giao thông, phần còn lại 39m² nằm trong chỉ giới quy hoạch giao thông.

Phía Nam giáp thửa đất 1063 có chiều dài từ Đông sang Tây chia làm 02 đoạn: Đoạn 1 đài 2,88m (nằm trong chỉ giới quy hoạch giao thông); đoạn 2 dài 22,15m; Phía Tây giáp thửa đất 1021 có chiều dài chia làm 02 đoạn: Đoạn 1 là phần góc chéo theo hướng Tây - Nam dài 2,89m; đoạn 2 dài 13,61m.

Tài sản gắn liền với thửa đất gồm các công trình nhà ở, công trình phụ như mô tả ở trên và 01 ngôi nhà cấp 4 ở phía Tây cùng sân phơi, cổng, ngõ, tường xây bao quanh thửa đất.

Hiện trạng thửa đất của ông H, bà T được thể hiện như sau:

Thửa đất số 956 có vị trí hình thể và kích thước được mô tả như sau: Phía Bắc giáp thửa đất 891 có chiều dài từ Đông sang tây chia làm 03 đoạn: Đoạn 1 nằm trong phần chỉ giới quy hoạch giao thông 3,25m; đoạn 2 dài 18,93m; đoạn 3 dài 4,56m.

Phía Tây giáp thửa đất số 890 có chiều dài 12,96m và phần giáp thửa đất 1020 dài 1,62m.

Phía Nam có chiều dài từ T11 - Đông chia làm 03 đoạn: đoạn 1 giáp thửa đất 1021 dài 10,14m; đoạn 02 và 03 giáp thửa đất 1022 (hộ bà B) như mô tả tại phía Bắc của thửa 1022. Tài sản trên đất gồm có các công trình nhà ở, công trình phụ, sân phơi, cổng ngõ.

Thẩm định bổ sung ngày 11/6/2024 có kết quả như sau: tiến hành đào phần sát móng nhà bà B phía dưới có một đường ống dẫn nước (ống nhựa phi 110), là ống thoát nước thải của gia đình bà B và nhà bà N1 (thường gọi là bà L). Đường ống thoát nước này kéo dài từ đất nhà bà N1, phía sau nhà bếp nhà bà B ra ngoài mương thoát nước của đường bê tông thôn. Tại điểm cách cổng của ông H khoảng 1m kể từ mương nước của đường bê tông vào là điểm nối của ống thoát nước này và 01 ống thoát nước của ông H.

Tại phiên tòa, bà Ngô Thị B giữ nguyên nội dung khởi kiện, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng kết quả đo vẽ ngày 10/9/2023 để giải quyết vụ án; ông Lương Văn H và bà Đoàn Thị T không đồng ý nội dung khởi kiện của bà B.

Ông Lương Văn H, bà Đoàn Thị T thống nhất kết quả thẩm định mà Hội đồng đã tiến hành; bà Ngô Thị B không đồng ý nhưng không yêu cầu thẩm định lại. Bà Ngô Thị B không yêu cầu định giá đối với phần tài sản tranh chấp.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Ngô Thị B yêu cầu giám định chữ ký, chữ viết của bà trong các tại liệu có trong Hồ sơ cấp GCNQSD đất của bà, tuy nhiên tại phiên tòa bà rút yêu cầu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An nêu quan điểm:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã thực hiện đúng quy định. Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu hủy GCNQSD đất được UBND huyện Y, tỉnh Nghệ An cấp cho hộ bà Ngô Thị B nên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An thụ lý và giải quyết vụ án là đúng quy định pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị HĐXX không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc:

  • + Yêu cầu gia đình ông Lương Văn H trả lại đất cho bị đơn theo hiện trạng từ trước tới nay, với diện tích khoảng 6m².
  • + Hủy Giấychứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình nguyên đơn đã được cấp đổi lại ngày 28/12/2012 có số BE527208 vào sổ cấp giấy chứng nhận CH00201, thửa đất số 1022, tờ bản đồ số 6, diện tích sử dụng 319m² mang hộ bà Ngô Thị B tại xóm D, xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An để chính lý lại diện tích đúng ranh giới và cấp lại GCNQSD đất cho gia đình bà theo đúng quy định.

Về án phí, chi phí tố tụng: Đương sự phải nộp chi phí tố tụng và án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Nguyên đơn và bị đơn có tranh chấp về quyền sử dụng đất, đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, huyện Y, tỉnh Nghệ An vào ngày 4/11/2021 và ngày 31/5/2021 nên đáp ứng điều kiện khởi kiện theo quy định Điều 202 của Luật đất đai năm 2013; Điều 192 và Điều 195 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là vụ án “Tranh chấp về quyền sử dụng đất và hủy quyết định cá biệt” theo khoản 9 Điều 26; Điều 34; điểm a, khoản 1 điều 35; điểm a khoản 1 điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 32 của Luật Tố tụng hành chính. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

[1.3] Về sự vắng mặt của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: chị Ngô Mỹ H3 và chị Ngô Thị Ngọc V đã ủy quyền lại cho bà Ngô Thị B; Đại diện theo ủy quyền của UBND huyện Y, UBND xã Viên Thành có đơn xin xét xử vắng mặt nên Toà án tiến hành xét xử vắng mặt chị V, chị H3 và đại diện theo Ủy quyền của UBND huyện Y, UBND xã Viên Thành theo quy định tại khoản 2 điều 227 và khoản 3 điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

[2.1] Đối với nội dung yêu cầu gia đình ông Lương Văn H trả lại đất cho gia đình nguyên đơn theo hiện trạng từ trước tới nay, với diện tích khoảng 6m².

[2.1.1] Xét nguồn gốc và quá trình sử dụng các thửa đất tranh chấp:

Bà Ngô Thị B đề nghị áp dụng kết quả đo vẽ ngày 10/9/2023 để giải quyết vụ án. Thấy rằng, kết quả đo vẽ ngày 10/9/2023 có đầy đủ chữ ký của cá nhân có thẩm quyền, con dấu của Chi nhánh Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện Y nên có giá trị pháp lý, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

- Đất của bà B có nguồn gốc do bố mẹ để lại và các chị em của bà B đều đồng ý để lại cho bà B. Theo hồ sơ địa chính qua các thời kỳ, theo báo cáo của UBND huyện Y và sổ mục kê của xã Viên Thành thì diện tích thửa đất của hộ bà B lúc đầu mang tên là Ngô Thị T2 (số thứ tự 26) chỉ là 190m², theo Bản đồ 299, thửa đất số 380 diện tích 190m². Đến năm 1994, theo Đơn đăng ký QSD đất là 280m² (có 200m² đất ở và 80m² đất vườn). GCNQSD đất số BE 527208 ngày 28/12/2012 đối với thửa đất số 1022, tờ bản đồ số 06, diện tích 319m² tại xóm D, huyện Y, tỉnh Nghệ An mang tên Ngô Thị B thể hiện ranh giới hướng Bắc giáp thửa đất số 956 của ông H, phía Nam giáp thửa đất số 1063, phía Tây giáp thửa đất số 1021 của ông L (nay là của bà N2), phía Đông giáp đường xóm, trong đó cạnh phía Đông giáp đường xóm có chiều dài 13,47m. Tại GCNQSD đất có hình thể và ranh giới là đường thẳng. Diện tích đất được cấp năm 1995 theo GCNQSD đất có diện tích 280m² ở và đất vườn thì không có sơ đồ kèm theo để xác định chiều dài, chiều rộng, tứ cận của thửa đất.

Trích lục thửa đất khi được cấp GCNQSD đất năm 2012 có diện tích là 367m², trong đó có 48m² đất hành lang giao thông.Diện tích đất và sơ đồ thửa đất kèm theo GCNQSD đất phù hợp với trích lục sơ đồ thửa đất. Theo sơ đồ này thì chiều rộng đất nhà bà B phía giáp đường xóm là 13,47m. Theo sơ đồ thực tế kèm theo Biên bản thẩm định tại chỗ ngày 17/8/2023 thì chiều giáp đường xóm là 13,59m (rộng hơn 0,12m). Như vậy, theo sơ đồ và đo thực tế chiều rộng giáp đất ông H của bà B còn thừa chứ không phải thiếu. Như vậy, diện tích thực tế của bà B là 362m². Diện tích đất của bà B ngày càng tăng lên chứ không phải thiếu so với diện tích ban đầu, nên bà B nại cấp đất cho bà B thiếu là không có căn cứ.

- Đối với phần đất của ông H: Nguồn gốc do mua của ông Trang T5 từ năm 1976. Theo hồ sơ địa chính và bản đồ 299 đều có diện tích 360m². Căn cứ tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án thấy rằng, ông Lương Văn H được UBND huyện Y cấp GCNQSD đất số G052784 ngày 12/4/1995 theo Nghị định số 64-CP của Chính phủ về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp nên tại GCNQSD đất thửa đất của bị đơn không thể hiện số tờ bản đồ, số thửa đất, chỉ thể hiện diện tích đất vườn ở là 380m². Tuy nhiên, theo bản đồ 299 thì thửa đất của bị đơn là thửa 392, diện tích 360m², nay là thửa 956, tờ bản đồ số 06, diện tích 443m², chưa cấp đổi GCNQSD đất. Tại hồ sơ kỹ thuật thửa đất số 956, tờ bản đồ số 6 của bị đơn thể hiện ranh giới phía Bắc giáp thửa đất 891, phía Nam giáp thửa đất 1022 của nguyên đơn và thửa đất 1021 của ông L, phía Tây giáp thửa đất 890, phía Đông giáp đường xóm, trong đó cạnh phía Đông giáp đường xóm có chiều dài 15,75m. Hồ sơ kỹ thuật thửa đất của bị đơn thể hiện thửa đất có hình thể và ranh giới là đường thẳng. Theo thẩm định thực tế ngày 17/8/2023 thì có diện tích 441,9m². Chiều rộng giáp đường xóm theo hồ sơ kỹ thuật là 15,29m. Đo thực tế là 15,29m là vừa đủ, không thừa.

Như vậy, đất của ông H và bà B có tổng diện tích thực tế đều thiếu so với hồ sơ kỹ thuật, còn chiều rộng thửa đất của hai gia đình phía tiếp giáp đường xóm ở giữa có tranh chấp rãnh thoát nước thì của ông H vừa đủ còn của bà B thừa 0,12m. Phần đất của bà B phía giáp đất ông H có mương ống bằng nhựa thoát nước ở giữa thì bà B đã xây tường bao làm ranh giới ngăn cách giữa hai gia đình. Phần tường bao này theo thẩm định tại chỗ ngày 17/8/2023 được xây bằng 03 lớp vật liệu với 03 thời điểm khác nhau. Lớp dưới cùng xây bằng đá, từ mặt đất lên là 70cm lớp tiếp theo xây bằng 4 lớp sò cũ và lớp trên cùng xây bằng sò mới. Như vậy, diện tích đất đo đạc theo xây bao của bà B.

Theo báo cáo của địa chính xã thì hai gia đình thiếu đất là do đo đạc.

Tại biên bản xác định ranh giới, mốc giới thửa đất đối với thửa đất bà Ngô Thị B là thửa 1022, tờ bản đồ số 06 ngày 12/8/2009 thể hiện thửa đất của bà Ngô Thị B có ranh giới phía Bắc giáp đất ông H, phía Đông giáp đường xóm, phía Nam giáp đất ông T8 (1063), phía Tây giáp đất ông L. Ranh giới và hình thể của thửa đất là một đường thẳng (trong đó có cạnh giáp thửa đất ông H), không thể hiện có đường gấp khúc hay mương nước. Tại biên bản đều có chữ ký của nguyên đơn, bị đơn và các hộ giáp ranh. Tại biên bản thẩm định ngày 17/8/2023 và kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất ngày 10/9/2023 thể hiện ranh giới và diện tích theo GCNQSD đất và diện tích theo hiện trạng sử dụng trên thực tế. Theo đó, diện tích ranh giới theo gia đình nguyên đơn bà B xác nhận có tổng diện tích là 362m² trong đó cạnh phía Đông giáp đường xóm có chiều dài là 13,59m, tăng 0,12m so với GCNQSD đất. Diện tích ranh giới theo gia đình bị đơn ông Lương Văn H xác định là 441,9m² trong đó cạnh phía Đông giáp đường xóm có chiều dài 15,29m, giảm 0,46m so với hồ sơ kỹ thuật thửa đất.

Nguyên đơn trình bày chữ ký tại biên bản xác định ranh giới, mốc giới không phải là chữ ký của 3 hộ liền kề. Xét nội dung trình bày của nguyên đơn thấy rằng biên bản nêu trên có chữ ký của nguyên đơn có nghĩa là nguyên đơn đã thừa nhận diện tích, kích thước các cạnh thể hiện tại biên bản này, nguyên đơn sử dụng thửa đất từ đó đến nay không có ý kiến phản đối. Đối với cạnh giáp thửa đất ông H thì ông H thừa nhận chữ ký tại biên bản này là do vợ ông là bà Đoàn Thị T ký và ông đồng ý với việc này. Ngoài ra, tại bản đồ 299 cũng thể hiện cạnh giáp ranh giữa thửa đất 398 của nguyên đơn và thửa đất 392 của bị đơn cũng là một đường thẳng. Theo nội dung xác nhận của UBND xã Viên Thành và UBND huyện Y thì giáp ranh 2 thửa đất có 01 rãnh nước chảy từ nhà bà L phía trên xuống qua cổng ông H và ra mương kẹp đường. Rãnh nước này không được thể hiện tại bản đồ 299 cũng như bản đồ địa chính và hiện trạng rãnh nước này được đo trong thửa đất số 956, tờ bản đồ số 06, xã V, diện tích 433m² quy chủ sử dụng đất Lương Văn H. Nguyên đơn cũng không cung cấp được tài liệu căn cứ nào khác chứng minh diện tích tranh chấp thuộc quyền sử dụng của nguyên đơn.

Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ thể hiện phần mương nước nằm ngoài, sát móng bờ tường nhà bà B.

Tại phiên tòa, bà Ngô Thị B cho rằng mương nước này dùng để thoát nước rửa, nước sinh hoạt từ nhà bếp và mương đó chảy trên đất của gia đình bà. Khi bố mẹ bà còn sống có nói với bà rằng đó là mương nước của gia đình, kết quả thẩm định cho thấy mương nước bố bà xây từ ngày đó đang còn, hình thể mương nước là một đường thẳng giống như bản đồ 299 và các bản đồ khác, hiện trạng nay là chữ L, tuy nhiên lời khai của bà B thể hiện bố mẹ bà chỉ nói mương nước là của gia đình bà chứ không nói là mương nước nằm trên đất của gia đình bà và bà cũng không đưa ra được chứng cứ chứng minh; mặt khác cũng tại phiên tòa, bà B khai theo các kết quả đo đạc của Tòa án thì diện tích đất của nhà bà đều tăng.

Tại phiên tòa, ông H2, ông H và bà T khai thống nhất: Khi mua đất nhà ông Trang T5 thì mương nước đã có và nằm trên đất của nhà ông Trang T5. Ông khẳng định, nhà bà B do ông T2 xây móng, tường nhà là xây hết đất của nhà bà B, mương nước nằm trên đất nhà ông H. Có việc ông T2 có xin nhà ông H xây nhà bếp trên một phần đất của nhà ông H để thành một đường thẳng như ông H2 đã khai. Phần tường nhà bếp nhà bà B hiện nay nằm trên ống nước của nhà bà L nối vào ống thoát nước của nhà bà B. Lời khai này của ông H2, ông H, bà T phù hợp với lời khai trong biên bản lấy lời khai của ông Nguyễn Ích L.

Như vậy, không có cơ sở khẳng định bị đơn lấn chiếm 6m² diện tích đất của nguyên đơn cũng như thửa đất của nguyên đơn được cấp GCNQSD đất còn thiếu như trình bày của nguyên đơn.

Ông H và bà T có yêu cầu phản tố, chưa thực hiện các thủ tục về yêu cầu phản tố, Tòa án cũng chưa thụ lý đối với yêu cầu này, sau đó ông H và bà T có đơn rút yêu cầu phản tố. Ông H và bà T trình bày việc rút yêu cầu này là tự nguyện, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.2] Đối với yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE527208 ngày 28/12/2012 đối với thửa đất số 1022, tờ bản đồ số 6, diện tích sử dụng 319m² mang hộ bà Ngô Thị B:

Thấy rằng, bà Ngô Thị B được cấp GCNQSD đất lần đầu số G052785 ngày 12/4/1995 mang tên bà Ngô Thị B, tổng diện tích 1683m² không ghi số thửa, diện tích 280m² đất ở và đất vườn. Năm 2011, bà B có đơn xin cấp đổi GCNQSD đất và đã được cấp GCNQSD đất số BE527208 ngày 28/12/2012 đối với thửa đất số 1022, tờ bản đồ số 6, diện tích sử dụng 319m² mang tên hộ bà Ngô Thị B. Sau khi nhận GCNQSD đất đến năm 2021, bà B không có khiếu nại gì về việc cấp GCNQSD đất của mình không đúng diện tích thực tế sử dụng. Bên cạnh đó, như đã phân tích trên thì không có cơ sở xác định thửa đất của nguyên đơn đã cấp thiếu diện tích.

Đối với nội dung các tài liệu trong hồ sơ xin cấp GCNQSD đất của bà Ngô Thị B có một số sai sót như bà B trình bày trong đơn khởi kiện, một số tài liệu khác tuy không điền đầy đủ ngày, tháng, năm nhưng những thiếu sót này không làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà B và không làm thiếu diện tích đất của bà B. Bà B khai rằng chữ ký và viết trong Bản giải trình về việc chênh lệch về số thửa, diện tích sử dụng thực tế và giấy tờ ... (Bút lục 37) có trong hồ sơ vụ án không phải của bà, tuy nhiên bà không yêu cầu giám định nên không có căn cứ làm rõ.

Căn cứ vào tài liệu chứng cứ có tại vụ án thấy rằng cơ quan có thẩm quyền đã tiến hành thủ tục cấp GCNQSD đất cho bà Ngô Thị B theo đúng trình tự, thủ tục luật định nên có căn cứ không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị B về việc hủy GCNQSD đất số BE527208 ngày 28/12/2012 mang tên Ngô Thị B.

Từ những nhận định trên không có căn cứ chấp nhận các nội dung khởi kiện của bà Ngô Thị B.

Về án phí: Bà Ngô Thị B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Về chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ tài sản tranh chấp: Tổng số tiền chi phí hết 6.429.000 đồng. Bà B khởi kiện nhưng không được chấp nhận nên bà B phải chịu toàn bộ chi phí nói trên. Bà B đã nộp đủ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 9 Điều 26; Điều 37; Điều 147; khoản 1 Điều 157; Điều 158 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 166; Điều 175 và Điều 176 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ vào khoản 24 Điều 3; Điều 5; Điều 6; Điều 12; Điều 55; Điều 96; khoản 5; khoản 7 Điều 166; Điều 170; Điều 202 và khoản 1 Điều 203 Luật đất đai năm 2013;

Căn cứ vào Điều 26; khoản 2 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị B về việc:

  • Yêu cầu gia đình ông Lương Văn H trả lại đất cho gia đình bà theo hiện trạng từ trước tới nay, với diện tích khoảng 6m².
  • Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình bà đã được cấp đổi lại ngày 28/12/2012 có số BE527208 vào sổ cấp giấy chứng nhận CH00201, thửa đất số 1022, tờ bản đồ số 6, diện tích sử dụng 319m² mang hộ bà Ngô Thị B tại xóm D, xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An để chỉnh lý lại diện tích đúng ranh giới và cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình bà theo đúng quy định.

Về án phí: Buộc bà Ngô Thị B phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn) án phí dân sự sơ thẩm. Bà Ngô Thị B đã nộp đủ theo Biên lai số 0012799 ngày 13/4/2023 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.

Về chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ: Buộc bà Ngô Thị B phải chịu chi phí xem xét thẩm định và đo đạc tại chỗ 6.429.000 đồng. Bà Ngô Thị B đã nộp đủ.

Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Bản án này được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, 7, 7a và điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Phạm Thị Thúy Quỳnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 78/2024/DS-ST ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy quyết định cá biệt

  • Số bản án: 78/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy quyết định cá biệt
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp đất và hủy quyết định cá biệt
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger