|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN TỈNH VĨNH PHÚC |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 78/2024/HS-ST
Ngày 18 - 6 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Trang Nhung
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Văn Dũng.
Bà Nguyễn Thị Thúy Nga.
Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Tố Uyên – Thư ký Toà án nhân dân thành
phố Vĩnh Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên tham gia phiên
toà: Bà Nguyễn Thu Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 68/2024/TLST- HS ngày 20 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2024/QĐXXST - HS ngày 06 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Tiến Th, sinh ngày 12/5/2000; tại xã Đ, huyện LT, tỉnh VP; nơi cư trú: xã Đ, huyện LT, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; văn hóa 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Văn T1 và bà Đặng Thị H1; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Tại Bản án hình sự số: 20/2024/HSST ngày 27/3/2024 của Tòa án nhân dân quận huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc đã xử phạt Trần Tiến Th 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, Thành phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm, Thành đã chấp hành xong án phạt tù ngày 17/5/2024.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện đang tại ngoại tại, (có mặt).
- Bị hại: Anh Tạ Đình T, sinh năm 1999, (có mặt)
Địa chỉ: Tổ dân phố X, thị trấn H, huyện LT, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- + Anh Vũ Văn H, sinh năm 1993, (vắng mặt).
- Địa chỉ: thị trấn T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc.
- + Bà Đặng Thị H2, sinh năm 1977, (có mặt).
- Địa chỉ: Thôn B, xã Đ, huyện LT, tỉnh Vĩnh Phúc.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ ngày 12/10/2022, Trần Tiến Th, sinh năm 2000, trú tại: xã Đ, huyện LT, tỉnh Vĩnh Phúc cùng bạn là anh Trần Văn Ng, trú tại: xã L, huyện LT, tỉnh Vĩnh Phúc đi uống nước tại quán Tùng Ân có địa chỉ ở thị trấn H, huyện LT, tỉnh Vĩnh Phúc. Tại đây, anh Ng rủ thêm bạn là anh Tạ Đình T, trú tại: thị trấn H, huyện LT, tỉnh Vĩnh Phúc cùng đến uống nước thì anh T đồng ý. Khoảng 15 phút sau, anh T một mình điều khiển xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu đen, BKS 88D1-460.41 đến quán nước. Thành cùng với anh Ng và anh T uống nước đến khoảng 18 giờ cùng ngày thì anh Ng rủ anh T và Thành xuống thành phố Vĩnh Yên để uống rượu cùng với một số người bạn của anh Ng. Th và anh T đồng ý, sau đó anh Ng điều khiển xe máy chở Th ngồi phía sau còn anh T một mình điều khiển xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter BKS 88D1-460.41 cùng nhau đến quán bia L thuộc tổ dân phố Đ, phường Đồng T, thành phố V. Khi đến nơi, bạn của anh Ng không có mặt nên chỉ có anh Ng, anh T và Th ngồi uống rượu.
Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, Th nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản là chiếc xe máy của anh T để mang đi cầm cố lấy tiền tiêu xài cá nhân. Th đưa ra thông tin gian dối hỏi mượn xe máy của anh T để đi rút tiền trả tiền uống rượu, anh T đồng ý và giao xe máy BKS 88D1-460.41 cho Th mượn. Tuy nhiên, khi nhận được xe, Th không đi rút tiền mà điều khiển xe đi theo đường Lý Thường Kiệt rồi rẽ theo hướng Quốc lộ 2A đi về huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc. Do trước đây Th đã cầm cố xe máy của mình một lần cho anh Vũ Văn H, sinh năm 1993, trú tại: thị trấn TT, huyện VT nên Th điều khiển xe đến nhà anh H đặt vấn đề cầm cố xe. Khi anh H hỏi về nguồn gốc chiếc xe trên, Th trả lời chiếc xe Yamaha Exciter BKS 88D1-460.41 là của Thành, giấy tờ xe hiện do bố mẹ Th giữ ở nhà. Do đã nhận cầm cố của Th một lần nên anh H tin tưởng, đồng ý nhận cầm cố xe cho Th và yêu cầu Th bổ sung giấy tờ xe. Quá trình thỏa thuận, hai bên thống nhất số tiền cầm cố là 10.000.000 đồng, thời gian cầm cố là 10 ngày. Anh H yêu cầu Th viết 01 Giấy bán xe để đảm bảo khi quá thời hạn cầm cố mà Th không đến chuộc xe, anh H có quyền định đoạt tài sản. Th đồng ý viết Giấy bán xe và nhận số tiền 10.000.000 đồng rồi bắt taxi về nhà. Số tiền này Th đã một mình tiêu xài cá nhân hết. Khi thấy Th mượn xe không trả, anh Ng và anh T nhiều lần gọi điện thoại yêu cầu Th trả lại xe nhưng không liên lạc được.
Ngày 15/10/2022, anh Tạ Đình T làm đơn trình báo sự việc đến Công an phường Đồng Tâm, thành phố Vĩnh Yên về việc bị lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Sau đó, Công an phường Đồng Tâm đã chuyển toàn bộ hồ sơ vụ việc đến Công an thành phố Vĩnh Yên để giải quyết theo thẩm quyền.
Ngày 03/11/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thành phố Vĩnh Yên đã ra Yêu cầu định giá tài sản số: 166/YC-CSHS yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân thành phố Vĩnh Yên định giá đối với một chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter mang BKS 88D1-460.41 đã cũ, đã qua sử dụng (định giá qua hồ sơ). Ngày 08/11/2022, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân thành phố Vĩnh Yên ra Bản kết luận định giá số: 148/KL-HĐĐG định giá đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter mang BKS 88D1-460.41 đã cũ, đã qua sử dụng có trị giá là 27.000.000đ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Vĩnh Yên đã thông báo Kết luận định giá trên cho Trần Tiến Th và bị hại là anh Tạ Đình T biết, Th và anh T không có ý kiến thắc mắc hay khiếu nại gì.
Tại Cáo trạng số: 80/ CT-VKSNDTPVY-VP ngày 20 tháng 5 năm 2024, Viện kiểm sát nhân thành phố Vĩnh Yên truy tố bị cáo Trần Tiến Th về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Th về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, sau khi đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo Trần Tiến Th từ 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
- - Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; Khoản 1 Điều 584, khoản 1 Điều 585, Điều 589 của Bộ luật dân sự. Xác nhận bị cáo Trần Tiến Th đã bồi thường cho bị hại anh Tạ Đình T số tiền 20.000.000 đồng.
- - Về án phí sơ thẩm: Đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Phần tranh luận: Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến bổ sung gì khác và không có ý kiến tham gia tranh luận.
Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án: Bị cáo biết việc làm của mình là sai, là vi phạm pháp luật. Bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để bị cáo được sớm trở về với gia đình, trở thành người công dân có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Vĩnh Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét thấy, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Trần Tiến Th đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình: Khoảng 20 giờ 00 ngày 12/10/2022, tại quán bia Loan Hoàng ở tổ dân phố Đ, phường Đồng T, thành phố V, bị cáo Trần Tiến Th bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt của anh Tạ Đình T một chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter BKS 88D1-460.41, xe cũ, đã qua sử dụng. Trị giá tài sản chiếm đoạt theo Kết luận định giá là 27.000.000 đồng (Hai mươi bảy triệu đồng).
[3] Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án; lời khai của bị hại; lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan tại cơ quan điều tra. Phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác thể hiện trong hồ sơ vụ án và phù hợp với nội dung Cáo trạng đã được đại diện Viện kiểm sát công bố tại phiên tòa, từ đó có đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần Tiến Th đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự.
Nội dung điều luật quy định:
“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc truy tố bị cáo theo Cáo trạng số: 80/CT - VKSTPVY ngày 25 tháng 4 năm 2023 là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Xét về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản của người khác được Nhà nước và pháp luật bảo vệ. Bị cáo Trần Tiến Th là người có đầy đủ năng lực, trách nhiệm hình sự, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi do mình gây ra. Về mặt ý thức chủ quan, bị cáo biết rõ hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác nhằm vụ lợi cá nhân. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm bằng các chế tài của pháp luật hình sự mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
[5] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng:
- - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.
- - Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân xấu, vào năm 2023 bị Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử bị cáo 06 (Sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự, án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng. Ngày 15/5/2024 Th chấp hành xong hình phạt tù của bản án trên. Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo; tự nguyện tác động đến gia đình khắc phục hậu quả do mình gây ra; bị cáo đã từng tham gia nghĩa vụ quân sự và người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Do vậy, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử sẽ xem cho bị cáo và buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại trại giam như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát mới có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.
[6] Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra và tại phiên tòa đã làm rõ bị cáo Trần Tiến Th không có nghề nghiệp, không có tài sản riêng nên không có khả năng thi hành án khoản phạt tiền. Do vậy không cần áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo quy định tại khoản 5 Điều 174 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017.
[7] Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:
- - Về xử lý vật chứng: Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter mang BKS 88D1-460.41 mà Trần Tiến Th đem đi cầm cố cho anh Vũ Văn H. Quá trình điều tra xác định, khi mang chiếc xe máy trên đến cửa hàng và cầm cố cho anh H, Th nói với anh H đây là xe máy của Thành. Anh H tin tưởng nên nhận cầm cố chiếc xe máy mà không biết tài sản trên do Th vi phạm pháp luật mà có nên cơ quan cảnh sát điều tra – Công an thành phố Vĩnh Yên không đề cập xử lý. Do quá thời gian thỏa thuận nhưng vẫn không thấy Th đến chuộc xe nên anh H đã bán chiếc xe trên cho một người tên là Nam ở phường Định Trung, thành phố Vĩnh Yên trên mạng xã hội Facebook (anh H không rõ họ, tên đầy đủ và địa chỉ của người này) với giá 10.000.000 đồng. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy tìm vật nhưng chưa thu giữ được chiếc xe này, cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
- - Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra vụ án, bà Đặng Thị H2 là mẹ của Trần Tiến Th do tác động của Th đã thay Th bồi thường cho anh Tạ Đình T số tiền 20.000.000 đồng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bà H2 không yêu cầu Th phải trả lại cho bà số tiền trên nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Quá trình điều tra và tại phiên tòa anh T thừa nhận đã nhận đủ số tiền trên và không có yêu cầu đề nghị gì khác về dân sự đồng thời có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Thành. Tại phiên tòa bị cáo Trần Tiến Th và bị hại anh Tạ Đình T đề nghị Hội đồng xét xử xác nhận bị cáo Th đã bồi thường cho bị hại số tiền 20.000.000 đồng. Xét đề nghị trên của bị cáo và bị hại là hợp pháp nên cần được chấp nhận.
[8] Về án phí sơ thẩm: Buộc bị cáo Trần Tiến Th phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Tiến Th phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Trần Tiến Th 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; Khoản 1 Điều 584, khoản 1 Điều 585, Điều 589 của Bộ luật dân sự. Xác nhận bị cáo Trần Tiến Th đã bồi thường cho bị hại anh Tạ Đình T số tiền 20.000.000 đồng. (theo giấy đề nghị ngày 10/12/2023).
3. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí: Buộc bị cáo Trần Tiến Th phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Trang Nhung |
Bản án số 78/2024/HS-ST ngày 18/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 78/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoảng 17 giờ ngày 12/10/2022, Trần Tiến Th, sinh năm 2000, trú tại: xã Đ, huyện LT, tỉnh Vĩnh Phúc cùng bạn là anh Trần Văn Ng, trú tại: xã L, huyện LT, tỉnh Vĩnh Phúc đi uống nước tại quán Tùng Ân có địa chỉ ở thị trấn H, huyện LT, tỉnh Vĩnh Phúc. Tại đây, anh Ng rủ thêm bạn là anh Tạ Đình T, trú tại: thị trấn H, huyện LT, tỉnh Vĩnh Phúc cùng đến uống nước thì anh T đồng ý. Khoảng 15 phút sau, anh T một mình điều khiển xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu đen, BKS 88D1-460.41 đến quán nước. Thành cùng với anh Ng và anh T uống nước đến khoảng 18 giờ cùng ngày thì anh Ng rủ anh T và Thành xuống thành phố Vĩnh Yên để uống rượu cùng với một số người bạn của anh Ng. Th và anh T đồng ý, sau đó anh Ng điều khiển xe máy chở Th ngồi phía sau còn anh T một mình điều khiển xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu đen, BKS 88D1-460.41 cùng nhau đến quán bia L thuộc tổ dân phố Đ, phường Đồng T, thành phố V. Khi đến nơi, bạn của anh Ng không có mặt nên chỉ có anh Ng, anh T và Th ngồi uống rượu. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, Th nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản là chiếc xe máy của anh T để mang đi cầm cố lấy tiền tiêu xài cá nhân
