TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 78/2024/HNGĐ-PT Ngày: 01-7-2024 V/v: Ly hôn, tranh về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Phương
Các Thẩm phán:
- Ông Vũ Tùng Lâm
- Bà Lưu Thị Thủy Tiên
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Tây - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lý - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 6 và ngày 01 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 26/2024/TLPT-HNGĐ ngày 06/03/2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 773/2023/HNGĐ-ST ngày 04 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2256/2024/QĐ-PT ngày 26 tháng 4 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 6198/2024/QĐ-PT ngày 13 tháng 5 năm 2024, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 9264/2024/QĐ-PT ngày 07 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
· Nguyên đơn: Ông Sue Yoon S, sinh năm 1960; quốc tịch: Hàn Quốc; địa chỉ liên lạc: P, C, 7 đường N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (yêu cầu vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn để giải quyết về tài sản: Bà Nguyễn Thị Mai C, sinh năm 1995 (có mặt); Địa chỉ: P, C, 7 đường N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; Theo giấy ủy quyền số công chứng 005546 lập tại Văn phòng C2 ngày 06/5/2024.
Người phiên dịch của nguyên đơn: Ông Choi Kyu C1, sinh năm 1972 (có mặt); địa chỉ liên lạc: Phòng 17.5, C, 7 đường N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 1977 (có mặt); địa chỉ: B Chung cư F, số A đường L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án như sau:
Nguyên đơn ông Sue Yoon S trình bày:
Ông Sue Yoon S và bà Nguyễn Thị Ngọc H tự nguyện kết hôn vào năm 2015, theo Giấy chứng nhận kết hôn số vào sổ đăng ký kết hôn 2871, quyển số 15 do Ủy ban nhân dân Thành phố H cấp ngày 17/11/2015.
Quá trình chung sống, do tính cách không hợp nhau và nảy sinh nhiều bất đồng quan điểm, hai bên đã cố gắng giải quyết, hàn gắn nhưng không thành. Cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, hai bên đã tự sống ly thân từ tháng 11/2016 khi bà H sinh con. Trong thời gian này ông S đi đi về về giữa Việt Nam và Hàn Quốc, đến tháng 8/2018 ông S chuyển các đồ đạc ra ngoài ở và hai bên sống riêng cho đến nay. Hiện tại, hai bên mâu thuẫn trầm trọng không thể hàn gắn, không tiếp tục hôn nhân được nữa, nên ông S yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà H, để hai bên ổn định cuộc sống.
Về con chung: Có 01 con chung là Nguyễn Ngọc Thiên B (nữ), sinh ngày 02/11/2016 sống cùng bà H từ khi sinh ra cho đến nay, bà H cũng có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, nên ông Sue Y S đồng ý giao con chung cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng. Thời gian chung sống, ông S cũng có đưa tiền mặt trực tiếp cho bà H nuôi con, đưa bao nhiêu tiền cấp dưỡng hàng tháng ông S không nhớ rõ.
Nay ly hôn, ông Sue Yoon S đồng ý cấp dưỡng nuôi trẻ Thiên Bình số tiền là 15.000.000 đồng/tháng, bắt đầu cấp dưỡng khi có Bản án hoặc Quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Đối với yêu cầu của bà H về số tiền cấp dưỡng nuôi con từ thời điểm hai bên tự sống ly thân, nguyên đơn đồng ý cấp dưỡng nuôi con chung trong khoảng thời gian từ tháng 8/2018 cho đến ngày có Bản án hoặc Quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, số tiền cấp dưỡng hàng tháng là 3.000.000 đồng/tháng. Tạm tính đến hết tháng 11/2023 là 63 tháng, số tiền cấp dưỡng là 189.000.000 đồng, tiếp tục tính cho đến khi vụ án được giải quyết bằng một Bản án hoặc Quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, ông S sẽ giao cho bà H làm 01 lần, khi ông S nhận được số tiền phân chia tài sản chung của hai bên.
Về tài sản chung: Trong thời kỳ hôn nhân, ông bà có tài sản chung là một căn hộ số 21.01A Chung cư F, A đường L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BU 328120, số vào sổ cấp GC CH02231, do UBND Thành phố H cấp ngày 06/8/2014, Chi nhánh văn phòng Đ1 cập nhật biến động vào ngày 28/6/2017, do bà Nguyễn Thị Ngọc H đứng tên chủ sở hữu.
Tài sản trên là tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân, do hai bên cùng góp tiền mua. Do ông S là người nước ngoài, nên khi đưa tiền cho bà H mua nhà, ông S đưa làm nhiều đợt, bằng tiền mặt, không chuyển khoản. Cũng do ông S là người nước ngoài nên không được đứng tên giao dịch, sở hữu, mà để cho bà H đứng tên, nên không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào khác cho Tòa án. Ông S yêu cầu Tòa án phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, mỗi bên được hưởng ½ giá trị của tài sản chung, ông S yêu cầu nhận 50% giá trị tài sản chung bằng tiền mặt, đồng ý giao căn hộ cho bà H.
Giá trị căn hộ trên theo Chứng thư thẩm định giá mới nhất của Công ty Cổ phần T2 ngày 10/11/2023 là 4.498.610.000 đồng.
- Về nợ chung: Không có.
Đối với các chi phí thẩm định giá tài sản tranh chấp nguyên đơn đã nộp tạm ứng, nguyên đơn tự nguyện chịu, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Theo bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H trình bày:
Bà xác nhận thời gian hai bên kết hôn đúng như ông S trình bày và đồng ý ly hôn với ông S do tình cảm không còn.
Về con chung: Có 01 con chung là Nguyễn Ngọc Thiên B (nữ), sinh ngày 02/11/2016, bà H là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung từ khi sinh ra đến nay. Từ năm 2017 đến nay, bà H cùng con vẫn sinh sống ổn định tại căn hộ S Chung cư F, A đường L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, bà H có công việc và thu nhập ổn định. Bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi con, yêu cầu ông Sue Yoon S cấp dưỡng nuôi con 3.000.000 đồng/tháng từ thời điểm tháng 8/2018 đến khi vụ án được giải quyết bằng một Bản án hoặc Quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, tạm tính đến tháng 11/2023 là 63 tháng là 189.000.000 đồng; cấp dưỡng nuôi con 15.000.000 đồng/tháng từ tháng 12/2023 cho đến khi con chung trưởng thành.
Về tài sản chung: Không có. Căn hộ số 21.01A Chung cư F, A đường L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BU 328120, số vào sổ cấp GC CH02231, do UBND Thành phố H cấp ngày 06/8/2014, Chi nhánh văn phòng Đ1 cập nhật biến động bà H đứng tên chủ sở hữu vào ngày 28/6/2017 là tài sản riêng của bà H trong thời kỳ hôn nhân.
Bị đơn không đồng ý chia tài sản trên cho nguyên đơn, do các giao dịch mua bán, cập nhật quyền sở hữu đều do bà H thực hiện, toàn bộ số tiền mua căn hộ là 3.580.000.000 đồng đều do bà H đứng ra vay mượn của ông Nguyễn Vương T, giữa bà H và ông T có ký Hợp đồng vay tiền, ông T cũng đã trình bày lời khai tại Tòa án. Tuy nhiên, đầu năm 2023 bà H đã trả hết số nợ trên cho ông T, nên bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết về khoản nợ nói trên. Tiền cọc mua căn hộ là 1.180.000.000 đồng, chuyển khoản 200.000.000 đồng, do bà H giao tiền mặt cho người bán, chủ sở hữu trước đó là bà Trần Thị Thanh T1 có ký nhận; Số tiền còn lại 2.000.000.000 đồng khi ký Hợp đồng, cũng do bị đơn chuyển từ ngân hàng qua cho người bán. Số tiền cuối cùng khi bàn giao căn hộ, sau khi bà H và con đã dọn vào để ở, là 200.000.000 đồng, cũng do bị đơn trực tiếp giao tiền mặt cho người bán. Toàn bộ việc giao nhận tiền mặt, người bán có xác nhận chữ ký, chữ viết ở mặt sau Hợp đồng đặt cọc mua bán nhà với bà H. Đối với việc chuyển khoản 2.000.000.000 đồng sau khi ký Hợp đồng chuyển nhượng, số tiền trên được chuyển từ tài khoản cá nhân của bà H. Các thủ tục cập nhật quyền sở hữu, thuế, lệ phí... đều do bà H thanh toán.
Ông S trình bày bản thân là người nước ngoài nên chỉ đưa tiền mặt cho bà H để mua nhà, bà H xác định không có sự việc như trên. Vì người nước ngoài khi nhập cảnh vào Việt Nam, nếu số tiền mang vào Việt Nam trên 5.000USD (khoảng 110.000.000 đồng) và trên 15.000.000 đồng (tiền Việt Nam) thì phải có văn bản khai báo với Hải quan cửa khẩu. Ông S không có khả năng mang số lượng tiền mặt lớn như vậy về Việt Nam, giao cho bà H để mua nhà. Bởi lẽ từ khi kết hôn là tháng 11/2015 đến khi đặt cọc, mua nhà hoàn tất vào tháng 5/2017, ông S chỉ xuất nhập cảnh chưa đến 10 lần (cả đi Hàn Quốc và về Việt Nam). Do toàn bộ tiền mua nhà đều do bà H tự mình trả, Giấy chủ quyền được cấp cũng đứng tên bà H, nên bà H xác định căn hộ số 21.01A Chung cư F, A đường L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh là tài sản riêng của bà H trong thời kỳ hôn nhân, bà H không đồng ý chia tài sản trên cho ông S. Đồng thời bị đơn và con chung hiện đang sinh sống ở căn hộ trên, căn hộ này là nơi cư trú duy nhất, nếu bán đi phân chia tài sản thì bị đơn không có nơi để ở. Do đó, bị đơn đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết.
Đồng ý kết quả thẩm định giá đối với tài sản tranh chấp là căn hộ số B Chung cư F, A đường L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, giá trị thẩm định là 4.498.610.000 đồng.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với các chi phí thẩm định giá, xem xét thẩm định tại chỗ đối với tài sản tranh chấp do bị đơn đã nộp tạm ứng, bị đơn tự nguyện chịu, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 773/2023/HNGĐ-ST ngày 04 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Sue Yoon S. Cho ông S được ly hôn với bà Nguyễn Thị Ngọc H.
Về con chung: Công nhận thỏa thuận của đương sự, giao con chung Nguyễn Ngọc Thiên B (nữ), sinh ngày 02/11/2016 cho bà Nguyễn Thị Ngọc H trực tiếp nuôi dưỡng;
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con:
Ông Sue Yoon S có nghĩa vụ giao cho bà H số tiền cấp dưỡng nuôi con là 3.000.000 đồng/tháng bắt đầu từ tháng 08/2018 cho đến khi Bản án có hiệu lực pháp luật;
Ông S có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung hàng tháng số tiền là 15.000.000 đồng, bắt đầu thực hiện từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi phát sinh căn cứ chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung:
Xác định căn hộ S Chung cư F, A đường L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BU 328120, số vào sổ cấp GC CH02231, do UBND Thành phố H cấp ngày 06/8/2014, Chi nhánh văn phòng Đ1 cập nhật biến động ngày 28/6/2017 do bà Nguyễn Thị Ngọc H đứng tên chủ sở hữu – là tài sản chung vợ chồng của ông S, bà H trong thời kỳ hôn nhân.
Phân chia tài sản chung: Xét công sức đóng góp, duy trì, bảo quản tài sản chung của hai bên, đồng thời xem xét việc bà H và con chưa thành niên đang sinh sống ổn định tại căn hộ trên từ năm 2017 đến nay, Hội đồng xét xử phân chia cho nguyên đơn ông Sue Yoon S được hưởng 30% giá trị tài sản chung, bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H được hưởng 70% tài sản chung, được hưởng hiện vật, nhận nhà và có nghĩa vụ giao số tiền tương đương 30% giá trị căn hộ cho nguyên đơn.
Nghĩa vụ của các bên: Giao tài sản chung là căn hộ S Chung cư F, A đường L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh cho bà Nguyễn Thị Ngọc H được quản lý, sử dụng, để đảm bảo cho bà H có điều kiện về chỗ ở để nuôi dưỡng con chung là trẻ Nguyễn Ngọc Thiên B. Bà H có nghĩa vụ thanh toán trả lại cho ông S1 Yoon Soo 30% giá trị tài sản là 1.349.583.000 đồng.
Sau khi thực hiện xong nghĩa vụ thanh toán, do bà H đang đứng tên chủ sở hữu đối với căn hộ trên, bà H được toàn quyền sở hữu, sử dụng theo quy định pháp luật.
Về nợ chung: Hai bên khai không có nên không xét.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo, việc thi hành án theo quy định của pháp luật. Ngày 18/12/2023 nguyên đơn ông Sue Yoon S có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, ngày 18/12/2023 bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H có đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm yêu cầu công nhận căn hộ trên là tài sản riêng của bà.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn ông Sue Yoon S đồng thời là người kháng cáo, có người đại diện hợp pháp giải quyết tài sản là bà Nguyễn Thị Mai C trình bày:
Căn hộ số 21.01A Chung cư F L, Phường A, Quận A do bà Nguyễn Thị Ngọc H đứng tên sở hữu theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sơ hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số 328120 do Ủy ban nhân dân Thành phố H cấp ngày 06/8/2014, cập nhật sang tên bà H 28/6/2017, tuy nhiên đây là tài sản tạo lập trong thời kỳ hôn nhân nên là tài sản chung của ông S và bà H, vì vậy nguyên đơn kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm chia cho nguyên đơn ông S được nhận ½ giá trị tài sản chung theo kết quả định giá của công ty cổ phần T2 ngày 10/11/2023 là 4.498.610.000 đồng/2 = 2.249.305.000 đồng; đối với yêu cầu kháng cáo không đồng ý cấp dưỡng cho con chung số tiền 3.000.000đ/tháng từ tháng 8/2018 đến trước khi có bản án có hiệu lực pháp luật nay nguyên đơn xin rút lại và đồng ý cấp dưỡng cho con chung như cách thức đã thỏa thuận tại tòa sơ thẩm.
Nguyên đơn xác định không có tài liệu chứng cứ nào chứng minh nguyên đơn đã đóng góp cùng bị đơn để mua căn hộ nói trên, cũng không có người làm chứng nên nguyên đơn không thể cung cấp chứng cứ chứng minh theo yêu cầu của tòa án.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H đồng thời là người kháng cáo trình bày: Bà kháng cáo không đồng ý quyết định của án sơ thẩm về chia tài sản. Tòa sơ thẩm xác định căn hộ trên là tài sản chung vợ chồng là không đúng, vì căn hộ này là tài sản riêng của bà H mua bằng tiền bà bán đất là tài sản riêng có trước hôn nhân với ông S và vay thêm tiền ngoài để mua trong thời gian ông S đã bỏ ra đi cũng như tự lo trả nợ vay mua nhà. Cụ thể ngày 31/5/2017 bà đặt cọc mua căn hộ, ngày 02/6/2017 hai bên đi công chứng mua bán, ngày 12/6/2017 bà H được cập nhật đứng tên sở hữu căn hộ. Tháng 5/2017 bà vay 3.500.000.000 đồng của ông T cộng với số tiền 500.000.000 đồng của bà để dành để trả tiền mua căn hộ và mua sắm một số vật dụng sinh hoạt trong nhà, giải quyết trước mắt vì tiền bán đất bà gửi ngân hàng chưa đến hạn rút. Bản thân bà H có một số thửa đất là tài sản riêng do bà H sở hữu trước khi lấy ông S, bà H đã bán và sau đó thanh toán nợ mua nhà cho ông T xong; Cụ thể bà H đã chuyển nhượng 2.341m² đất tọa lạc tại huyện Đ, Long An cho ông Lưu Đức D giá 1.700.000.000 đồng theo giấy nhận cọc ngày 22/01/2016 và công chứng mua bán ngày 03/2/2016; chuyển nhượng 1.871m² đất tại thị trấn Đ, Long An cho bà Lê Ngọc Đ theo giấy cọc ngày 27/3/2017, công chứng mua bán ngày 31/3/2017 giá 2.100.000.000 đồng; ngoài ra bà H có tiền cho thuê căn hộ du lịch tại Vũng Tàu (có sao kê ngân hàng) và thu thập từ việc kinh doanh bất động sản, toàn bộ tiền mua căn hộ trên là do bà H bỏ ra, ông S không có đóng góp gì nên đây là tài sản riêng của bà, bà không đồng ý chia cho ông S.
Về giá trị tài sản tranh chấp bà H đồng ý kết quả định giá theo Chứng thư thẩm định giá của Công ty Cổ phần T2 ngày 10/11/2023 là 4.498.610.000 đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu:
Những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ theo quy định của pháp luật. Về hình thức đơn kháng cáo của ông S bà H1 trong hạn luật định nên hợp lệ. Về nội dung: căn cứ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số 328120 do Ủy ban nhân dân Thành phố H cấp ngày 06/8/2014, cập nhật sang tên bà H ngày 28/6/2017 thì căn hộ số 21.01A Chung cư F L, Phường A, Quận A là tài sản tạo lập trong thời kỳ hôn nhân của ông S và bà H, không có văn bản xác định đây là tài sản riêng của bà H nên đây là tài sản chung của vợ chồng. Xét toàn bộ việc thanh toán chi phí mua bán nhà, đóng thuế, mua sắm trang thiết bị nội thất bà H có nhiều công sức hơn trong việc tạo lập tài sản này nên án sơ thẩm chia cho bà H 70%, ông S 30% giá trị tài sản là phù hợp với công sức đóng góp của mỗi bên theo quy định tại Điều 59 Luật Hôn nhân và Gia đình vì vậy kháng cáo của ông S bà H về tài sản không có cơ sở chấp nhận, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên nội dung này. Về số tiền cấp dưỡng nuôi con 3.000.000 đồng/tháng từ tháng 8/2018 đến trước khi án có hiệu lực pháp luật tại tòa sơ thẩm đương sự đã tự thỏa thuận ông S có trách nhiệm giao cho bà H 01 lần ngay khi ông S nhận tiền chia tài sản, tòa sơ thẩm nhận định đồng ý nhưng khi quyết định thì án sơ thẩm lại xác định là cấp dưỡng hàng tháng là không đúng nội dung đương sự đã thỏa thuận, do đó đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa lại một phần bản án sơ thẩm về nội dung này.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của ông Sue Yoon S và bà Nguyễn Thị Ngọc H làm trong thời hạn luật định phù hợp với quy định tại Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về tố tụng: Ông Sue Yoon S có giấy ủy quyền số công chứng 005546 lập tại Văn phòng C2 ngày 06/5/2024 nội dung ủy quyền cho bà Nguyễn Thị Mai C được thay mặt, nhân danh ông Sue Yoon S để tham gia tố tụng trong việc xét xử vụ án "Tranh chấp ly hôn, nuôi con, chia tài sản chung” giữa ông S với bà H, bà C được toàn quyền quyết định các vấn đề liên quan tranh chấp.Tuy nhiên theo quy định pháp luật tranh chấp về quan hệ nhân thân không được ủy quyền, Hội đồng xét xử đã giải thích quy định pháp luật cho bà C biết, bà C xác định bà và ông S đã hiểu rõ và bà C chỉ đại diện ông S giải quyết về vấn đề tài sản, tiền cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[2] Về nội dung kháng cáo:
Hội đồng xét xử xét thấy: Bà Nguyễn Thị Ngọc H ông Sue Yoon S tự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Thành phố H theo giấy chứng nhận kết hôn số vào sổ đăng ký kết hôn 2871, quyển số 15 vào ngày 17/11/2015 nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Ông S có đơn khởi kiện xin ly hôn với bà H do vợ chồng mâu thuẫn và được Tòa án nhân dân Quận 11 xử cho ly hôn; về con chung hai bên thống nhất giao con chung Nguyễn Ngọc Thiên B (nữ), sinh ngày 02/11/2016 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng; về nợ chung không có, về chi phí tố tụng khác đương sự tự nguyện chịu, các nội dung này đương sự không kháng cáo nên không xét.
Đối với yêu cầu kháng cáo của ông Sue Yoon S và bà H về tài sản:
Xét thấy ông S khởi kiện đòi chia tài sản chung đối với căn hộ nói trên, căn cứ quy định tại Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự thì đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ chứng minh yêu cầu khởi kiện của mình là có căn cứ, nếu không chứng minh được thì phải chịu hậu quả tương ứng, khi chia tài sản tài sản chung của vợ chồng có tính đến hoàn cảnh gia đình và công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Quá trình giải quyết vụ án ông S trình bày thời gian từ tháng 8/2018 trở đi ông đã dọn đồ đạc ra ngoài ở, không còn sống chung với bà H và không cung cấp được chứng cứ chứng minh đã đóng góp cùng bà H mua căn hộ trên. Bà H sau khi mua nhà đã và đang sống ổn định tại căn hộ này để nuôi con chung Nguyễn Ngọc Thiên B.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bà H cung cấp tài liệu chứng cứ chứng minh bà đã mua căn hộ trên bằng nguồn tiền bán đất thuộc sở hữu riêng của bà H có trước hôn nhân với ông S để mua căn hộ, đóng thuế phí liên quan, mua sắm trang bị các vật dụng sinh hoạt gia đình, duy trì bảo quản căn hộ từ lúc mua cho đến nay... thể hiện bà H có phần công sức đóng góp rất lớn trong việc tạo lập tài sản này; Tuy nhiên lời khai của bà H về nguồn tiền mua căn hộ có điểm chưa thống nhất, ông S không thừa nhận đây là tài sản riêng của bà H vì vậy mặc dù ông S và bà Mai C là đại diện hợp pháp của ông S để giải quyết về tài sản xác định ông S không có chứng cứ chứng minh đã đóng góp cùng bà H để mua căn hộ trên nhưng cũng không đủ cơ sở xác định căn hộ này là tài sản riêng của bị đơn tạo lập, nên vẫn phải xác định đây là tài sản chung tạo lập trong thời kỳ hôn nhân của ông S với bà H, căn cứ công sức đóng góp của mỗi bên theo quy định tại Điều 59 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 cũng như bảo vệ quyền lợi chính đáng của con chung chưa thành niên đang sống tại đây từ năm 2017 đến nay nên án sơ thẩm phân chia cho nguyên đơn được hưởng 30% giá trị tài sản chung, bị đơn được hưởng 70% giá trị tài sản chung và được toàn quyền sở hữu căn hộ sau khi thanh toán cho nguyên đơn phần giá trị tài sản được chia là có cơ sở, vì vậy không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của ông S bà H về tài sản.
Về giá trị tài sản tranh chấp ông S bà H đồng ý kết quả định giá theo Chứng thư thẩm định giá của Công ty Cổ phần T2 ngày 10/11/2023 là 4.498.610.000 đồng nên ghi nhận làm cơ sở giải quyết vụ án.
Đối với yêu cầu kháng cáo không đồng ý cấp dưỡng cho con chung số tiền 3.000.000 đồng/tháng từ tháng 8/2018 đến trước khi có bản án có hiệu lực pháp luật nay nguyên đơn xin rút lại và đồng ý cấp dưỡng cho con chung như đã thỏa thuận tại tòa sơ thẩm, việc rút kháng cáo là tự nguyện, không trái luật có cơ sở chấp nhận. Về phương thức cấp dưỡng nuôi con, tại tòa sơ thẩm các đương sự thống nhất thỏa thuận số tiền cấp dưỡng nuôi con 3.000.000 đồng/tháng nói trên nguyên đơn sẽ giao cho bị đơn 1 lần sau khi nhận số tiền phân chia tài sản, bản án sơ thẩm cũng nhận định công nhận thỏa thuận này nhưng khi quyết định lại tự thay đổi thành cấp dưỡng theo từng tháng là không đúng thỏa thuận của đương sự nên cần điều chỉnh cho đúng. Mặt khác, án sơ thẩm nhận định chấp nhận việc rút một phần yêu cầu phản tố của bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H đối với yêu cầu buộc nguyên đơn ông S phải cấp dưỡng nuôi con số tiền 225.000.000 đồng cho thời gian từ tháng 11/2016 đến tháng 10/2023 theo đơn xin rút một phần yêu cầu phản tố ngày 16/11/2023 của bà H nhưng lại không tuyên trong phần quyết định là thiếu sót do đó có cơ sở sửa một phần bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa.
[3] Về án phí:
Ông Sue Yoon S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn, án phí dân sự sơ thẩm về cấp dưỡng nuôi con và án phí dân sự sơ thẩm tương ứng phần tài sản được chia theo quy định pháp luật. Bà H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng phần tài sản được chia theo quy định pháp luật.
Án phí dân sự phúc thẩm: Việc sửa một phần án sơ thẩm về phương thức cấp dưỡng nuôi con đối với số tiền cấp dưỡng 3.000.000 đồng/tháng cho thời gian từ tháng 8/2018 đến trước khi án có hiệu lực pháp luật là để phù hợp với nội dung đã được các đương sự thỏa thuận tại tòa sơ thẩm, không nằm trong nội dung yêu cầu kháng cáo của ông S và bà H; Yêu cầu kháng cáo của ông S bà H về việc phân chia tài sản khi ly hôn không được Tòa án chấp nhận như nhận định trên nên người kháng cáo là ông S bà H vẫn phải chịu án phí phúc thẩm, theo quy định pháp luật.
Ông Sue Yoon S có quốc tịch Hàn Quốc, có Đơn xin miễn nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm và Đơn xin miễn nộp án phí phúc thẩm cùng ngày 18/12/2023 (BL 633 và 635), tuy nhiên, quy định về miễn giảm án phí cho người cao tuổi chỉ áp dụng đối với công dân Việt Nam theo quy định tại Điều 2 Luật Người cao tuổi 2009 và điểm đ khoản 2 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội nên không có cơ sở để miễn nộp tiền tạm ứng án phí hoặc miễn nộp án phí phúc thẩm cho ông S1 Yoon Soo nên ông S vẫn phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định pháp luật. Việc Tòa sơ thẩm ra Thông báo 454/TB-TA ngày 18/12/2023 (BL 636) miễn nộp tiền tạm ứng án phí phúc cho ông S1 Yoon Soo là không đúng quy định pháp luật, cần rút kinh nghiệm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 147, 148, 306, khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ vào các Điều 56, 57, 59, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Căn cứ Điều 357, 468 Bộ luật Dân sự 2015; Căn cứ Luật người cao tuổi; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án; Căn cứ Luật Thi hành án dân sự 2008, đã sửa đổi bổ sung năm 2014,
Tuyên xử:
* Về hình thức:
Chấp nhận đơn kháng cáo của ông Sue Yoon S và bà Nguyễn Thị Ngọc H về mặt hình thức.
* Về nội dung:
- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Sue Yoon S về việc chia ½ giá trị tài sản chung khi ly hôn.
- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị Ngọc H về việc yêu cầu xác định căn hộ số 21.01A Chung cư F, A đường L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BU 328120, số vào sổ cấp GC CH02231, do Ủy ban nhân dân Thành phố H cấp ngày 06/8/2014, Chi nhánh văn phòng Đ1 cập nhật biến động tên bà Nguyễn Thị Ngọc H đứng tên chủ sở hữu vào ngày 28/6/2017, là tài sản riêng của bà H.
- Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu kháng cáo không đồng ý cấp dưỡng nuôi con 3.000.000 đồng/tháng đối với thời gian từ tháng 8/2018 đến trước khi án có hiệu lực pháp luật của nguyên đơn ông Sue Yoon S.
- Đình chỉ giải quyết một phần yêu cầu phản tố của bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H đối với yêu cầu buộc nguyên đơn ông Sue Yoon S phải cấp dưỡng nuôi con số tiền 225.000.000 đồng cho thời gian từ tháng 11/2016 đến tháng 10/2023, căn cứ đơn xin rút một phần yêu cầu phản tố ngày 16/11/2023 của bà H.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Sue Yoon S. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H. Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 773/2023/HNGĐ-ST ngày 04 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh như sau:
- - Về quan hệ hôn nhân: Ông Sue Yoon S được ly hôn bà Nguyễn Thị Ngọc H.
- Giấy chứng nhận kết hôn số 2871, quyển số 15 do Ủy ban nhân dân Thành phố H cấp ngày 17/11/2015 cho ông Sue Yoon S và bà Nguyễn Thị Ngọc H không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- - Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Ngọc Thiên B (nữ), sinh ngày 02/11/2016 cho bà Nguyễn Thị Ngọc H được trực tiếp nuôi dưỡng.
- - Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Ông Sue Yoon S có nghĩa vụ thanh toán cho bà Nguyễn Thị Ngọc H số tiền cấp dưỡng nuôi con 3.000.000 đồng/tháng đối với thời gian từ tháng 08/2018 cho đến trước khi Bản án có hiệu lực pháp luật là 70 tháng x 3.000.000 đồng/tháng = 210.000.000 đồng, thanh toán làm 1 lần sau khi ông S nhận được tiền chia tài sản chung. Đồng thời ông S có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung hàng tháng số tiền 15.000.000 đồng/tháng tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật đến khi phát sinh căn cứ chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.
- Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi con. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
- Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ này; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.
- Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được pháp luật quy định, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
- - Về tài sản chung: Xác định căn hộ S Chung cư F, A đường L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BU 328120, số vào sổ cấp GC CH02231, do UBND Thành phố H cấp ngày 06/8/2014, Chi nhánh Văn phòng Đ1 cập nhật biến động do bà Nguyễn Thị Ngọc H đứng tên chủ sở hữu vào ngày 28/6/2017 là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân ông S với bà H.
- Nguyên đơn ông Sue Yoon S được chia 30% giá trị tài sản chung, bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H được chia 70% giá trị tài sản chung.
- Giao tài sản chung là căn hộ S Chung cư F, A đường L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh cho bà Nguyễn Thị Ngọc H nhận. Bà Nguyễn Thị Ngọc H có nghĩa vụ thanh toán lại cho ông S1 Yoon Soo 30% giá trị tài sản chung là 1.349.583.000 đồng.
- Bà Nguyễn Thị Ngọc H đang đứng tên chủ sở hữu đối với căn hộ S Chung cư F, A đường L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, do đó, sau khi bà H thực hiện xong nghĩa vụ thanh toán 30% giá trị tài sản chung cho ông S1 Yoon Soo như trên thì bà H được toàn quyền sử dụng, sở hữu căn hộ này theo quy định pháp luật.
- - Về nợ chung: Hai bên khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- 6. Về án phí:
- Án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, án phí dân sự sơ thẩm về việc cấp dưỡng nuôi con 300.000đồng, án phí dân sự sơ thẩm tương ứng phần tài sản được chia là 52.487.490 đồng, tổng cộng là 53.087.490 đồng ông Sue Yoon S phải chịu.
- Khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông Sue Yoon S đã tạm nộp là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng theo biên lai thu tiền số AA/2016/0009091 ngày 14/8/2018 và 41.000.000 đồng (Bốn mươi mốt triệu đồng) theo Biên lai thu tiền số AA/2016/0009288 ngày 29/10/2018 cùng của Chi cục Thi hành án dân sự phố Hồ Chí Minh. Ông Sue Yoon S phải nộp thêm 11.787.490 sự sơ thẩm.
- Bà Nguyễn Thị Ngọc H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng phần tài sản được chia là 94.980.540 đồng.
- Về án phí dân sự phúc thẩm:
- Án phí dân sự phúc thẩm 300.000 đồng ông Sue Yoon S phải chịu.
- Án phí dân sự phúc thẩm 300.000 đồng bà Nguyễn Thị Ngọc H phải chịu nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tiền tạm ứng án phí bà H đã tạm nộp theo Biên lai thu tiền số AA/2021/0021920 ngày 22/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà H đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
- 7. Về nghĩa vụ thi hành án:
- Thi hành dưới sự giám sát của cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thi hành hoặc thi hành không đầy đủ số tiền như đã thỏa thuận trên thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành án.
- 8. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thu Phương |
Bản án số 78/2024/HNGĐ-PT ngày 01/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn, tranh về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn
- Số bản án: 78/2024/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 01/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
