|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH-TP.HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 78/2024/HS-ST Ngày 19/7/2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH-TP. HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Nguyễn Thị Thu Hằng |
| Các Hội thẩm nhân dân | : Ông Kiều Xuân Mai |
| Bà Dương Thị Kim Lan |
- Thư ký phiên tòa:
Bà Đỗ Thị Hồng Hạnh-Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Mê Linh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Bích Liên - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 75/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Nguyễn Quyết C, sinh năm 1989 tại Hà Nội. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn Y, xã T, huyện M, Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá : Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Hoàng Thị T1; vợ là: Hồ Thị T2 và có 03 con lớn sinh năm 2011; nhỏ sinh năm 2018; tiền án, tiền sự, nhân thân: không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/12/2023 đến ngày 29/01/2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
- Nguyễn Văn T3, sinh năm 1993 tại Hà Nội. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn Y, xã T, huyện M, Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá : Lớp 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn P và bà Hoàng Thị D; tiền án, tiền sự, nhân thân: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/12/2023 đến ngày 06/01/2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
-Anh Vũ Việt H, sinh năm 1986, vắng mặt
Nơi cư trú: Thôn T, xã T, M, Hà Nội.
-Anh Ngô Văn H1, sinh năm 1985, vắng mặt
Nơi cư trú: Y, T, M, Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có khó khăn về tài chính nên ngày 25/02/2022, anh Vũ Việt H đến nhà Nguyễn Quyết C là người quen cùng xã T hỏi vay C số tiền 30.000.000 đồng, C đồng ý. C và anh H thỏa thuận không viết giấy vay nợ và thời hạn trả nợ, lãi suất là 5.000đ/1 triệu/1 ngày và cứ 10 ngày anh H phải trả lãi một lần là 1.500.000 đồng. Sau khi vay 10 ngày đến ngày 06/3/2022, anh H trả lãi cho C 1.300.000 đồng còn nợ lại là 200.000 đồng. Đến hạn 20 ngày tiếp theo, do anh H không có tiền để trả lãi của 02 kỳ nên anh H tiếp tục hỏi vay C 15.000.000 đồng và C đưa cho anh H vay tiền vào cuối tháng 3/2022 (khi cho vay C lấy 3.000.000 đồng tiền lãi của 20 ngày trước đó chưa trả) đưa cho anh H 12.000.000 đồng.
Sau khi vay tiền, anh H trả tiền lãi cho C thường xuyên bị chậm và không đầy đủ nên C và anh H thỏa thuận nếu tiền lãi anh H không trả đúng hạn thì số tiền lãi được cộng dồn vào tiền gốc để tiếp tục tính lãi cho kỳ tiếp theo và lãi suất 5.000đ/1 triệu/1 ngày. Theo đó, tính đến giữa tháng 02/2023, anh H chưa trả được 22.000.000 đồng tiền lãi nên C cộng dồn vào tiền nợ gốc 45.000.000 đồng + 20.000.000 đồng = 65.000.000 đồng (C cộng 20.000.000 đồng cho anh H 2.000.000 đồng) thỏa thuận tính lãi suất 5.000đ/1 triệu/1 ngày và 10 ngày phải trả lãi là 3.250.000 đồng. Sau đó, trong khoảng thời gian từ 17/3/2023 đến giữa tháng 6/2023, anh H tiếp tục nợ tiền lãi của C là 20.000.000 đồng nên đến đầu tháng 7/2023, C tiếp tục cộng dồn số tiền lãi này vào tiền nợ gốc 65.000.000 đồng + 20.000.000 đồng = 85.000.000 đồng, tính lãi suất 5.000đ/1 triệu/1 ngày và 10 ngày phải trả lãi là 4.250.000 đồng.
Tính từ ngày 25/02/2022 đến ngày 17/9/2023, anh Vũ Việt H đã trả lãi cho C vào tài khoản số [...] mở tại M và tài khoản số 8380868999 mở tại T6 của C tổng số 19 lần: (1) ngày 06/3/2022, C nhận 1.300.000 đồng; (2) ngày 06/5/2022, nhận 2.500.000 đồng; (3) ngày 12/5/2022, nhận 1.620.000 đồng; (4) ngày 17/5/2022, nhận 3.370.000 đồng; (5) ngày 14/6/2022, nhận 1.300.000 đồng; (6) ngày 09/7/2022, nhận 3.000.000 đồng; (7) ngày 13/8/2022, nhận 2.500.000 đồng; (8) ngày 24/8/2022, nhận 2.500.000 đồng; (9) ngày 10/9/2022, nhận 2.500.000 đồng; (10) Ngày 08/10/2022, nhận 1.000.000 đồng; (11) ngày 12/10/2022, nhận 1.700.000 đồng; (12) ngày 31/10/2022, nhận 4.000.000 đồng; (13) ngày 15/11/2022, nhận 3.000.000 đồng; (14) ngày 06/01/2023, nhận 4.000.000 đồng; (15) ngày 21/01/2023, nhận 3.500.000 đồng; (16) ngày 17/3/2023, nhận 3.000.000 đồng; (17) ngày 24/3/2023, nhận 3.450.000 đồng; (18) ngày 03/4/2023, nhận 3.250.000 đồng và (19) ngày 17/9/2023, nhận 2.000.000 đồng. Tổng số tiền lãi C nhận được là 49.490.000 đồng qua tài khoản + 3.000.000 đồng (khi cho anh H vay tiền) = 52.490.000 đồng;
Sau đó, từ ngày 16/05/2023 đến 08/10/2023, C thuê Nguyễn Văn T3 đi thu tiền lãi cho C và anh H đã trả chuyển khoản tiền lãi 10 lần vào tài khoản số 6960099999 mở tại T6 của T3 và trả trực tiếp được số tiền lãi: (1) ngày 16/5/2023, T3 nhận được 3.000.000 đồng; (2) ngày 25/5/2023, nhận 1.500.000 đồng; (3) ngày 02/6/2023, nhận 2.000.000 đồng chuyển khoản; (4) ngày 21/6/2023, nhận 4.000.000 đồng; (5) ngày 03/8/2023, nhận 3.000.000 đồng; (6) ngày 10/9/2023, nhận 3.000.000 đồng; (7) ngày 23/9/2023, nhận 2.000.000 đồng; (8) ngày 29/9/2023, nhận 1.500.000 đồng; (9) ngày 03/10/2023, nhận 650.000 đồng; (10) ngày 08/10/2023, nhận 1.950.000 đồng. Tổng số tiền lãi Tần thu được của anh H 22.600.000 đồng qua tài khoản + 2.700.000 đồng trả trực tiếp = 25.300.000 đồng;
Đến ngày 20/10/2023, thời điểm đến thời hạn trả lãi tiếp theo C nhắn tin cho anh H qua ứng dụng zalo đòi nợ lãi 29.150.000 đồng và thanh toán tiền gốc 85.000.000 đồng nhưng anh H không có khả năng để trả nợ. Đến khoảng 00 giờ 44 phút ngày 01/11/2023, gia đình anh Vũ Việt H bị đối tượng lạ mặt ném chất bẩn, chất thải vào nhà nên sáng ngày 01/11/2023, anh H đã đến Cơ quan Công an trình báo sự việc.
Đối với các khoản vay của anh H 30.000.000 đồng vào ngày 25/02/2022 và khoản 15.000.000 đồng vào ngày 06/3/2022. Tính từ thời điểm ngày 25/02/2022 đến ngày 20/10/2023 là 603 ngày. Tổng số tiền lãi anh H đã trả bao gồm: 77.790.000 đồng (đã trả) + 40.000.000 đồng (lãi cộng dồn) + 29.150.000 đồng (chốt kỳ cuối) = 146.940.000 đồng. Tính số tiền được hưởng lãi theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự lãi suất cao nhất là 20%/năm thì được hưởng 14.868.493 đồng. Số tiền lãi C thu lời bất chính được từ khoản vay của anh H là 132.071.507 đồng.
Đối với các khoản vay của anh H tính từ ngày 16/05/2023 đến 08/10/2023 là 65.000.000 đồng tương ứng với thời hạn vay là 146 ngày, Nguyễn Văn T3 thu được 22.600.000 đồng (thu lãi qua tài khoản) + 2.700.000 đồng (lãi trả trực tiếp) + 20.000.000 đồng (lãi cồng dồn) = 45.300.000 đồng. Tính số tiền được hưởng lãi theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự lãi suất cao nhất là 20%/năm thì được hưởng 5.200.000 đồng. Số tiền lãi T3 phải chịu trách nhiệm từ khoản vay của anh H là 40.100.000 đồng.
Ngoài ra, C còn cho anh Ngô Văn H1 vay số tiền 10.000.000 đồng, lãi suất 5.000đ/1 triệu/ngày, 10 ngày/1 lần tương ứng với số tiền 500.000 đồng. Từ ngày 13/02/2023 đến ngày 24/12/2023 (314 ngày), anh H1 trả lãi cho C vào tài khoản của C 6 lần: (1) ngày 13/02/2023, C nhận 500.000 đồng; (2) ngày 22/02/2023, nhận 1.000.000 đồng; (3) ngày 16/03/2023, nhận 1.000.000 đồng; (4) ngày 30/3/2023, nhận 500.000đ; (5) ngày 10/4/2023, nhận 500.000 đồng; (6) ngày 14/4/2023, nhận 500.000 đồng. Tổng cộng số tiền anh H1 trả lãi cho C được 4.000.000 đồng. Sau đó, anh H1 thông qua tài khoản Ngân hàng của T3 trả tiền lãi cho C được 18 lần: (1) ngày 01/6/2023, T3 nhận 1.000.000 đồng; (2) ngày 27/6/2023, nhận 500.000 đồng; (3) ngày 11/7/2023, nhận 500.000 đồng; (4) ngày 14/7/2023, nhận 500.000 đồng; (5) ngày 26/7/2023, nhận 500.000 đồng; (6) ngày 20/8/2023, nhận 500.000 đồng; (7) ngày 27/8/2023, nhận 500.000 đồng; (8) ngày 19/9/2023, nhận 500.000 đồng; (9) ngày 25/9/2023, nhận 1.000.000 đồng; (10) ngày 09/10/2023, nhận 600.000 đồng; (11) ngày 30/10/2023, nhận 500.000 đồng; (12) ngày 17/11/2023, nhận 450.000 đồng; (13) ngày 20/11/2023, nhận 500.000 đồng; (14) ngày 27/11/2023, nhận 500.000 đồng; (15) ngày 01/12/2023, nhận 500.000 đồng; (16) ngày 09/12/2023, nhận 500.000 đồng; (17) ngày 21/12/2023, nhận 500.000 đồng; (18) ngày 24/12/2023, nhận 400.000 đồng. Ngoài ra anh H1 đưa 2 lần tiền mặt cho T3 mỗi lần 500.000đ. Tổng số tiền anh H1 trả lãi qua T3 là 10.950.000 đồng. Tổng cộng số tiền lãi anh H1 đã trả cho C và T3 14.950.000 đồng. Số tiền lãi được hưởng theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự lãi suất cao nhất là 20%/năm, được hưởng 1.720.547 đồng. Số tiền thu lời bất chính của C và T3 nhận được từ khoản vay của anh H1 là 13.229.453 đồng. Trong đó: số tiền Chiến phải chịu trách nhiệm là 13.229.453 đồng; số tiền T3 phải chịu trách nhiệm là 9.229.453 đồng;
Quá trình khai thác đấu tranh mở rộng vụ án, Cơ quan CSĐT - Công an huyện M đã tiến hành điều tra, làm rõ đối với các khoản tiền Nguyễn Đình C1 có nhận được từ tài khoản của các anh Lưu Văn L, Bùi Văn T4, Ngô Mạnh H2, Trần Văn T5, Vũ Trọng N và Ngô Quốc H3 qua xác minh xác định không có liên quan đến hành vi cho vay lãi nặng nên không có căn cứ xem xét để xử lý theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung vụ án đã được tóm tắt trên. Các bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Vũ Việt H trình bày tại BL 263-277: Anh H xác nhận nội dung vụ việc như tóm tắt trên. Sau khi vay tiền anh đã trả lãi được cho C1 số tiền 77.790.000đ, số tiền gốc anh chưa trả được cho C1. Đối với số tiền anh đã trả lãi cho C1 nếu sau khi đối trừ các nghĩa vụ mà còn thừa lại tiền thì anh đề nghị C1 phải có trách nhiệm trả lại cho anh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Ngô Văn H1 trình bày tại BL 357-365: Anh H1 xác nhận nội dung vụ việc như tóm tắt trên. Sau khi vay tiền anh đã trả lãi được cho C1 số tiền 14.950.000đ, số tiền gốc anh chưa trả được cho C1. Đối với số tiền anh đã trả lãi cho C1 nếu sau khi đối trừ các nghĩa vụ mà còn thừa lại tiền thì anh đề nghị C1 phải có trách nhiệm trả lại cho anh.
Bản cáo trạng số 75/CT-VKS ngày 30/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh truy tố bị cáo Nguyễn Quyết C, về tội “ Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 2 Điều 201 Bộ luật hình sự. Truy tố bị cáo Nguyễn Văn T3 về tội “ Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại phiên tòa các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo về tội “ Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 2 Điều 201 đối với C; khoản 1 Điều 201 đối với Tần; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 đối với Tần và Điều 65 Bộ luật hình sự đối với C.
Xử phạt: Nguyễn Quyết C mức án từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi.
Xử phạt: Nguyễn Văn T3 mức án 03 năm cải tạo không giam giữ, bị cáo được trừ thời gian tạm giữ.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Buộc bị cáo C phải có trách nhiệm trả lại cho anh H số tiền 17.903.507đ và trả lại cho anh H1 số tiền 3.229.453đ.
Truy thu của bị cáo C số tiền 71.589.040đ để sung quỹ Nhà nước.
Truy thu của bị cáo Tần số tiền 3.000.000đ để sung quỹ Nhà nước.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo:
Trong khoảng thời gian từ 25/02/2022 đến ngày 06/3/2022, Nguyễn Quyết C đã có hành vi cho anh Vũ Việt H vay hai lần với số tiền 45.000.000 đồng và cho anh Ngô Văn H1 vay 10.000.000 đồng vào ngày 13/02/2023, với lãi suất 5.000 đồng/ 1 triệu/ 01 ngày (182,5%/năm), vượt quá 9,125 lần so với mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự, với tổng số tiền lãi Nguyễn Quyết C và Nguyễn Văn T3 thu lời bất chính là: 145.300.960 đồng. Trong đó: C phải chịu trách nhiệm với số tiền 145.300.960 đồng; Tần phải chịu trách nhiệm với số tiền 49.329.453 đồng. Hành vi của các bị cáo đã cấu thành tội “ Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy định tại Điều 201 Bộ luật hình sự. Do số tiền bị cáo C thu lời bất chính là 145.300.960đ nên hành vi của bị cáo bị xét xử theo khoản 2 Điều 201 Bộ luật hình sự. Còn bị cáo Tần số tiền thu lời bất chính là 49.329.453đ nên hành vi của bị cáo bị xét xử theo khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh truy tố bị cáo Nguyễn Quyết C, về tội “ Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 2 Điều 201 Bộ luật hình sự. Truy tố bị cáo Nguyễn Văn T3 về tội “ Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước về tín dụng cụ thể là trật tự trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, xâm phạm đến lợi ích công dân. Do đó, việc đưa các bị cáo ra truy tố, xét xử trước pháp luật là cần thiết nhằm răn đe, giáo dục các bị cáo đồng thời góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét đến nhân thân của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ mà Bộ luật hình sự đã quy định.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra các bị cáo đã tự nguyện ra đầu thú khai báo hành vi phạm tội của mình nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về vai trò của các bị cáo: Trong vụ án này bị cáo C là người trực tiếp cho vay tiền, chỉ đạo T3 đi thu tiền lãi nên bị cáo C giữ vai trò đầu vụ. Bị cáo T3 là đồng phạm giúp sức tích cực.
Căn cứ vào tính chất vụ án nhận thấy các bị cáo biết hành vi cho vay nặng lãi của mình là trái pháp luật nhưng vì vụ lợi vẫn cố tình thực hiện nhằm thu lợi bất chính. Tuy nhiên xét nhân thân của các bị cáo đều chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, loại tội các bị cáo vi phạm thuộc loại tội ít nghiêm trọng, số tiền các bị cáo thu lời không lớn nên thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, cho các bị cáo cải tạo tại địa phương cũng có đủ tác dụng giáo dục cải tạo các bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.
Đối với bị cáo T3 tham gia trong vụ án với vai trò đồng phạm giúp sức nên cho bị cáo được hưởng hình phạt cải tạo không giam giữ. Do bị cáo có thời gian tạm giữ từ ngày 28/12/2023 đến ngày 06/01/2024 là 10 ngày nên khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử sẽ trừ thời gian tạm giữ này vào thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ của bị cáo. Ngoài ra hoàn cảnh gia đình bị cáo làm nông nghiệp, thu nhập thấp nên Hội đồng xét xử không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
[3]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 201 Bộ luật hình sự quy định “ Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000đ đến 100.000.000đ”. Xét các bị cáo không có công việc ổn định, thu nhập thấp, số tiền thu lời không lớn nên Hội đồng xét xử miễn không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Tuy nhiên cần buộc bị cáo C phải nộp lại số tiền thực tế bị cáo dùng để cho anh H, anh H1 vay cũng như số tiền lãi bị cáo thu được từ việc thực hiện hành vi phạm tội. Cụ thể: -Đối với khoản cho anh H vay: Số tiền bị cáo phải nộp sung quỹ Nhà nước là: 45.000.000đ (tiền gốc cho anh H vay) + 14.868.493đ (tiền lãi anh H phải trả theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự) = 59.868.493đ.
-Đối với khoản cho anh H1 vay: Số tiền bị cáo phải nộp sung quỹ Nhà nước là: 10.000.000đ (tiền gốc anh H1 vay) + 1.720.000đ (tiền lãi anh H1 phải trả theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự) = 11.720.547đ.
Như vậy, tổng số tiền Chiến bị truy thu sung quỹ Nhà nước là 71.589.040đ.
[4]. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Quá trình điều tra các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều xác nhận: Anh H vay của C số tiền 45.000.000đ, đã trả lãi cho C số tiền 77.790.000đ, chưa trả gốc. Anh H1 vay của C số tiền 10.000.000đ, đã trả lãi cho C số tiền 14.950.000đ, chưa trả gốc. Do khoản vay của anh H, anh H1 đều là khoản vay không có kỳ hạn nhưng có lãi suất. Cụ thể:
-Đối với khoản vay của anh H: Số tiền lãi anh H phải trả cho C theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 14.868.493đ + với số tiền gốc anh H vay là 45.000.000đ. Tổng cả gốc và lãi anh H phải trả cho C là 59.886.493đ. Đối trừ với số tiền lãi thực tế anh H đã trả cho C là 77.790.000đ thì C còn phải trả lại anh H số tiền 17.903.507đ.
-Đối với khoản vay của anh H1: Số tiền lãi anh H1 phải trả cho C theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 1.720.547đ + số tiền gốc anh H1 vay là 10.000.000đ. Tổng số tiền cả gốc và lãi anh H1 phải trả cho C là 11.720.547đ. Đối trừ với số tiền lãi thực tế anh H1 đã trả cho C là 14.950.000đ thì C còn phải trả lại anh H1 số tiền 3.229.453đ.
Đối với T3 chỉ là đồng phạm giúp sức cho C đi thu tiền lãi của anh H, anh H1. Sau khi thu được tiền T3 về đưa lại hết cho C nên C là người phải có trách nhiệm bồi thường dân sự cho anh H, anh H1. Tuy nhiên mỗi lần đi thu tiền lãi về cho C, T3 được C trả công từ 100.000đ đến 200.000đ. Tại phiên tòa, T3 xác định số tiền được C trả công là 3.000.000đ, số tiền này T3 đã ăn tiêu hết. Do vậy, số tiền 3.000.000đ được xác định là tiền do phạm tội mà có nên cần phải truy thu của T3 để nộp sung quỹ Nhà nước.
[5]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 201; điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Quyết C 09 (chín) tháng tù, về tội “ Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án.
Giao Nguyễn Quyết C cho UBND xã T, huyện M, thành phố Hà Nội giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Căn cứ khoản 1 Điều 201; điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Văn T3 15 (mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ, bị cáo được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 28/12/2023 đến ngày 06/01/2024 là 10 ngày x 3 = 30 ngày, còn phải chấp hành 14 (mười bốn) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao Nguyễn Văn T3 cho UBND xã T, huyện M, thành phố Hà Nội giám sát và giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.
Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 589 Bộ luật dân sự.
Buộc Nguyễn Quyết C phải có trách nhiệm trả lại cho anh Vũ Việt H số tiền 17.921.507đ và trả lại cho anh Ngô Văn H1 số tiền 3.229.453đ.
Truy thu của bị cáo C số tiền 71.589.040đ sung quỹ Nhà nước.
Truy thu của bị cáo Tần số tiền 3.000.000đ sung quỹ Nhà nước.
Căn cứ Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo C phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 1.057.000đ án phí dân sự sơ thẩm cho Nhà nước.
Bị cáo T3 phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm cho Nhà nước.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu một khoản tiền lãi theo quy định của Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hánh án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm các bị cáo được quyền kháng cáo. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hằng |
Bản án số 78/2024/HS-ST ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH-TP.HÀ NỘI về hình sự: cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 78/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH-TP.HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Quyết Chiến cho vay lãi với lãi suất vượt quá 5 lần lãi suất quy định của Ngân hàng
