Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 78/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 22-7-2024

V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Nga

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Đặng Minh Lý
  2. Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Phương Huỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Thanh T - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 98/2024/TLST-HNGĐ, ngày 20 tháng 3 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Cẩm G, sinh năm 1983; địa chỉ thường trú: Số E, Nguyễn Văn L, Tổ B, khu phố C, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương; chỗ ở hiện nay: Khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương; vắng mặt, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
  2. Bị đơn: Ông Nguyễn Trung T1, sinh năm 1985; địa chỉ thường trú: Số E, Nguyễn Văn L, Tổ B, khu phố C, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

  1. Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị Cẩm G trình bày:

Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Cẩm G và ông Nguyễn Trung T1 là vợ chồng chung sống với nhau từ năm 2007, hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 111, quyển số 01/2007, ngày 26/11/2007 tại UBND xã (nay là phường) Chánh Mỹ, thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương.

Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, tuy nhiên qua một thời gian chung sống vợ chồng đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, có nhiều bất đồng quan điểm, thường xuyên cải vã, ông T1 không quan tâm đến gia đình, vợ chồng tự hòa giải những mâu thuẫn trong gia đình, tuy nhiên mâu thuẫn vợ chồng vẫn không thể giải quyết được, tính tình không hợp nhau, cuộc sống vợ chồng trở nên căng thẳng. Sau khi kết hôn thì vợ chồng chung sống tại địa chỉ số E, Nguyễn Văn L, Tổ B, khu phố C, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Nhưng do vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng nên đã ly thân hơn 04 năm nay. Bà G đã về nhà cha mẹ tại khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương để sinh sống. Còn ông T1 sinh sống tại địa chỉ số E, Nguyễn Văn L, Tổ B, khu phố C, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Nhưng hiện nay ông Nguyễn Trung T1 đang chấp hành án phạt tù tại trại giam C, tỉnh Tây Ninh.

Vì vậy, nay nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được nên bà G yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Nguyễn Trung T1. Khi xảy ra mâu thuẫn vợ chồng tự giải quyết không yêu cầu địa phương, gia đình hai bên hòa giải.

Về con chung: Qúa trình chung sống vợ chồng có 02 con chung: Nguyễn Giang Đ, sinh ngày 27/4/2009 và Nguyễn Tiến Đ1, sinh ngày 10/02/2014. Hiện nay hai con đang sống cùng với bà G. Bà G yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc hai con chung sau khi ly hôn.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà G không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con chung. Vì hiện nay ông T1 đang chấp hành án phạt tù.

Hiện nay bà G làm công việc buôn bán thu nhập khoảng 10.000.000 đồng/tháng.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà G không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Kèm theo đơn khởi kiện nguyên đơn giao nộp các tài liệu chứng cứ sau: Căn cước công dân của bà Nguyễn Thị Cẩm G (bản sao); Giấy chứng minh nhân dân, Sổ hộ khẩu, Giấy khai sinh của ông Nguyễn Trung T1 (bản photo); Giấy chứng nhận kết hôn (bản sao); Giấy khai sinh của con (bản sao); Thông báo số định danh cá nhân và thông tin công dân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư (bản photo);

  1. Bị đơn ông Nguyễn Trung T1 hiện đang chấp hành án phạt tù tại Trại giam C- T2- Bộ C1 nên có đơn yêu cầu Toà án giải quyết vắng mặt. Tại biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 12/6/2024, do Toà án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh thực hiện theo Quyết định uỷ thác thu thập chứng cứ số 16/2024/QĐ-UTTA, ngày 19/4/2024, nội dung biên bản lấy lời khai của đương sự ông Nguyễn Trung T1 khai như sau: Ông T1Nguyễn Thị Cẩm G tự nguyện chung sống từ năm 2007, có đăng ký kết hôn tại UBND phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương, việc kết hôn là tự nguyện và vợ chồng chung sống tại địa chỉ số E, Nguyễn Văn L, Tổ B, khu phố C, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương đến khi ông T1 đi chấp hành án phạt tù ngày 05/5/2023 thì ông T1 và bà G không còn sống chung với nhau. Vợ chồng chung sống hạnh phúc và không phát sinh mâu thuẫn, trước khi ông T1 đi chấp hành án phạt tù thì do tình trạng sức khoẻ của cha ông T1 không tốt nên ông T1 buồn bã, chán nãn nên đã sử dụng rượu, bia. Ngoài ra, giữa ông T1 và bà G không có mâu thuẫn gì khác. Ông T1 vẫn quan tâm, chăm sóc, lo lắng cho gia đình, thu nhập hàng tháng đều giao cho bà G quản lý chi tiêu, sinh hoạt trong gia đình. Bản thân luôn làm tròn trách nhiệm của người chồng, người cha. Nay bà G yêu cầu ly hôn thì ông T1 không đồng ý ly hôn vì ông T1 nhận thấy bản thân không vi phạm vấn đề gì, vẫn chăm lo tốt cho gia đình, giữa ông T1 và bà G không có mâu thuẫn gì nên ông T1 không đồng ý ly hôn. Ông T1 và bà G có 02 con chung là Nguyễn Giang Đ, sinh ngày 27/4/2009 và Nguyễn Tiến Đ1, sinh ngày 10/02/2014. Theo ông T1 được biết thì hiện nay hai con của ông T1 và bà G đang sống cùng cha mẹ ông T1 tại địa chỉ số E, Nguyễn Văn L, Tổ B, khu phố C, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Còn bà G đang sinh sống tại nhà cha mẹ tại thành phố B, tỉnh Bình Dương. Trường hợp Toà án chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà G, ông T1 yêu cầu giao con chung là Nguyễn Giang ĐNguyễn Tiến Đ1 cho ông T1 được nuôi dưỡng, ông T1 không yêu cầu bà G cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay ông T1 đang phải chấp hành án phạt tù thời hạn là 03 năm 03 tháng, đã chấp hành được 13 tháng, còn phải chấp hành 02 năm 02 tháng. Trường hợp giao con chung cho ông T1 nuôi dưỡng thì cha mẹ ông T1 sẽ phụ giúp trông nom, chăm sóc trong thời gian ông Tín chấp H án. Ông T1 không yêu cầu Toà án giải quyết về tài sản chung, nợ chung.

Bị đơn không giao nộp tài liệu chứng cứ.

Tại phiên tòa,

- Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Cẩm G vắng mặt, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn ông Nguyễn Trung T1 vắng mặt, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa.

* Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử:

Thẩm phán đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định tại Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

* Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa:

Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

* Việc tuân theo pháp luật tố tụng của những người tham gia tố tụng:

Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 71, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

+ Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56, 81, 82 của Luật hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Cẩm G đối với bị đơn ông Nguyễn Trung T1 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

+ Những yêu cầu, kiến nghị để khắc phục vi phạm tố tụng: Không

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về tố tụng:

[1.1]. Về quan hệ pháp luật: Ngày 28 tháng 02 năm 2024, bà Nguyễn Thị Cẩm G có đơn khởi kiện ly hôn, tranh chấp về nuôi con đối với ông Nguyễn Trung T1. Từ những nội dung tranh chấp nêu trên, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại Điều 51, Điều 53 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

[1.2]. Về thẩm quyền: Bà Nguyễn Thị Cẩm G khởi kiện về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con đối với ông Nguyễn Trung T1, đây là loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại thời điểm thụ lý, bị đơn Nguyễn Trung T1 có nơi cư trú tại phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.3]. Về việc tham gia phiên tòa của đương sự:

Tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Cẩm G, bị đơn ông Nguyễn Trung T1 có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Vì vậy căn cứ vào Điều 228, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự.

[2]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân:

Nguyễn Thị Cẩm G và ông Nguyễn Trung T1 chung sống với nhau vào năm 2007, có đăng ký kết hôn, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 111, quyển số 01/2007, ngày 26/11/2007 tại UBND xã C, thị xã T (nay là phường C, thành phố T), tỉnh Bình Dương. Việc chung sống và đăng ký kết hôn giữa bà G và ông T1 là hoàn toàn tự nguyện, không bên nào bị ép buộc, đã tuân thủ đúng quy định tại Điều 11 của Luật hôn nhân và Gia đình năm 2000 nên hôn nhân giữa bà G và ông T1 là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Nay bà G yêu cầu ly hôn với ông T1 vì lý do vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, thường xuyên cải vã, vợ chồng chung sống không có hạnh phúc, không còn quan tâm, yêu thương, chăm sóc lẫn nhau và đã không còn sống chung.

Qúa trình tố tụng, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần để làm việc, tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông T1 hiện đang chấp hành án phạt tù tại Trại giam C- T2- Bộ C1 nên có đơn yêu cầu Toà án giải quyết vắng mặt và bà Nguyễn Thị Cẩm G cũng có đơn yêu Toà án cầu giải quyết vụ án nên Toà án không tiến hành hoà giải được. Xét thấy, mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc nên vợ chồng phải có trách nhiệm chăm sóc, giúp đỡ nhau về mọi mặt, tin tưởng yêu thương nhau, những mâu thuẫn trong cuộc sống vợ chồng cần phải tìm cách giải quyết để xây dựng gia đình hạnh phúc.

Việc bà G và ông T1 không còn quan tâm, yêu thương, chăm sóc và giúp đỡ lẫn nhau và không cùng nhau chia sẽ, thực hiện các công việc trong gia đình dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn nên vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Qua xác minh tại địa phương nơi bà G, ông T1 cư trú cho biết: Bà G và ông T1 là vợ chồng, quá trình chung sống vợ chồng bà G và ông T1 có phát sinh mâu thuẫn hay không thì địa phương không rõ vì bà G và ông T1 không thông báo với địa phương.

G xác định hiện nay không còn tình cảm với ông T1, vợ chồng không thể nào có cơ hội hàn gắn. Như vậy, có đủ cơ sở khẳng định mâu thuẫn giữa bà G và ông T1 đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên bà G yêu cầu được ly hôn với ông T1 là có cơ sở. Do vậy, căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Cẩm G đối với ông Nguyễn Trung T1.

[2.2]. Về con chung: Qúa trình chung sống bà G và ông T1 có 02 con chung là: Nguyễn Giang Đ, sinh ngày 27/4/2009 và Nguyễn Tiến Đ1, sinh ngày 10/02/2014. Hiện nay đang sống cùng bà G. Sau khi ly hôn bà G yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Xét thấy, các con chung là Nguyễn Giang Đ, sinh ngày 27/4/2009 và Nguyễn Tiến Đ1, sinh ngày 10/02/2014 bà G có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con. Ông T1 cũng yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung nhưng hiện nay ông T1 đang phải chấp hành án phạt tù nên không thể nào trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung được. Bà G có công việc và thu nhập ổn định đủ điều kiện để nuôi dưỡng con chung, cháu Đ và cháu Đ1 cũng có nguyện vọng được tiếp tục sống cùng với mẹ là bà Nguyễn Thị Cẩm G. Vì vậy, để con chung phát triển ổn định, toàn diện cần giao con chung là Nguyễn Giang Đ, sinh ngày 27/4/2009 và Nguyễn Tiến Đ1, sinh ngày 10/02/2014 cho bà Nguyễn Thị Cẩm G trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp nên yêu cầu của bà G về việc trực tiếp nuôi dưỡng con chung được chấp nhận.

[2.3]. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà G không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con nên ông T1 không phải cấp dưỡng nuôi con.

[2.4]. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.

[3]. Tại phiên tòa, phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một là có cơ sở, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

[4]. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bà Nguyễn Thị Cẩm G phải chịu 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các điều 147, 228, 238, 266, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ các điều 51, 53, 56, 57, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Cẩm G về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” đối với bị đơn ông Nguyễn Trung T1.
    1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Cẩm G được ly hôn với ông Nguyễn Trung T1.
    2. Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Giang Đ, sinh ngày 27/4/2009 và Nguyễn Tiến Đ1, sinh ngày 10/02/2014 cho bà Nguyễn Thị Cẩm G trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
    3. Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Nguyễn Trung T1 không cấp dưỡng nuôi con.

Ông Nguyễn Trung T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích hợp pháp của con chung, khi đương sự có yêu cầu Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con nếu cần thiết.

    1. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
  1. Về án phí sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Cẩm G phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu BLTU/24 số 0002153, ngày 11/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
  2. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND TP. Thủ Dầu Một;
  • - Chi cục THADS TP. Thủ Dầu Một;
  • - UBND phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VP, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Minh Nga

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Minh Nga

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Minh N

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 78/2024/HNGĐ-ST ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 78/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Nguyễn Thị Cẩm G khởi kiện ly hôn, tranh chấp về nuôi con
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger