Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG KHÁNH

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 78/2024/HSST.

Ngày: 27/5/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Mỹ Lệ

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Thế Nam

2. Ông Hoàng Thanh Tâm

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phi Hải, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 27/5/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai xét xử xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 74/2024/TLST-HS ngày 17/4/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2024/QĐXXST-HS ngày 24/4/2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Thanh P, tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1987 tại Tây Ninh; Nơi thường trú: ấp A, xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông Nguyễn Văn N (đã chết) và bà Lê Thị Kim X, sinh năm 1954; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Bị tạm giam từ ngày 18/2/2024 cho đến nay tại nhà tạm giữ Công an thành phố L.

- Bị hại: Bà Trần Đình Anh P1, sinh năm 1978. Địa chỉ: ấp A, xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị Kim X, sinh năm 1954. Chỗ ở hiện nay: Tổ E, ấp D, xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.

(Bị cáo, bị hại, người liên quan có mặt tại phiên toà)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thanh P là đối tượng không có công việc làm ổn định để có tiền tiêu xài, P đã thực hiện hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 15 giờ 00 ngày 27/12/2023, P đi bộ từ bến xe L về tổ C, ấp A, xã B. Khi đi đến nhà bà Trần Đình Anh P1 (cách nhà P khoảng 150 m) thì thấy có 01 xe mô tô hiệu Honda SH150i màu đỏ biển số 60B2-825.10 dựng ở đường luồng bên hông nhà bà P1. P đi vào quan sát thấy không có ai trông coi nên thò tay vào cốp xe lấy trộm một chiếc giỏ xách màu đen, mang đến chỗ vắng người kiểm tra thì thấy bên trong có số tiền 9.500.000 đồng, 01 căn cước công dân mang tên Trần Đình Anh P1, 01 thẻ ATM và một số giấy tờ khác. P lấy số tiền 9.500.000 đồng, các tài sản còn lại thì ném ở ven đường. Sau đó P đến cửa hàng điện thoại di động H ở phường X, thành phố L mua 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7+ với giá 1.500.000 đồng và tiêu xài cá nhân, còn lại 2.988.000 đồng cất trong người.

Khoảng 18 giờ 50 phút ngày 27/12/2023, bà P1 phát hiện cốp xe mô tô đã bị cạy mở, đồ đạc trong cốp xe bị lấy ra và nằm dưới đất gần xe mô tô, kiểm tra thì bị mất số tiền 13.700.000 đồng nên trình báo Công an xã B. Công an xã B đã kiểm tra camera của người dân và phát hiện Nguyễn Thanh P là người lén lút trộm tài sản của bà P1 nên đã mời P về làm việc và P đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

- Vật chứng thu giữ và xử lý:

01 thẻ ATM V, 01 căn cước công dân mang tên Trần Đình Anh P1, 01 thẻ bảo hiểm y tế mang tên Lày Ngọc Phương N1, 01 giỏ xách màu đen đã cũ và số tiền 2.998.000 đồng là tài sản của chị P1, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã trả lại cho chị P1.

01 điện thoại di động hiệu Samsung Glaxy J7+, do bị cáo sử dụng tiền trộm cắp được để mua hiện đã chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Long Khánh.

03 đoạn clip camera an ninh ghi nhận hình ảnh bị can thực hiện hành vi trộm cắp tài sản được lưu vào trong 01 đĩa VCD lưu kèm hồ sơ vụ án.

- Về dân sự: P đồng ý bồi thường cho bà P1 số tiền 9.500.000 đồng, đã bồi thường được 7.998.000 đồng (bị cáo giao nộp 2.998.000 đồng, mẹ bị cáo bồi thường 5.000.000 đồng).

Tại bản cáo trạng 72/CT-VKS-LK ngày 17/4/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh truy tố bị cáo Nguyễn Thanh P về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh P từ 06 tháng đến 08 tháng tù.

Về vật chứng: đề nghị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Samsung Glaxy J7 +. Đối với 01 thẻ ATM V, 01 căn cước công dân mang tên Trần Đình Anh P1, 01 thẻ bảo hiểm y tế mang tên Lày Ngọc Phương N1, 01 giỏ xách màu đen đã cũ và số tiền 2.988.000 đồng là tài sản hợp pháp của bị hại chị Trần Đình Anh P1 nên đã trả lại chủ sở hữu.

Những người tham gia tố tụng đồng ý đối với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội sửa đổi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an thành phố L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác khẳng định khai báo tự nguyện, không ai ép buộc. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận vào khoảng 17 giờ 55 phút ngày 27/12/2023, bị cáo đã có hành vi lén lút móc cốp xe xe mô tô hiệu SH 150i biển số 60B2-825.10 của bị hại, lấy trộm 01 túi xách bên trong có chứa số tiền 9.500.000 đồng và một số giấy tờ tùy thân. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng, các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập trong hồ sơ vụ án.

Bà P1 cho rằng bà bị mất trộm 13.700.000 đồng, chứng cứ là chứng từ rút tiền từ ngân hàng với số tiền 13.700.000 đồng, nhưng điều này không có nghĩa chứng minh số tiền trong cốp xe tại thời điểm bị cáo thực hiện hành vi trộm là bao nhiêu nên không chấp nhận, do đó xác định số tiền bị cáo trộm cắp là 9.500.000 đồng.

Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3] Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội: bị cáo là công dân có đủ nhận thức và năng lực, bị cáo là người nghiện ma tuý, không lao động mà muốn có tiền tiêu xài nên đã thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất an ninh trật tự tại địa phương do đó cần áp dụng mức hình phạt tù nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[4] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ, bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tự nguyện bồi thường thiệt hại (đã bồi thường được 7.988.000 đồng/9.500.000 đồng), quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo P đồng ý bồi thường 9.500.000 đồng, hiện bị cáo và gia đình đã bồi thường được 7.988.000 đồng, bị cáo phải tiếp tục bồi thường cho bị hại số tiền 1.502.000 đồng.

Bà Lê Thị Kim X không yêu cầu bị cáo hoàn trả số tiền 5.000.000 đồng mà bà thay bị cáo bồi thường cho bị hại nên không xem xét.

[6] Về vật chứng, xử lý vật chứng:

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung Glaxy J7 +, mặc dù đây là tài sản bị cáo dùng tiền trộm cắp được để mua nhưng hiện bị cáo đã bồi thường toàn bộ tiền trộm cắp cho bị hại nên tuyên trả lại cho bị cáo.

- 01 thẻ ATM V, 01 căn cước công dân mang tên Trần Đình Anh P1, 01 thẻ bảo hiểm y tế mang tên Lày Ngọc Phương N1, 01 giỏ xách màu đen đã cũ và số tiền 2.988.000 đồng là tài sản hợp pháp của bà Trần Đình Anh P1 nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã trả lại cho bà P1 là phù hợp.

[7] Về án phí: Bị cáo P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

[8] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát được chấp nhận đối với những phần phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh P 06 (sáu) tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/02/2024.

- Áp dụng các Điều 585, 589, 357 Bộ luật dân sự năm 2015

Buộc bị cáo Nguyễn Thanh P bồi thường cho bị hại Trần Đình Anh P1 số tiền 1.502.000 (Một triệu năm trăm lẻ hai nghìn) đồng.

Kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (sau khi án có hiệu lực pháp luật), hàng tháng người phải thi hành án phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự.

- Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tuyên trả cho bị cáo Nguyễn Thanh P 01 điện thoại di động hiệu S J7 + (Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 19/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Khánh).

- Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Nguyễn Thanh P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - Công an TP. Long Khánh;
  • - VKSND TP. Long Khánh;
  • - Thi hành án TP. Long Khánh;
  • - Bị cáo;
  • - Hồ sơ thi hành án;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu án văn ;
  • - Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Thị Mỹ Lệ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 78/2024/HSST ngày 27/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự: trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 78/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh P phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh P 06 (sáu) tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/02/2024.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger