Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 78/2024/DS-PT

Ngày: 26-4-2024

V/v “tranh chấp thừa kế tiền bồi thường,

hỗ trợ do Nhà nước thu hồi đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Lộc

Các Thẩm phán: Ông Cao Văn Lạc

Bà Đặng Thị Ánh Bình

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Minh Khương – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Nguyến Anh Tuấn – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 58/2024/TLPT-DS ngày 06 tháng 3 năm 2024 về việc: “tranh chấp thừa kế tiền bồi thường, hỗ trợ do Nhà nước thu hồi đất".

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 64/2023/DS-ST, ngày 09 tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 98/2024/QĐ-PT ngày 25 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

  1. Ông Nguyễn Khắc T, sinh năm: 1958
    Địa chỉ: Tổ A, ấp T, xã Đ, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long.
    Ông Nguyễn Khắc Thành ủy q cho anh Nguyễn Minh T1 và anh Nguyễn Trung T2 (Văn bản ủy quyền ngày 02/4/2024).
  2. Ông Trương Văn M, sinh năm: 1970
    Địa chỉ: Tổ E, ấp M, xã M, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long.

- Bị đơn: Bà Đặng Thị Mỹ L, sinh năm: 1973.

Địa chỉ: Tổ E, ấp M, xã M, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Lưu Thị H (Vắng mặt)
  2. Anh Trương Hoài D, sinh năm: 1977 (Vắng mặt)
  3. Anh Trương Tấn H1, sinh năm: 1980 (Vắng mặt)
  4. Chị Trương Thị Bích T3, sinh năm: 1988 (Vắng mặt)
  5. Anh Trương Văn T4, sinh năm: 1990 (Vắng mặt)
  6. Chị Trương Thị T5, sinh năm: 1983 (Vắng mặt)
  7. Anh Trương Hoàng K, sinh năm: 1989 (Có mặt)
  8. Chị Trương Thị Diễm M1, sinh năm: 1991 (Có mặt)
  9. Anh Trương Hoàng D1, sinh năm: 1992 (Có mặt)
  10. Chị Trương Thị Diễm H2, sinh năm: 2000 (Có mặt)
  11. Anh Trương Vĩ S, sinh năm: 2003 (Có mặt)
  12. Bà Trương Thị N, sinh năm: 1966 (Có mặt)
  13. Cùng địa chỉ: Tổ E, ấp M, xã M, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long.

  14. Anh Trương Văn T6, sinh năm: 1976 (Vắng mặt)
  15. Bà Đặng Thị L1 (Vắng mặt)
  16. Anh Đặng Trường G (Vắng mặt)
  17. Chị Đặng Thị Thu Đ (Vắng mặt)
  18. Chị Đặng Thị Thu T7 (Vắng mặt)
  19. Anh Đặng Trường A (Vắng mặt)
  20. Cùng địa chỉ: Ấp T, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang.

  21. Ủy ban nhân dân thị xã B
    Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn D2 – Phó Chủ tịch. (Vắng mặt)
  22. Ban Quản lý dự án Đầu tư Xây dựng thị xã B
    Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Quốc Đ1 – Giám đốc. (Vắng mặt)

Người kháng cáo: Ông Nguyễn Khắc T và ông Trương Văn M - Là nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 18 tháng 5 năm 2022, đơn khởi kiện bổ sung ngày 10 tháng 3 năm 2023 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Nguyễn Khắc T, Trương Văn M và người đại diện Nguyễn Đức D3 trình bày:

Ông Nguyễn Khắc K1 và bà Ngô Thị H3 có 06 người con gồm Trương Văn D4 (chết năm 2013, có vợ là bà Lưu Thị H và 06 người con gồm Trương Văn T6, Trương Hoài D, Trương Tấn H1, Trương Thị Bích T3, Trương Văn T4, Trương Thị T5), ông Đặng Văn L2 (chết năm 2013, có vợ là bà Đặng Thị L1 và 04 người con gồm Đặng Trường G, Đặng Thị Thu Đ, Đặng Thị Thu T7, Đặng Trường A), Trương Văn T8 (chết năm 2011, có vợ là bà Đặng Thị Mỹ L và 05 người con gồm Trương Hoàng K, Trương Thị Diễm M1, Trương Hoàng D1, Trương Thị Diễm H2, Trương Vĩ S), Nguyễn Khắc T, Trương Văn M, Trương Thị N. Ông K1 chết vào năm 1980.

Sau khi ông K1 chết thì bà H3 có đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A438125, số vào sổ: 2623, đối với thửa đất số 71, tờ bản đồ số 36, diện tích 3.291,4m² loại đất ở và trồng cây lâu năm (trong đó 300m² là đất ở và 2.991,4m² là đất trồng cây lâu năm) tọa lạc ấp M, xã M, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long. Đến khoảng năm 1990, bà H3 cho ông T và ông M mỗi người 1.200m², có chỉ vị trí nhưng không có lập thành văn bản. Do hoàn cảnh của bà H3 lúc đó còn khó khăn nên ông T và ông M chưa nhận đất vẫn để bà H3 canh tác. Đến ngày 15/5/2008 bà H3 chết, chưa được sự đồng ý của hàng thừa kế thứ nhất của bà H3 nhưng ông Trương Văn T8 đã làm thủ tục thừa kế và đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 71.

Năm 2021 Nhà nước thu hồi khoảng 300m² đất để làm công trình Công viên truyền hình thị xã B và có bồi thường 150.000.000đ. Đồng thời thu hồi toàn bộ thửa đất để xây dựng đường trục chính 3/2 và Công viên truyền hình thị xã B. Do bà Đặng Thị Mỹ L đứng tên chủ hộ nên được ghi tên trong quyết định nhận 01 nền tái định cư. Tổng số tiền bà L được bồi thường là 3.810.194.340 đồng.

Nay ông T và ông M khởi kiện yêu cầu:

  • Hủy bỏ văn bản thỏa thuận phân chia thừa kế ngày 14/08/2008 được Ủy ban nhân dân xã M, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long chứng thực số 392, quyển số 01/TP/CC-SCT/HĐG.
  • Hủy bỏ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và gắn liền với đất số phát hành BG161958, số vào sổ cấp GCN số CH08247 do Ủy ban nhân dân huyện B (nay là thị xã B) cấp ngày 04/02/2018 cho bà Đặng Thị Mỹ L.
  • Yêu cầu chia thừa kế số tiền 3.810.194.340 đồng do Nhà nước bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi thửa đất số 211, tờ bản đồ số 2 (nay là thửa 71, tờ bản đồ số 36), diện tích 3.291,4m² loại đất ở và đất trồng cây lâu năm tọa lạc ấp M, xã M, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long. Yêu cầu chia thừa kế làm 3 kỷ phần, ông T và ông M được nhận mỗi kỷ phần là 1.270.064.780đ.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn Đặng Thị Mỹ L và người đại diện Trương Thị N trình bày:

Nguồn gốc đất tranh chấp có từ bà Ngô Thị H3 (mẹ chồng), đến năm 2008 bà H3 chết. Sau đó chồng bà L là ông Trương Văn T8 cùng đồng hàng thừa kế thứ nhất ra Ủy ban nhân dân xã M lập văn bản phân chia tài sản thừa kế (Văn bản số 392, quyển số 01/TP/CC-SCT/HĐGD, ngày 13/9/2008). Ký tên vào văn bản phân chia tài sản thừa kế gồm có người nhận thừa kế là ông Trương Văn T8, người không nhận thừa kế là ông Trương Văn M và bà Trương Thị N. Đến năm 2009 ông Trương Văn T8 chết và bà Đặng Thị Mỹ L là vợ nhận thừa kế từ chồng đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa đất số 71, tờ bản đồ số 36, diện tích 3291,4m² tọa lạc tại ấp M, xã M, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long. Đối với lời trình bày của ông M và ông T cho rằng ông Trương Văn T8 đã được chia 1.200m² đất nhưng đã bán là không đúng sự thật. Thời điểm đó (không nhớ năm nào) bà Ngô Thị H3 vẫn còn sống có bán 1.200m² (một công) đất ruộng; người mua là ông T9 (không biết họ), cũng sinh sống tại ấp M, xã M, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long. Giấy tờ đất là do bà H3 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đối với đất tại thửa số 71 do Đặng Thị Mỹ L đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã bị Nhà nước thu hồi thực hiện trục chính đường C và Công viên văn hóa đài truyền hình thị xã B. Giữa các bên chỉ tranh chấp số tiền bồi thường đất còn phần thực tế đất Nhà nước thu hồi thì bà L đồng ý giao đất cho Ban quản lý dự án để thực hiện công trình trục chính đường C và Công viên văn hóa đài truyền hình thị xã B. Đối với ông D4 khi còn sống đã được bà H3 chia đất rồi. Đối với ông L2 có được chia đất chưa thì bà L không biết.

L đồng ý cho những người có tên sau trong số tiền nhận bồi thường đất:

  • Đồng ý cho Nguyễn Khắc T số tiền 300.000.000 đồng.
  • Đồng ý cho ông Trương Văn M số tiền 300.000.000 đồng.
  • Đồng ý cho bà Trương Thị N số tiền 300.000.000 đồng.

Quá trình giải quyết vụ án, bà Trương Thị N, bà Lưu Thị H, anh Trương Hoài D, anh Trương Tấn H1, chị Trương Thị Bích T3, anh Trương Văn T4, chị Trương Thị T5, anh Trương Hoàng K, chị Trương Thị Diễm M1, anh Trương Hoàng D1, chị Trương Thị Diễm H2, anh Trương Vĩ S, anh Trương Văn T6, bà Đặng Thị L1, anh Đặng Trường G, chị Đặng Thị Thu Đ, chị Đặng Thị Thu T7, anh Đặng Trường A thống nhất với ý kiến của bà Đặng Thị Mỹ L.

  • Tại Công văn số 679/UBND-NC ngày 18/4/2023, Ủy ban nhân dân thị xã B có ý kiến thửa đất số 71 do bà Đặng Thị Mỹ L nhận thừa kế quyền sử dụng đất từ ông Trương Văn T8, theo văn bản phân chia tài sản thừa kế và được Ủy ban nhân dân xã M xác nhận ngày 05/9/2016. Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Hộ bà Đặng Thị Mỹ L là phù hợp theo quy định của pháp luật đất đai.
  • Tại Công văn số 95/HĐBT.HT&TĐC ngày 181/5/2023 của Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư (thông qua Ban Quản lý dự dán đầu tư xây dựng thị xã B) thể hiện: Theo phương án phê duyệt bồi thường, hỗ trợ công trình Công viên truyền hình thị xã B, giá trị bồi thường, hỗ trợ đối với bà Đặng Thị Mỹ L là 5.123.588.709 đồng. Hiện nay bà L đã được nhận số tiền bồi thường, hỗ trợ là 2.623.588.709 đồng, do có phát sinh tranh chấp nên đã tạm ngưng chi trả tiền và chờ kết quả từ cơ quan chức năng có thẩm quyền giải quyết. Số tiền bồi thường, hỗ trợ còn lại là 2.500.000.000 đồng đang tạm giữ tại Kho bạc Nhà nước B.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 64/2023/DS-ST ngày 09/10/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh đã xử:

Căn cứ vào Điều 26, Điều 166, khoản 1 Điều 179 của Luật Đất đai năm 2013; các Điều 649, 650, 651, 660 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 26, Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tỏa án;

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Khắc T.

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trương Văn M.

  1. Buộc bà Đặng Thị Mỹ L chia cho ông Nguyễn Khắc T số tiền 528.953.650 đồng.
    Đặng Thị Mỹ L được tiếp tục liên hệ với Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thị xã B (thông qua Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng thị xã B) để nhận số tiền 2.500.000.000 đồng được gửi trong Kho bạc Nhà nước B.
  2. Không chấp nhận yêu cầu của ông Trương Văn M về việc yêu cầu được chia di sản thừa kế số tiền 1.270.064.780 đồng.
  3. Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Khắc T và ông Trương Văn M về việc yêu cầu tuyên vô hiệu hoặc hủy bỏ Văn bản thỏa thuận phân chia thừa kế ngày 14/08/2008 được Ủy ban nhân dân xã M, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long chứng thực số 392, quyển số 01/TP/CC-SCT/HĐG và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và gắn liền với đất số phát hành BG161958, số vào sổ cấp GCN số CH08247 do Ủy ban nhân dân huyện B (nay là thị xã B) cấp ngày 04/02/2018 cho bà Đặng Thị Mỹ L.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ thi hành án, về án phí dân sự sơ thẩm và về quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 23/10/2023 ông Nguyễn Khắc T và ông Nguyễn Văn M2 có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long giải quyết các vấn đề như sau:

Chấp nhận yêu cầu kháng cáo, sửa bản án dân sự sơ thẩm số 64/2023/DS-ST ngày 09/10/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Tuyên huỷ bỏ văn bản phân chia di sản thừa kế ngày 14/8/2008; tuyên huỷ bỏ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất do UBND huyện B (nay là UBND thị xã B) cấp cho hộ bà Đặng Thị Mỹ L ngày 04/02/2013; chấp nhận yêu cầu chia cho ông T, ông M2 01 kỷ phần thừa kế với số tiền 1.231.064.780đ.

Tại phiên tòa phúc thẩm anh Nguyễn Minh T1 và anh Nguyễn Trung T2 đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Khắc T rút toàn bộ đơn kháng cáo của ông Nguyễn Khắc T.

Ông Trương Văn M và bà Đặng Thị Mỹ L thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án như sau: Bà Đặng Thị Mỹ L đồng ý cho ông Trương Văn M số tiền 300.000.000đ trong số tiền 3.173.721.900đ do Nhà nước bồi thường hỗ trợ khi thu hồi thửa đất số 211, tờ bản đồ số 2 (nay là thửa đất số 71, tờ bản đồ số 30), diện tích 3.291,4m², loại đất ở và đất trồng cây lâu năm, tọa lạc tại ấp M, xã M, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Trương Văn M và bà Đặng Thị Mỹ L mỗi người tự nguyện nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các đương sự khác có mặt tại phiên tòa không có ý kiến gì khác.

Các đương sự không còn tranh chấp gì khác.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Thẩm phán thụ lý vụ án, Hội đồng xét xử và Thư ký Tòa án thực hiện đúng quy định của pháp luật. Các đương sự chấp hành đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: Xét thấy

  1. Tại phiên tòa phúc thẩm ông Nguyễn Khắc T rút đơn kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 289 Bộ luật Tố tụng dân sự đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của ông Nguyễn Khắc T.
  2. Tại phiên tòa phúc thẩm ông Trương Văn M và bà Đặng Thị Mỹ L thỏa thuận được với nhau về giải quyết vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 300 và khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Các đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Do sửa án sơ thẩm, nên đương sự kháng cáo không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm tuyên án ngày 09/10/2023, ngày 23/10/2023 ông Nguyễn Khắc T và ông Trương Văn M có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm. Xét đơn kháng cáo của ông T và ông M còn trong hạn luật định, ông T là người cao tuổi, nên được miễn tiền tạm ứng án phí phúc thẩm. Ông M đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đầy đủ, đúng quy định, nên kháng cáo hợp lệ. Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long thụ lý giải quyết theo thủ tục phúc thẩm là đúng quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung:

[2.1] Xét tại phiên tòa phúc thẩm người kháng cáo ông Nguyễn Khắc T rút toàn bộ đơn kháng cáo. Xét việc rút đơn kháng cáo của ông Nguyễn khắc T10 là hoàn toàn tự nguyện, đúng quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 289 Bộ luật Tố tụng dân sự đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của ông Nguyễn Khắc T.

[2.2] Xét tại phiên tòa phúc thẩm ông Trương Văn M và bà Đặng Thị Mý L3 đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án. Thỏa thuận giữa ông Trương Văn M và bà Đặng Thị Mỹ L cụ thể như sau: Bà Đặng Thị Mỹ L đồng ý cho ông Trương Văn M số tiền 300.000.000đ trong số tiền 3.173.721.900₫ do Nhà nước bồi thường hỗ trợ khi thu hồi thửa đất số 211, tờ bản đồ số 2 (nay là thửa đất số 71, tờ bản đồ số 30), diện tích 3.291,4m², loại đất ở và đất trồng cây lâu năm, tọa lạc tại ấp M, xã M, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long.

[2.3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Trương Văn M và bà Đặng Thị Mỹ L tự nguyện nộp theo quy định của pháp luật.

Xét thỏa thuận giữa bà L và ông M là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp theo quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 300 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Công nhận sự thỏa thuận của đương sự tại phiên tòa.

Xét đề nghị của kiểm sát viên tham gia phiên tòa là có căn cứ.

[3] Về án phí: Do án sơ thẩm xem xét phần án phí sơ thẩm của bà Đặng Thị Mỹ L chưa đúng, nên cấp phúc thẩm điều chỉnh lại cho phù hợp.

Ông Nguyễn Khắc T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Ông Nguyễn Khắc T có đơn xin miễn tiền án phí do là người cao tuổi. Nên miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông T.

Buộc ông Trương Văn M và bà Đặng Thị Mỹ L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Cụ thể:

  • Ông Trương Văn M nộp 300.000.000₫ x 5% = 15.000.000₫
  • Buộc bà L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 2.344.768.250 x 5% = 78.895.365đ, làm tròn 78.895.000đ.

[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do sửa án sơ thẩm nên người kháng cáo ông Nguyễn Văn M2 không phải chịu án phí phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 289, Điều 300 và khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 64/2023/DS-ST ngày 09/10/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.

Tuyên xử:

  1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của ông Nguyễn Khắc T.
  2. Công nhận sự thỏa thuận của ông Trương Văn M và bà Đặng Thị Mỹ L như sau: Bà Đặng Thị Mỹ L đồng ý cho ông Trương Văn M 300.000.000₫ (Ba trăm triệu đồng).
  3. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    • Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông Nguyễn Khắc T.
    • Buộc ông Trương Văn M phải chịu 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Trừ vào số tiền tạm ứng án phí 3.000.000đ (ba triệu đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0012745 ngày 08/7/2022 và số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0013203 ngày 13/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bình Minh. Ông M còn phải nộp tiếp 11.700.000đ (mười một triệu bảy trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
    • Buộc bà Đặng Thị Mỹ L phải chịu 78.895.000đ (bảy mươi tám triệu tám trăm chín mươi lăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
  5. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Trương Văn M không phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả ông Trương Văn M 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm theo biên lai thu tiền số 0012219 ngày 24/10/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.
  6. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  7. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hôn nay tuyên án./.

Nơi nhận:

- TAND Cấp cao: 01;

- VKSND tỉnh Vĩnh Long: 02;

- Phòng KTNV&THA: 01;

- TAND TXBM: 01;

- THADS TXBM: 01;

- Các đương sự;

- Lưu: 06;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Văn Lộc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 78/2024/DS-PT ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG về tranh chấp thừa kế tiền bồi thường, hỗ trợ do nhà nước thu hồi đất

  • Số bản án: 78/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp thừa kế tiền bồi thường, hỗ trợ do Nhà nước thu hồi đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Thảo tranh chấp thừa kế tiền bồi thường, hỗ trợ do Nhà nước thu hồi đất với ông Thắng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger