Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN THANH XUÂN

TP.HÀ NỘI

***

Bản án số 78/2024/HSST

Ngày: 17/4/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

******

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Ngọc

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Chu Thị Tuyết
  2. Ông Nguyễn Quang Đạt

- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thị Tuyền – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Tố Lan - Kiểm sát viên

Trong ngày 17 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 44/2024/TLST-HS ngày 13/3/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2024/QĐXXST-HS ngày 02/4/2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn L, sinh năm 1990; Đăng ký HKTT: Xóm G, thôn N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình; Nơi ở: không rõ ràng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1963 (đã chết) và bà Nguyễn Thị A; có vợ là Dương Thị T (đã ly hôn) và 02 con; tiền sự: Không.

Tiền án: Tại bản án số 61/2022/HSST ngày 30/8/2022 của Toà án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình xử phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt ngày 28/3/2023.

Nhân thân:

  • - Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 33 ngày 08/4/2022 của Công an tỉnh T phạt cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý.
  • - Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 08 ngày 08/12/2014 của Công an phường K, thành phố T phạt cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý.
  • - Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 06061 ngày 12/7/2016 của Công an huyện Đ, Thái Bình phạt 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản. Đã nộp phạt ngày 13/7/2016.
  • - Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 64 ngày 09/7/2022 của Công an huyện Đ, Thái Bình phạt 3.000.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản.

D chỉ bản số 547 lập ngày 23/12/2023 tại Công an quận T; tạm giữ ngày 22/12/2023; tạm giam ngày 28/12/2023. Hiện đang tạm giam tại Trại giam S - Công an thành phố H (có mặt).

Người bị hại: Ông Phạm Hồng T1, sinh năm 1973; địa chỉ: Số A ngõ F V, phường T, quận T, Hà Nội (vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Bùi Khắc H, sinh năm 1982; địa chỉ: Thôn D, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 6/2023, Nguyễn Văn L ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH D1 – trụ sở: Số B T, phường A, quận B, thành phố Hồ Chí Minh. L được bố trí làm bảo vệ tại tầng hầm chung cư I N, Thanh Xuân T, T, Hà Nội. Ngày 15/10/2023 L bị Công ty cho nghỉ việc.

Khoảng 15 giờ ngày 11/12/2023 L qua nhà đồng nghiệp cũ cùng làm bảo vệ Chung cư I là ông Phạm Hồng T1 tại địa chỉ số A ngõ F V, phường T, quận T, Hà Nội chơi nhưng ông T1 không có nhà. Luân đến sảnh AB Chung cư Imperia Garden để liên hệ xin vào làm việc lại tại Công ty D1 nhưng không được đồng ý. Khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, L quay lại nhà ông Phạm Hồng T1 để xin tiền về quê, ông T1 cho L 20.000 đồng, L ngồi chơi ở tầng 1 nhà ông T1, còn ông T1 lên tầng 2 tắm. L đứng ở cầu thang tầng 1 hỏi mượn ông T1 chiếc xe máy để đi mua đồ ăn thì ông T1 không đồng ý. Lúc này L nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe máy Honda Wave Alpha màu xanh – BKS: 29P9-4140 của ông T1 đang dựng trong phòng khách gần cửa ra vào. Lợi dụng lúc ông T1 đang tắm trên tầng 2, L dắt chiếc xe máy ra khỏi nhà ông T1 rồi lên xe đi thẳng về quê tại Đ, Đ, Thái Bình. Khoảng 21 giờ cùng ngày, L đến thôn Đ, xã Đ, Đ, Thái Bình gặp anh Bùi Khắc H và thỏa thuận bán chiếc xe đó cho anh H với giá 900.000 đồng. Khi bán L nói là chiếc xe của L bị mất giấy tờ, anh H không biết chiếc xe do L trộm cắp mà có. Sau đó L đi về nhà tại thôn N, Đ, Đ, Thái Bình và tiêu xài hết số tiền bán xe.

Sau khi phát hiện bị mất trộm xe, ông Phạm Hồng T1 đã trình báo cơ quan công an.

Quá trình điều tra, cơ quan công an thu giữ của anh Bùi Khắc H: 01 (một) xe mô tô Honda Wave alpha, Biển kiểm soát 29P9-4140, có số khung là RLHHC09033Y232577, số máy là HC09E-0232714.

Tại Bản kết luận giám định số 1162/KL-KTHS ngày 01/02/2024 của Phòng KTHS – C1: Đối với chiếc xe Wave alpha màu xanh, Biển kiểm soát 29P9-4140 có số khung nguyên thủy là RLHHC09033Y232577, số máy nguyên thủy là HC09E-0232714 trùng khớp với số khung, số máy chiếc xe ông Phạm Hồng T1 bị mất trộm.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 268/KL-HĐĐGTS ngày 28/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong TTHS – UBND quận T: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu xanh, BKS:29P9-4140 tại thời điểm tháng 12/2023 có giá trị 5.000.000 đồng.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Văn L khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trên.

Ngoài vụ án trên, cùng ngày 11/12/2023, Công an phường T cũng tiếp nhận trình báo của anh Nguyễn Huy H1 (Sinh: 1999, HKTT: P205 tập thể nước ngầm, H, H, Hà Nội) là nhân viên bảo vệ của Công ty TNHH D1 về việc anh H1 bị một đối tượng chưa rõ nhân thân lai lịch có hành vi "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade màu đen - đỏ, BKS: 29X1-566.84, xảy ra khoảng 15 giờ 05 phút ngày 11/12/2023 tại khu vực trạm soát vé xe ra hầm gửi xe chung cư I. Sau khi sự việc xảy ra anh H1 đã báo cáo lãnh đạo Công ty T2 biết. Công ty đã xem lại camera ghi hình và nghi ngờ Nguyễn Văn L là người chiếm đoạt chiếc xe. Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Văn L khẳng định không chiếm đoạt chiếc xe trên vì thời điểm xảy ra sự việc L đang ở gần nhà ông T1 và nói chuyện với chị Nguyễn Thị Y (hàng xóm của ông T1). Cơ quan điều tra đã tiến hành cho anh Nguyễn Huy H1 nhận dạng L, kết quả anh H1 khẳng định L không phải là người đã mạo danh nhân viên công ty D1 để chiếm đoạt chiếc xe mô tô trên. Do chưa thu hồi được vật chứng là chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade màu đen - đỏ, BKS: 29X1-566.84 nên Cơ quan điều tra không đủ căn cứ kết luận vụ việc. Ngày 19/12/2024 Cơ quan điều tra ra Quyết định tách hồ sơ, tài liệu đối với vụ việc này để tiếp tục xác minh làm rõ.

Tại Cáo trạng số 42/CT-VKS ngày 08/03/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân đã truy tố Nguyễn Văn Luân về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Văn L từ 12 đến 16 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”
  • - Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo

Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, xin được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, vật chứng đã thu giữ, kết luận định giá tài sản và các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy có đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 11/12/2023, tại số A ngõ F V, Thanh Xuân T, T, Hà Nội, Nguyễn Văn L đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Wave alpha, biển kiểm soát 29P9-4140 trị giá 5.000.000 đồng của ông Phạm Hồng T1.

Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm vào tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân đã truy tố.

[2] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây hoang mang lo lắng cho quần chúng nhân dân, gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo đã có tiền án về tội Trộm cắp tài sản, chưa được xoá án tích, nay lại tiếp tục phạm tội, thể hiện sự coi thường pháp luật, lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp “tái phạm” là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Do vậy cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo và đáp ứng yêu cầu phòng ngừa tội phạm nói chung.

[3] Khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng nhận thấy: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo

[5] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã trao trả chiếc xe Honda Wave alpha, Biển kiểm soát 29P9-4140 cho ông Phạm Hồng T1. Ông T1 nhận xe và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường. Số tiền 900.000 đồng anh H không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả. Do đó, Toà không xem xét.

[6] Các vấn đề khác: Anh Bùi Khắc H khi mua chiếc xe tang vật của vụ án không biết xe do Nguyễn Văn L trộm cắp mà có. Do vậy, không đủ căn cứ chứng minh anh H có hành vi Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

[7]Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp.

[8]Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự;

Căn cứ vào các điều 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”
  2. Xử phạt Nguyễn Văn L 01 (một) năm 01 (một) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/12/2023.
  3. Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhân:

  • - TAND TP Hà Nội.;
  • - VKSND TP Hà nội;
  • - VKSND quận Thanh Xuân;
  • - Công an quận Thanh Xuân;
  • - THADS quận Thanh Xuân;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu HS, VT.

TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thúy Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 78/2024/HSST ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN, TP.HÀ NỘI về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 78/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN, TP.HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Luân phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger