TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY TỈNH THÁI BÌNH Bản án số: 78/2024/HS-ST Ngày 20 - 6 - 2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Việt Hưng
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Hữu Thuấn và ông Bùi Văn Bằng.
- - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Thanh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Xuân Long - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2024; tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 40/2024/TLST - HS ngày 03 tháng 4 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2024/QĐXXST - HS ngày 10 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Xuân Q, sinh ngày 03/01/1981, giới tính: nam; tại Thái Bình.
Nơi cư trú: Tổ dân phố H, thị trấn D, huyện T, tỉnh Thái Bình; Quốc tịch: Việt Nam, dân tộc: Kinh, tôn giáo: không, trình độ học vấn: 6/12, nghề nghiệp: lao động tự do, căn cước công dân số: [...]. Con ông: Trần Bá N (đã chết); con bà: Nguyễn Thị V, sinh năm 1953.
Tiền án: Bản án số 33/2010/HSST ngày 30/7/2010 của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy xử phạt 07 năm tù về tội “Cướp tài sản” và 03 năm tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”, buộc chấp hành hình phạt chung cho cả 02 tội là 10 năm tù (Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/01/2019, nộp xong án phí 200.000 đồng ngày 09/4/2015, nộp xong tiền tịch thu xung công 450.000 đồng ngày 12/6/2017). Bản án số 106/2021/HSST ngày 23/11/2021 của Toà án nhân dân huyện Thái Thụy xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” (Chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/02/2023, nộp xong án phí 200.000 đồng ngày 11/8/2022).
Tiền sự: Không.
Nhân thân: Bản án số 11/2003/HSST ngày 18/3/2003 của Toà án nhân dân huyện Thái Thụy xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/12/2004, nộp xong án phí ngày 10/4/2004; khoản bồi thường dân sự cho người bị hại, đến nay cơ quan Thi hành án dân sự không nhận được đơn yêu cầu thi hành án của đương sự nên không thụ lý giải quyết).
Quyết định số 1189/QĐ-UB ngày 12/5/2005 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh T đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 24 tháng (Chấp hành xong ngày 14/5/2007).
Bản án số 37/2007/HSST ngày 26/11/2007 của Toà án nhân dân huyện Thái Thụy xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Bản án số 39/2007/HSST ngày 07/12/2007 của Toà án nhân dân huyện Thái Thụy xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Quyết định tổng hợp hình phạt số 01 ngày 02/4/2008 của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, buộc chấp hành hình phạt của 02 bản án số 37/2007/HSST ngày 26/11/2007 và 39/2007/HSST ngày 07/12/2007 là 27 tháng tù; chấp hành xong hình phạt tù của 02 bản án này ngày 30/11/2009, đã chấp hành xong án phí; các khoản bồi thường dân sự cho người bị hại ở 02 bản án trên, đến nay cơ quan Thi hành án dân sự không nhận được đơn yêu cầu thi hành án của đương sự nên không thụ lý giải quyết).
Quyết định số 29/QĐ-XPHC ngày 01/02/2021 của Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính (Phạt tiền 2.500.000 đồng) về hành vi gây thương tích cho người khác.
Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 07/02/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. (Có mặt).
* Bị hại: Anh Trần Bá V1, sinh năm 1983, trú tại tổ dân phố H, thị trấn D, huyện T, tỉnh Thái Bình. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
* Người làm chứng:
- Anh Nguyễn Xuân H, sinh năm 1981, trú tại tổ dân phố N; huyện T, tỉnh Thái Bình.
- Anh Đỗ Đức T, sinh năm 1992, trú tại tổ dân phố M, thị trấn D, huyện T, tỉnh Thái Bình.
- Anh Nguyễn Ngọc H1, sinh năm 1988, trú tại thôn Q, xã T . (Đều vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 21 giờ ngày 20/11/2023, anh Trần Bá V1, sinh năm 1983, trú tại tổ dân phố H, thị trấn D, huyện T, tỉnh Thái Bình mua đồ ăn mang đến nhà anh Nguyễn Xuân H, sinh năm 1981, trú tại tổ dân phố N, thị trấn D. Khi đang ngồi uống rượu với anh H, anh V1 bảo anh H gọi điện thoại cho Trần Xuân Q (Là em họ anh V1) đến uống rượu cùng. Khoảng 30 phút sau, Q đi cùng với anh Nguyễn Ngọc H1, sinh năm 1988, trú tại thôn Q, xã T đến nhà anh V1, mọi người cùng ngồi uống rượu. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày thì giữa anh V1 và Q lời qua tiếng lại, dẫn đến cãi chửi nhau. Q dùng tay phải cầm dao ở mâm cơm (loại dao thường dùng để gọt, bổ hoa quả dài 25 cm, phần cán bằng nhựa dài 10 cm, có in dòng chữ “KIWI”, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 15cm, mũi nhọn) giơ về phía anh V1. Anh V1 bỏ chạy ra sân và nhặt 01 viên gạch cầm trên tay. Q cầm dao đuổi theo, đâm 01 nhát trúng lưng anh V1, mọi người có mặt cáo ngăn và đưa anh V1 đến Bệnh viện đa khoa huyện T điều trị, sau đó anh V1 được chuyển đến Bệnh viện đa khoa tỉnh T điều trị tiếp, ra viện ngày 21/11/2023.
Tại Bản kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 30/KLTTCT-TTPY ngày 24/01/2024 của Trung tâm pháp y - Sở Y kết luận: “Vùng lưng bên trái sát cột sống có vết sẹo trung bình hình chữ (V). Tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 02%. Thương tích do vật sắc nhọn gây nên. Cơ chế hình thành vết thương: do vật sắc tác động vào vùng lưng đi chéo từ ngoài vào trong cột sống, trên đường đi hướng đi của vật sắc thay đổi tạo vết thương nham nhở, khi xử lý vết thương cắt lọc khâu phục hồi tạo vết thương chữ V. Ngày 25/01/2024, anh V1 có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự, truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Trần Xuân Q.
* Bản cáo trạng số 60/CT-VKSTT ngày 09 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy và tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân huyện T vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố theo cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Xuân Q về tội “ Cố ý gây thương tích”.
* Về hình phạt: Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.; Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đề nghị HĐXX: Xử phạt bị cáo Trần Xuân Q từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ 07/02/2024.
* Về trách nhiệm dân sự: Tại cơ quan điều tra bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường bất kể khoản tiền nào nên không đặt ra giải quyết.
* Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ của gia đình anh Nguyễn Xuân H 01 dao, có đặc điểm: dài 25 cm, phần cán bằng nhựa dài 10cm, có in dòng chữ “KIWI”, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 15cm, có in chữ “KIWI BRANND, MADEIN THAI LAN”, mũi nhọn; quản lý của anh Trần Bá V1 01 áo phông ngắn tay, chất liệu bằng vải, cổ tròn, mặt trước có hoa văn in hình cô gái, mặt sau màu đen; cách từ cổ áo xuống 16,5cm có 01 vết rách khoảng 02cm, xung quanh có vết loang màu đỏ là vật chứng của vụ án. Áp dụng điểm c khoản 1Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 1 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Căn cứ kết tội bị cáo: Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự: Khoảng 23 giờ ngày 20/11/2023, tại gia đình anh Nguyễn Xuân H ở tổ dân phố N, thị trấn D, huyện T, tỉnh Thái Bình, do phát sinh mâu thuẫn cá nhân trong lúc ngồi uống rượu giữa Trần Xuân Q và anh Trần Bá V1, Q đã dùng dao nhọn (Loại dao thường dùng gọt, bổ hoa quả) đâm, gây thương tích vùng lưng bên trái sát cột sống của anh V1, để lại vết sẹo trung bình hình chữ V, tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 02%. Anh V1 có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự, truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Q. Trong quá trình điều tra, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên. Hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ sau: Đơn trình báo, Đơn đề nghị giám định thương tích, truy cứu trách nhiệm hình sự. Biên bản ghi lời khai của người bị hại là anh Trần Bá V1. Biên bản hiện trường, sơ đồ xác định hiện trường do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T lập ngày 02/12/2023. Biên bản xem xét dấu vết trên thân thể anh Trần Bá V1 do Công an thị trấn D lập ngày 21/11/2023. Hồ sơ bệnh án ngoại khoa của Bệnh viện đa khoa tỉnh T. Biên bản ghi lời khai của người làm chứng là anh Nguyễn Xuân H; anh Đỗ Đức T, anh Nguyễn Ngọc H1 cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.
“Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người...”;
...2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:
...d) Tái phạm nguy hiểm”.
Như vậy có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Trần Xuân Q đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.
[3] Về tính chất mức độ nghiêm trọng hành vi phạm tội của bị cáo, nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của các bị cáo: Chỉ vì mâu thuẫn nhỏ giữa bị cáo Trần Xuân Q và anh Trần Bá V1 là anh em họ trong lúc ăn cơm, Q đã dùng dao nhọn (Loại dao thường dùng gọt, bổ hoa quả) đâm, gây thương tích vùng lưng bên trái sát cột sống của anh V1, để lại vết sẹo trung bình hình chữ V, tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 02%. Bị cáo thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo gây thiệt hại đến sức khỏe bị hại, xâm phạm đến khách thể được Bộ luật hình sự bảo vệ. Đây là hành vi nguy hiểm cho xã hội, hành vi của các bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an cần phải xử lý nghiêm minh.
[4.] Về tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo Trần Xuân Q thành khẩn khai báo, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Trên cơ sở đánh giá tính chất và mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo Hội đồng xét xử cần phải cách ly bị cáo một thời gian nhất định đủ để bị cáo cải tạo tốt thành con người có ích cho xã hội nhưng cũng xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt để các bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của Nhà nước.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Tại cơ quan điều tra truy tố về trách nhiệm dân sự anh Trần Bá V1 không yêu cầu bị cáo Trần Xuân Q phải bồi thường bất kể khoản tiền nào vì vậy không đặt ra giải quyết.
[6] Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ của gia đình anh Nguyễn Xuân H 01 dao, có đặc điểm: dài 25 cm, phần cán bằng nhựa dài 10cm, có in dòng chữ “KIWI”, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 15cm, có in chữ “KIWI BRANND, MADEIN THAI LAN”, mũi nhọn; quản lý của anh Trần Bá V1 01 áo phông ngắn tay, chất liệu bằng vải, cổ tròn, mặt trước có hoa văn in hình cô gái, mặt sau màu đen; cách từ cổ áo xuống 16,5cm có 01 vết rách khoảng 02cm, xung quanh có vết loang màu đỏ là vật chứng của vụ án. Áp dụng Điều điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 1 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Bị cáo Trần Xuân Q phạm tội “ Cố ý gây thương tích”.
- Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.; Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Điểm ca khoản 1Điều 106, Điều 136, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Xử phạt bị cáo Trần Xuân Q 02 năm 06 tháng tù thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ 07/02/2024.
- Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết.
- Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 dao, có đặc điểm: dài 25 cm, phần cán bằng nhựa dài 10cm, có in dòng chữ “KIWI”, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 15cm, có in chữ “KIWI BRANND, MADEIN THAI LAN”, mũi nhọn; quản lý của anh Trần Bá V1 01 áo phông ngắn tay, chất liệu bằng vải, cổ tròn, mặt trước có hoa văn in hình cô gái, mặt sau màu đen; cách từ cổ áo xuống 16,5cm có 01 vết rách khoảng 02cm, xung quanh có vết loang màu đỏ là vật chứng của vụ án.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Công an huyện T và Chi cục thi hành án dân sự huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình ngày 09 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình).
- Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Xuân Q có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 20 tháng 6 năm 2024. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Việt Hưng |
Bản án số 78/2024/HS-ST ngày 20/06/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình về hình sự sơ thẩm về tội cố ý gây thương tích
- Số bản án: 78/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: cố ý gây thương tích
