Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 78/2023/HS-ST

Ngày: 17/11/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Liên.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đặng Thị Nữa.

Bà Phan Thị Mai Khanh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Đức - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Lê Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 11 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 101/2023/TLST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 125/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:

Trần Thanh T (tên thường gọi là G); Sinh ngày: 05/4/1993; Tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: 252 đường PHC, Phường L, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: Không nơi cư trú ổn định; Nghề nghiệp: Giữ xe; Trình độ văn hóa: 1/12 (bị cáo khai biết đọc, biết viết); Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Văn H và bà: Lâm Bạch T1; Có vợ: Là bà Nguyễn Thị H1 (không đăng ký kết hôn) và con: Có 02 người con, lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2023; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị bắt, tạm giữ từ ngày 08/5/2023.

Nhân thân:

  • - Ngày 28/6/2011, bị Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, Thành phố Cần Thơ xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội «Cướp giật tài sản» (Bản án số: 108/2011/HSST). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/02/2014 (Giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù số: 123/GCN của Trại giam Phước Hòa). Chưa thi hành xong phần án phí, phần bồi thường (Công văn trả lời xác minh số: 459/CCTHADS ngày 29/8/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, Thành phố Cần Thơ).
  • - Ngày 23/01/2015, bị Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở Cai nghiện bắt buộc 24 tháng về hành vi sử dụng chất ma túy (Quyết định số: 16/2015/QĐ-TA). Chấp hành xong ngày 23/12/2016 (Giấy chứng nhận số: 96/GCN-TTCNMTBL ngày 26/11/2016 của Trung tâm cai nghiện ma túy Bố Lá).
  • - Ngày 28/9/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận xử phạt 02 năm tù về tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy» (Bản án số: 78/2017/HSST). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/11/2018 và đã thi hành xong án phí vào tháng 02/2018 (Giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù số: 840/GCN của Trại giam Sông Cái và Công văn trả lời xác minh số: 545/CCTHADS ngày 23/8/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận).

(bị cáo có mặt tại phiên tòa)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Ông Nguyễn Quyết T2; Sinh năm: 1969; Trú tại: Ấp 3A, xã LT, huyện LN, tỉnh Bình Phước.

(vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 08/5/2023, tổ công tác 363 - Số 4 thuộc Công an Quận 6 trên đường tuần tra phát hiện Trần Thanh T điều khiển xe gắn máy biển số 93F1-354.79 chạy đến trước nhà số 284 đường BH, Phường M, Quận F có biểu hiện nghi vấn, nên yêu cầu dừng xe kiểm tra. Thấy Công an, T ném 01 gói nylon chứa tinh thể không màu đang cầm trên tay phải xuống đường, nhưng bị tổ công tác phát hiện thu giữ. Sau đó, tổ công tác đã giao T cùng vật chứng nêu trên cho Cơ quan điều tra Công an Quận 6 giải quyết.

Tại Cơ quan điều tra, Trần Thanh T khai: Khoảng 14 giờ 20 phút ngày 08/5/2023, T điều khiển xe gắn máy biển số 93F1-354.79 từ chỗ làm (địa chỉ 33 đường PHC, Phường L, Quận E) đến khu vực Công viên PL, đường ADV, Phường M, Quận F gặp một người thanh niên tên Vũ (không rõ lai lịch) mua 01 gói ma túy đá giá 300.000 đồng để sử dụng. Sau khi nhận gói ma túy, T cầm trên tay phải rồi điều khiển xe chạy về đến trước nhà số 284 đường BH thì bị Công an yêu cầu dừng xe kiểm tra. Do sợ bị bắt nên T đã ném gói ma túy xuống đất, nhưng vẫn bị Công an phát hiện thu giữ như nêu trên.

Theo kết quả xét nghiệm chất ma túy ngày 08 tháng 5 năm 2023 của Trạm y tế Phường M, Quận F, Trần Thanh T dương tính với Methamphetamine.

Tại Kết luận giám định số: 4824/KL-KTHS ngày 16 tháng 5 năm 2023, Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã kết luận: Tinh thể không màu trong 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có các chữ ký ghi tên Trần Thanh T, Nguyễn Văn Th (người chứng kiến) và hình dấu Công an Phường M, Quận F (ký hiệu m) cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,2739g (một phẩy hai bảy ba chín gam), loại Methamphetamine.

Ngày 10 tháng 5 năm 2023, Cơ quan điều tra Công an Quận 6 ra quyết định khởi tố vụ án hình sự (Quyết định số: 66/QĐ-ĐCSMT); khởi tố bị can đối với Trần Thanh T về tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy» (Quyết định số: 64/QĐ-ĐCSMT).

Đối với người thanh niên tên Vũ bán ma túy cho Trần Thanh T ở khu vực Công viên PL, đường ADV, Phường M, Quận F, Cơ quan điều tra không xác định được lai lịch.

Tại Cáo trạng số: 79/CT-VKS-Q6 ngày 18 tháng 10 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Trần Thanh T về tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy» theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa: Bị cáo Trần Thanh T khai gói nylon, bên trong có chứa tinh thể không màu mà Công an thu giữ dưới đất (trước nhà số 284 đường BH, Phường M, Quận F) vào lúc 15 giờ ngày 08/5/2023 là ma túy đá do chính bị cáo mua từ một người thanh niên tên Vũ (không rõ lai lịch) ở khu vực Công viên PL, đường ADV, Phường M, Quận F lúc 14 giờ 20 phút cùng ngày để sử dụng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trần Thanh T như bản cáo trạng và sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Phạt bị cáo Trần Thanh T từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù về tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy» theo điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Không phạt tiền đối với bị cáo, do bị cáo không có khả năng thi hành.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 01 gói ma túy bên ngoài có ghi vụ số: 1066/23, có chữ ký niêm phong lại của Giám định viên Nguyễn Văn Út L và Điều tra viên Bùi Thành Phương. Bên trong chứa tinh thể không màu có khối lượng 1,1659 gam (mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định).

Trả lại bị cáo Trần Thanh T 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S21 FE 5G, số seri: R5CT214501T (bên trong có 01 sim điện thoại số 0399.188.xxx).

Giao 01 chiếc xe gắn máy biển số 93F1-354.79, số máy: KC26E-1142168, số khung: RLHKC2601GY106701 (loại xe hai bánh từ 50-175cm³, nhãn hiệu Honda, số loại Winner, sơn màu Đỏ Đen, dung tích 149,1) cho Công an Quận 6 giữ để điều tra, làm rõ và xử lý theo quy định của pháp luật, do xét thấy có liên quan đến vụ án trộm cắp tài sản xảy ra tại khu vực Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

Lời nói sau cùng, bị cáo Trần Thanh T nhận thức được hành vi của bị cáo là sai, là vi phạm pháp luật nên không tranh luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử phạt bị cáo mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình, có cơ hội làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 6, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; người làm chứng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Đối chiếu lời khai của bị cáo Trần Thanh T tại phiên tòa với Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu; Kết luận giám định số: 4824/KL-KTHS ngày 16/5/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh; lời khai của người làm chứng tại Cơ quan điều tra cùng những tài liệu, chứng cứ, lời khai khác có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần Thanh T đã phạm tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy». Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật hình sự năm 2015).

Bị cáo Trần Thanh T đã cất giữ chất ma túy ở thể rắn và thời điểm bắt quả tang vào lúc 15 giờ ngày 08/5/2023 tại trước nhà số 284 đường BH, Phường M, Quận F đã thu giữ của bị cáo 01 gói nylon, bên trong có 1,2739 gam ma túy, loại Methamphetamine (bị cáo khai số ma túy này là của bị cáo mua và cất giữ để dành sử dụng, không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển hay sản xuất trái phép chất ma túy khác). Hành vi của bị cáo không những đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về chế độ độc quyền trong việc quản lý, trao đổi, cất giữ chất ma túy mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an xã hội. Hành vi này đủ yếu tố cấu thành tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy» thuộc trường hợp «Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam» theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 truy tố bị cáo với tội danh và điều luật nêu trên, là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

Bị cáo Trần Thanh T là người đã trưởng thành, bị cáo hoàn toàn nhận thức được tác hại của ma túy, nhận thức được hành vi cất giữ trái phép chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật, nhưng để thỏa mãn lối sống không lành mạnh và nhất là xem thường pháp luật, nên bị cáo đã cố tình thực hiện hành vi phạm tội nêu trên, do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình.

[3] Về nhân thân của bị cáo Trần Thanh T: Bị cáo có nhân thân rất xấu, đó là ngày 28/6/2011, bị Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, Thành phố Cần Thơ xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội «Cướp giật tài sản»; ngày 23/01/2015, bị Tòa án nhân dân Quận 11 quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở Cai nghiện bắt buộc 24 tháng về hành vi sử dụng chất ma túy; ngày 28/9/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận xử phạt 02 năm tù về tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy». Mặc dù bị cáo chưa thi hành xong phần án phí, phần bồi thường của bản án ngày 28/6/2011 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, Thành phố Cần Thơ, nhưng thời điểm thực hiện hành vi phạm tội của bản án này, bị cáo là người dưới 18 tuổi. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 107 của Bộ luật hình sự năm 2015, trường hợp này được coi là không có án tích, bởi từ khi bị cáo chấp hành xong hình phạt chính (ngày 09/02/2014) cho đến ngày bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mới của bản án ngày 28/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận (ngày 24/5/2017) đã hơn 01 năm, do đó Viện kiểm sát xác định bị cáo không có tiền án là có cơ sở. Tuy nhiên, điều này cũng cho thấy tuy đã được cải tạo, giáo dục, bị cáo vẫn không chịu rèn luyện, tu dưỡng mà ngược lại vẫn tiếp tục phạm tội do cố ý là thể hiện ý thức chấp hành pháp luật không tốt.

[4] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Trần Thanh T là nghiêm trọng. Mặt khác, ma túy nói chung và các chất ma túy ở thể rắn như Methamphetamine nói riêng là chất gây nghiện độc hại, việc sử dụng ma túy đã gây tác hại rất lớn và ảnh hưởng rất xấu đến sức khỏe, làm mất khả năng lao động, học tập của chính người sử dụng và đây cũng chính là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội và tội phạm khác, do đó Hội đồng xét xử thấy cần phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng, thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật, nhằm đảm bảo tính răn đe, giáo dục đối với bị cáo và để phòng ngừa chung, góp phần vào công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm trong tình hình hiện nay, nhất là các tội phạm về ma túy. Tuy nhiên, xét bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự đối với bị cáo khi lượng hình theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.

[5] Những nhận định trên cũng là căn cứ để chấp nhận quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, bị cáo Trần Thanh T còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thây bị cáo phạm tội không vụ lợi, là lao động tự do, không có thu nhập, điều kiện kinh tế khó khăn. Vì vậy Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Việc xử lý vật chứng:

[7.1] Đối với 01 gói ma túy bên ngoài có ghi vụ số: 1066/23, có chữ ký niêm phong lại của Giám định viên Nguyễn Văn Út L và Điều tra viên Bùi Thành Phương. Bên trong chứa tinh thể không màu có khối lượng 1,1659 gam (mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định), là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, nên Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[7.2] Đối với 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S21 FE 5G, số seri: R5CT214501T (bên trong có 01 sim điện thoại số 0399.188.xxx) thu giữ của bị cáo Trần Thanh T. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị trả lại cho bị cáo vì không đủ căn cứ xác định do bị cáo phạm tội mà có hay bị cáo đã hoặc sẽ dùng vào việc phạm tội. Xét đề nghị của Viện kiểm sát là có cơ sở, nên Hội đồng xét xử chấp nhận theo quy định tại khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[7.3] Đối với chiếc xe gắn máy biển số 93F1-354.79 thu giữ của bị cáo Trần Thanh T (bị cáo khai mua chiếc xe qua mạng xã hội vào khoảng tháng 4/2023 với giá 17.000.000 đồng và xe không có giấy tờ). Theo Kết luận giám định số: 3046/KL-KTHS ngày 30/5/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh (BL75) và Phiếu trả lời xác minh ngày 08/5/2023 của Công an Quận 6 (BL79), chiếc xe này có số khung: RLHKC2601GY106701, số máy: KC26E-1142168 (loại xe hai bánh từ 50-175cm³, nhãn hiệu Honda, số loại Winner, sơn màu Đỏ Đen, dung tích 149,1), đứng tên chủ xe là ông Nguyễn Quyết T2. Quá trình điều tra, ông T2 khai khoảng năm 2018, ông đi làm và có để chiếc xe tại khu vực Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị mất, nhưng ông không đến cơ quan công an trình báo. Xét thấy chiếc xe có liên quan đến vụ án trộm cắp tài sản xảy ra tại khu vực Quận G, nhưng Cơ quan điều tra Công an Quận 6 chưa thông báo đến Cơ quan điều tra Công an Quận G tiếp nhận vật chứng, xử lý theo quy định, nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát là giao chiếc xe lại cho Công an Quận 6 giữ để điều tra, làm rõ xử lý sau theo quy định của pháp luật.

(theo Phiếu nhập kho vật chứng số: 107/PNK ngày 27 tháng 9 năm 2023 của Công an Quận 6; Quyết định chuyển vật chứng số: 73/QĐ-VKS ngày 23 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 6; Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 14 tháng 11 năm 2023 giữa Công an Quận 6 và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 6)

[8] Đối với người thanh niên tên Vũ mà bị cáo Trần Thanh T khai bán ma túy cho bị cáo, do bị cáo khai không rõ nhân thân lai lịch, nên không có cơ sở điều tra làm rõ, do đó Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.

[9] Về án phí: Bị cáo Trần Thanh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  • - Xử phạt bị cáo Trần Thanh T (G) 03 (ba) năm tù về tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy». Thời hạn tù tính từ ngày 08/5/2023.
  • - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
  • Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) gói ma túy bên ngoài có ghi vụ số: 1066/23, có chữ ký niêm phong lại của Giám định viên Nguyễn Văn Út L và Điều tra viên Bùi Thành Phương. Bên trong chứa tinh thể không màu có khối lượng 1,1659 (một phẩy một sáu năm chín) gam.
  • - Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
  • Trả lại bị cáo Trần Thanh T 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S21 FE 5G, số seri: R5CT214501T, bên trong có 01 (một) sim điện thoại số 0399.188.xxx.
  • Giao 01 (một) chiếc xe gắn máy biển số 93F1-354.79, số máy: KC26E-1142168, số khung: RLHKC2601GY106701 (loại xe hai bánh từ 50-175cm³, nhãn hiệu Honda, số loại Winner, sơn màu Đỏ Đen, dung tích 149,1) cho Công an Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh giữ để điều tra, làm rõ và xử lý theo quy định của pháp luật, do xét thấy có liên quan đến vụ án trộm cắp tài sản xảy ra tại khu vực Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • (theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 14 tháng 11 năm 2023 giữa Công an Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh)
  • - Căn cứ khoản 2 Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
  • Bị cáo Trần Thanh T phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  • Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  • - Bị cáo Trần Thanh T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - VKSND Quận 6;
  • - Công an Quận 6;
  • - TAND Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Công an Tp. Hồ Chí Minh (Phòng PV06);
  • - Chi cục THADS Quận 6;
  • - Sở Tư pháp Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Bị cáo;
  • - Người có QLNVLQ đến vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thùy Liên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 78/2023/HS-ST ngày 17/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép chất ma túy (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 78/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Vụ án hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. - Xử phạt bị cáo Trần Thanh T (G) 03 (ba) năm tù về tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy». Thời hạn tù tính từ ngày 08/5/2023.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger