Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN XUÂN LỘC

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 78/2024/HS-ST

Ngày: 17 - 4 -2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Hồ Thị Sương

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Thanh Minh
  2. Bà Huỳnh Thị Mỹ Trang

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Lý - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 17/2024/TLST - HS ngày 12 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 01 năm 2024, Thông báo về việc dời thời gian mở phiên tòa số 02/2024/TB-TA ngày 25/01/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2024/HSST-QĐ ngày 26/02/2024; Thông báo về việc dời thời gian mở phiên tòa số 05/2024/TB-TA ngày 22/3/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Mai Văn S (Tên gọi khác: Tự T, Võ Văn T). Sinh năm 1962 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi thường trú: ấp T, xã T, huyện C, Tiền Giang. Nơi tạm trú: ấp V, xã X, huyện X, Đồng Nai. Nơi ở hiện tại: ấp S, xã S, huyện X, Đồng Nai. Giới tính: Nam. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo. Trình độ học vấn: 02/12; Nghề nghiệp: Bán vé số. Con ông Mai Văn N (tên gọi khác: Võ Văn N1 hay Võ Văn N2 – đã chết) và bà Nguyễn Thị T1 (tên gọi khác: Võ Thị T2, Võ Thị T3, Võ Thị T4 – đã chết). Vợ: bị cáo xác định 02 người vợ trước của bị cáo đã chết, hiện tại vợ của bị cáo là Nguyễn Thị C. Tiền sự: Không. Tiền án: 04 tiền án, cụ thể:

  • - Ngày 29/01/1997, bị Tòa án nhân dân Quận Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 12 tháng tù về tội “Lừa đảo nhiệm chiếm đoạt tài sản của công dân” tại bản ản số 44/HSST ngày 29/01/1997. Hiện chưa được xóa án tích.
  • - Ngày 13/12/1997, bị Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai xử phạt 18 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của công dân” tổng hợp với bản án 44/HSST ngày 29/01/1997 buộc S chấp hành là 30 tháng tù, tại bản ản số 101/HSST ngày 13/12/1997. Ngày 22/04/1999 chấp hành xong hình phạt tù. Hiện chưa được xóa án tích.
  • - Ngày 30/12/2008, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 08 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 780/2008/HSST. Ngày 22/9/2014 chấp hành xong hình phạt. Hiện chưa được xóa án tích.
  • - Ngày 14/11/2018, bị Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” theo Bản án số 423/2018/HSST. Ngày 01/02/2022 chấp hành xong hình phạt. Hiện chưa được xóa án tích.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/11/2023 cho đến nay.

(bị cáo có mặt tại phiên tòa)

- Bị hại: Bà Nguyễn Thị Ngọc D, sinh năm 1983. (Vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp V, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 01/11/2023, bị cáo Mai Văn S điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen, biển số 59E1-517.92 đi bán vé số dạo trên Quốc lộ A từ xã X, huyện X đến khu vực Ngã Ba T, thành phố L và đi về ngược lại về xã S, huyện X. Đến khoảng 14 giờ 30 cùng ngày, S điều khiển xe mô tô trên đi bán vé số đến Cửa hàng thuốc thú y Cương T, thuộc ấp S, xã S thì S dựng xe mô tô bên lề đường và đi bộ vào Cửa hàng thuốc thú y Cương T để mời khách mua vé số. Khi vào khu vực trước Cửa hàng thuốc thú y Cương T, S quan sát thấy 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A23, màu xanh – đen của chị Nguyễn Thị Ngọc D, sinh năm 1983, thường trú ấp V, xã X, huyện X đang để trong hộc đựng đồ bên trái, phía trước xe mô tô của chị D. Lúc này, S nảy sinh ý định trộm cắp điện thoại di động nêu trên của chị D để bán lấy tiền tiêu xài. Để thực hiện ý định, S quan sát xung quanh thấy mọi người đang tập trung làm việc, mua, bán thuốc thú y, còn chị D thì đang trong quầy mua thuốc không để ý trông coi điện thoại di động đang để ngoài xe, S lén lút tiếp cận xe mô tô rồi dùng tay nhanh chóng lấy trộm điện thoại di động của chị D bỏ vào túi quần của S. Ngay sau khi trộm cắp được điện thoại di động, S nhanh chóng đi ra vị trí lấy xe môtô đem điện thoại vừa trộm cắp được để tìm chỗ tiêu thụ. Khi đến ngã ba chốt đèn (ngã ba Ông Đ) thuộc ấp T, xã X, S dừng xe bên lề đường rồi lấy điện thoại vừa trộm cắp được tháo sim vứt bỏ và tiếp tục đi đến cửa hàng Đ1 tại khu phố F, thị trấn G, huyện X, tỉnh Đồng Nai, để thỏa thuận bán cho anh Vy Văn T5, sinh năm 1994, thường trú ấp B, xã X, huyện X (là chủ tiệm điện thoại), nhưng do điện thoại bị khóa nên anh T5 không mua mà nói với S phải mở khóa mới biết điện thoại đời, năm nào thì mới mua lại nên S để điện thoại lại cho anh T5 mở khóa và sẽ quay lại thỏa thuận mua bán sau.

  • * Tại Kết luận định giá tài sản số 144/KL-HĐĐG ngày 06/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện X kết luận: Giá trị còn lại của 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A23, màu xanh – đen là 2.200.000 đồng (Hai triệu hai trăm nghìn đồng).
  • * Vật chứng vụ án:
    • - 01 (một) đoạn video được trích xuất từ dữ liệu camera của Cửa hàng thuốc thú y Cương T, ghi lại nội dung diễn biến hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo Mai Văn S. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X lưu trữ vào đĩa DVD và đưa vào hồ sơ vụ án để làm tài liệu, chứng cứ theo quy định.
    • - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A23, màu xanh đen do anh Vy Văn T6 tự nguyện giao nộp. Qua điều tra xác định đây là tài sản của bị hại Nguyễn Thị Ngọc D bị S trộm cắp vào ngày 01/11/2023. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X đã ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả lại tài sản trên cho chị D theo quy định của pháp luật.
    • - 01 (một) điện thoại Iphone 6S plus, màu hồng và số tiền 3.900.000 đồng (Ba triệu chín trăm nghìn đồng) thu giữ của Mai Văn S. Qua điều tra xác định đây là tài sản cá nhân của S không liên quan đến việc phạm tội của S. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X đã ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả điện thoại di động và số tiền trên cho S.
    • - 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen biển số 59E1-517.92 tạm giữ của Mai Văn S. Quá trình điều tra xác định, xe mô tô này là do S mua lại của anh Võ Văn L, sau khi S trộm cắp tài sản của chị D thì đã sử dụng xe mô tô biển số 59E1-517.92 để làm phương tiện tẩu thoát và đi tiêu thụ tài sản trộm cắp.
  • * Trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Thị Ngọc D đã nhận lại tài sản bị trộm cắp và không yêu cầu gì thêm về dân sự.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X, Mai Văn S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

* Tại bản cáo trạng số 24/CT-VKSXL ngày 11 tháng 01 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc truy tố bị cáo về tội: “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

- Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc phát biểu giữ nguyên quan điểm truy tố theo bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự, tuyên phạt bị cáo mức án từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù; Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu sung công 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen biển số 59E1-517.92

- Ý kiến của bị cáo tại phiên tòa: Bị cáo thống nhất với Cáo trạng và thừa nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng mô tả.

Bị cáo nói lời sau cùng: Trong thời gian bị tạm giam bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo được sớm về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra huyện X, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc thực hiện đúng trình tự thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Điều tra viên, Kiểm sát viên thực hiện việc điều tra, thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự đã đảm bảo khách quan đúng quy định của pháp luật

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án, thể hiện:

Vào ngày 01/11/2023, tại trước Cửa hàng T7, thuộc ấp S, xã S, huyện X, tỉnh Đồng Nai, bị cáo Mai Văn S đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A23, màu xanh – đen của chị Nguyễn Thị Ngọc D. Giá trị tài sản của chị D bị chiếm đoạt là 2.200.000 đồng (Hai triệu hai trăm nghìn đồng).

Bị cáo đang có 04 tiền án về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân”, “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của công dân”; “Trộm cắp tài sản” và “Cướp giật tài sản” chưa được xóa án tích nhưng vẫn tiếp tục phạm tội nên hành vi của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Đây là các tình tiết định khung quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo Mai Văn S đã phạm vào tội: “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

[3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội, gây thiệt hại về tài sản của người khác. Bản thân bị cáo là người đã trưởng thành, nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là sai trái nhưng vì bản tính lười lao động, chỉ muốn hưởng thụ nên vẫn cố ý lén lút thực hiện. Mặt khác, bị cáo đã từng bị Tòa án xét xử nhiều lần về nhiều tội khác nhau nhưng không lấy đó làm bài học kinh nghiệm mà vẫn tiếp tục vi phạm pháp luật thể hiện sự ngang nhiên coi thường pháp luật. Vì vậy, cần áp dụng một mức hình phạt thật nghiêm, tương xứng với hành vi của bị cáo nhằm giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo; tài sản đã được thu hồi trả lại cho bị hại nên thiệt hại có phần được hạn chế; bị cáo hiện đã lớn tuổi, đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[6] Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:

  • - 01 (một) đoạn video được trích xuất từ dữ liệu camera của Cửa hàng thuốc thú y Cương T, ghi lại nội dung diễn biến hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo Mai Văn S vào ngày 01/11/2023. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X lưu trữ vào đĩa DVD và đưa vào hồ sơ vụ án để làm tài liệu, chứng cứ theo quy định là phù hợp quy định pháp luật.
  • - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A23, màu xanh đen do anh Vy Văn T6 tự nguyện giao nộp. Qua điều tra xác định đây là tài sản của bị hại Nguyễn Thị Ngọc D bị S trộm cắp vào ngày 01/11/2023. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại tài sản trên cho chị D là phù hợp quy định của pháp luật.
  • - 01 (một) điện thoại Iphone 6S plus, màu hồng và số tiền 3.900.000 đồng (Ba triệu chín trăm nghìn đồng) thu giữ của bị cáo. Qua điều tra xác định đây là tài sản cá nhân của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội của bị cáo. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả điện thoại di động và số tiền trên cho bị cáo là phù hợp.
  • - 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen biển số 59E1-517.92 tạm giữ của Mai Văn S. Quá trình điều tra xác định, xe mô tô này là do bị cáo mua lại của anh Võ Văn L, sau khi bị cáo trộm cắp tài sản của chị D thì đã sử dụng xe mô tô biển số 59E1-517.92 để làm phương tiện tẩu thoát và đi tiêu thụ tài sản trộm cắp nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
  • * Trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Thị Ngọc D đã nhận lại tài sản bị trộm cắp và không yêu cầu gì thêm về dân sự nên không xem xét.

[7] Các vấn đề khác:

Đối với anh Vy Văn T5 đã có hành vi nhận giữ điện thoại di động do Mai Văn S trộm cắp mà có để mở khóa. Tuy nhiên, anh T5 không biết điện thoại trên do S trộm cắp mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X không đưa ra hình thức xử lý.

[8] Về án phí: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội và bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

[9] Đề nghị của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố: Bị cáo Mai Văn S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Mai Văn S: 03 (Ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02 tháng 11 năm 2023.

2. Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

  • - Tịch thu lưu hồ sơ: 01 (Một) đĩa DVD lưu trữ 01 (một) đoạn video được trích xuất từ dữ liệu camera của Cửa hàng thuốc thú y Cương T, ghi lại nội dung diễn biến hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo Mai Văn S vào ngày 01/11/2023 tại ấp S, xã S, huyện X, tỉnh Đồng Nai.
  • - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen biển số 59E1-517.92.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 12/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc).

3. Căn cứ các điều 136, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND Tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND Tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở Tư pháp Tỉnh Đồng Nai;
  • - Công an huyện Xuân Lộc;
  • - VKSND huyện Xuân Lộc;
  • - Chi cục THADS huyện Xuân Lộc;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Hồ sơ thi hành án;
  • - Lưu AV, HS;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Thị Sương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 78/2024/HS-ST ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 78/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mai Văn S
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger