Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 78/2024/HS – ST.

Ngày: 06/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Trang;

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Huy Trụ;

2. Ông Đào Văn Kiểm;

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Bích Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Huyền - Kiểm sát viên.

* Tại điểm cầu thành phần, những người hỗ trợ tổ chức phiên tòa gồm:

- Ông Vũ Đức M – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

- Các cán bộ, chiến sỹ Trại tạm giam Công an tỉnh P.

Ngày 6 tháng 8 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm tổ chức tại Phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ và điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an tỉnh P đưa ra xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 82/2024/TLST- HS ngày 18 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 91/2024/QĐXXST- HS ngày 23 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Minh H, sinh ngày 25/7/1998 tại T, V, Phú Thọ; Tên gọi khác: Không; Nơi ĐKHKTT và C ở hiện nay: Tổ B, khu A, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Bố đẻ: Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1964; Mẹ đẻ: Mai Thị T, sinh năm 1965, bố mẹ bị cáo hiện ở phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; Vợ, con: Chưa có.

- Tiền án, tiền sự: không

- Nhân thân:

  • + Ngày 08/5/2014, Toà án nhân dân thành phố Việt Trì ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng đối với H, thời gian 18 tháng. Đã chấp hành xong ngày 13/05/2015.
  • + Bản án HSST số 202/2017/HSST ngày 27/12/2017 của Toà án nhân dân thành phố Việt Trì xử phạt H 30 tháng tù giam về tội Mua bán trái phép chất ma tuý. Đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/01/2020, nộp án phí HSST ngày 27/12/2017.

Bị cáo Nguyễn Minh H bị bắt, tạm giữ từ ngày 16/04/2024. Ngày 22/04/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can và tạm giam đối với Nguyễn Minh H. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh P.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 15 giờ 50 phút ngày 16/04/2024, tại tổ D, khu S, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, Tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý của Công an thành phố V đang làm nhiệm vụ thì phát hiện 01 người đàn ông có biểu hiện vi phạm pháp luật. Tổ công tác tiến hành kiểm tra, người này tự khai họ tên là: Nguyễn Minh H, SN: 1998, HKTT: Khu A, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Quá trình kiểm tra, H đã tự giác lấy từ túi quần phía sau ra 01 gói ma tuý có đặc điểm là gói giấy mặt ngoài và mặt trong đều màu trắng bạc, bên trong có 01 túi nilon màu trắng được hàn kín bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng. H khai nhận đây là ma tuý đá của H để sử dụng cho bản thân. Tại chỗ, tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với H, niêm phong gói ma tuý vào bì giấy theo quy định và tạm giữ của H 01 điện thoại di động đã cũ nhãn hiệu Redmi màu xanh; số IMEI 863850054710185, kèm theo sim trong máy, số thuê bao là 0399633682 và 01 xe máy nhãn hiệu HONDA WAVE màu đen xám, đã cũ,BKS 88K1-016.66, số máy: JC43E1646394; số khung: 4310BY097387.

Cùng ngày 16/04/2024, Công an thành phố V đã tiến hành xét nghiệm ma tuý bằng que thử nước tiểu đối với Nguyễn Minh H. Kết quả kiểm tra của H là dương tính với chất ma tuý (kết luận H có sử dụng ma tuý nhóm MET).

Cơ quan điều tra ra quyết định trưng cầu giám định số 533 ngày 16/04/2024, giám định số chất rắn dạng tinh thể màu trắng chứa bên trong 01 túi nilon màu trắng được hàn kín, bên ngoài được gói bằng giấy hai mặt màu trắng bạc, được niêm phong trong 01 bì giấy dán kín thu giữ của Nguyễn Minh H. Tại bản kết luận giám định số 533/KL-KTHS ngày 19/04/2024 của Phòng K Công an tỉnh P kết luận:

“Chất rắn dạng tinh thể màu trắng chứa bên trong 01 túi nilon gửi đến giám định là ma tuý, loại Methamphetamine, có khối lượng là: 0,417 gam

* Methamphetamine là chất ma tuý nằm trong Danh mục IIC, số thứ tự 247, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ”.

H1 lại đối tượng giám định:0,243 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định, được niêm phong trong 01 túi niêm phong, bên ngoài túi niêm phong có 05 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh P và chữ ký của các thành phần liên quan tại các mép dán.

Về nguồn gốc số ma tuý bị thu giữ khi bị bắt quả tang, Nguyễn Minh H khai nhận như sau: Do có nhu cầu sử dụng ma tuý đá nên khoảng 14 giờ 30 phút ngày 16/04/2024, H một mình đi xe máy biển kiểm soát 88K1-016.66 từ nhà đến khu vực gầm cầu V thuộc phường B, thành phố V, tỉnh Phú Thọ tìm mua ma tuý để sử dụng. Tại đây, H gặp 01 người đàn ông khoảng hơn 30 tuổi, H không biết tên tuổi, địa chỉ của người đàn ông này. H hỏi và mua được của người này 01 gói ma tuý có đặc điểm 01 gói giấy mặt ngoài và mặt trong đều màu trắng bạc với giá 700.000 đồng. H cầm gói ma tuý mua được để vào túi quần phía sau của H đang mặc rồi đi về. Khi đi đến khu vực thuộc tổ D, Sông T, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, H dừng xe để tìm chỗ sử dụng ma tuý thì bị tổ công tác Công an thành phố V bắt quả tang và thu giữ vật chứng, tài sản như đã nêu trên.

Ngoài ra, tại CQĐT H khai nhận: Khoảng 22 giờ ngày 14/4/2024, H một mình đi xuống khu vực cổng chùa T1 thuộc phường B, thành phố V, tỉnh Phú Thọ để tìm mua ma tuý. Tại đây, H gặp và mua được của một người đàn ông không quen biết khoảng 35 tuổi 01 gói ma tuý có đặc điểm là gói nilon màu trắng, được hàn kín bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng là ma tuý đá với giá 500.000đ. Sau đó, H cầm gói ma tuý mua được về nhà để sử dụng hết cho bản thân.

Về vật chứng, đồ vật, tài sản thu giữ gồm:

  • - 01 bì niêm phong số 533/KL-KTHS của phòng K - Công an tỉnh P hoàn trả sau khi giám định bên trong có chứa 0,243 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng là mẫu vật còn lại, cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định, được niêm phong trong 01 túi niêm phong, bên ngoài túi niêm phong có 05 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh P.
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi vỏ màu xanh đã cũ màn hình, số IMEI: 863850054710185 trong nguồn kèm sim, số thuê bao là 0399633682trong máy là điện thoại của H để sử dụng liên lạc hàng ngày.

Hiện vật chứng đang tạm giữ tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Việt Trì.

  • - 01 xe máy nhãn hiệu HONDA WAVE màu đen xám đã cũ BKS 88K1-016.66, số máy: JC43E1646394; số khung: 4310BY097387 là xe H mượn của Nguyễn Trần Diệu L là bạn của H. Việc H sử dụng chiếc xe trên để mua ma tuý L không biết. Ngày 15/05/2024, cơ quan điều tra đã trả lại cho L chiếc xe trên.

Tại bản cáo trạng số 80/CT-VKS-VTngày 17 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì đã truy tố bị cáo Nguyễn Minh H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ Luật hình sự.

Tại phiên toà:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ giữ nguyên quyết định truy tố đối với Nguyễn Minh H, Đại diện VKSND thành phố Việt Trì đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh H phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt chính:Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Minh H mức hình phạt từ: 27 (hai bẩy) tháng tù đến 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/4/2024.

Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự:

  • - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi vỏ màu xanh đã cũ màn hình, số IMEI (trong nguồn): 863850054710185.

Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47Bộ luật Hình sự;điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • - Tịch thu tiêu huỷ 01 bì niêm phong số 533/KL-KTHS của phòng K - Công an tỉnh P hoàn trả sau khi giám định bên trong có chứa 0,243 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng là mẫu vật còn lại sau giám định, cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định được đóng 05 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh P.
  • - Tịch thu tiêu huỷ 01 sim số 0399.633.682 của Nguyễn Minh H.
  • - Xác nhận cơ quan điều tra Công an thành phố V đã trả cho chị Nguyễn Trần Diệu L, sinh năm 2002; HKTT: Tổ 27A, Â, T, V, Phú Thọ 01 xe máy nhãn hiệu HONDA WAVE màu đen xám đã cũ BKS 88K1-016.66, số máy: JC43E1646394; số khung: 4310BY097387.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tranh luận, đối đáp gì với đại diện VKSND TP Việt Trì. Bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình điều tra Cơ quan tiến hành tố tụng, nguời tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định của pháp luật.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 15 giờ 50 phút ngày 16/04/2024,tại tổ D, khu S, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, Nguyễn Minh H có hành vi tàng trữ trái phép khối lượng 0,417 gam ma túy, loại Methamphetaminvới mục đích sử dụng cho bản thân thì tổ công tác Công an thành phố V phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng.

Bị cáo Nguyễn Minh H là người có năng lực trách nhiệm hình sự, ý thức được việc tàng trữ ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng vì nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân bị cáo đã bất chấp pháp luật. Hành vi mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến hoạt động quản lý độc quyền của Nhà nước đối với chất ma túy.Hành vi mà bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Hiện nay, tình hình nghiện ma túy đang diễn ra phức tạp, tệ nạn này là mối quan tâm của toàn xã hội, hành vi của bị cáo không chỉ gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người mà còn là nguyên nhân dẫn đến những hành vi vi phạm pháp luật khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về nhân thân của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tiền án, tiền sự nhưng bị cáo là người có nhân thân xấu. Cụ thể: Ngày 08/5/2014, Toà án nhân dân thành phố Việt Trì ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng đối với H, thời gian 18 tháng. H đã chấp hành xong ngày 13/05/2015. Tại Bản án HSST số 202/2017/HSST ngày 27/12/2017 của Toà án nhân dân thành phố Việt Trì xử phạt H 30 tháng tù giam về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, H đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/01/2020, nộp án phí HSST ngày 27/12/2017.Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ Luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ Luật hình sự.

Xét hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã phân tích ở trên, Hội đồng xét xử thấy rằng, cần có mức hình phạt nghiêm khắc là cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện để có tác dụng giáo dục bị cáo đồng thời nhằm răn đe và phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội. Mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đề nghị đối với bị cáo là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về hình phạt bổ sung:

Qua xác minh của Cơ quan điều tra, bị cáo Nguyễn Minh H2 có tài sản nào khác ngoài01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi vỏ màu xanh đã cũ màn hình, số IMEI (trong nguồn): 863850054710185 do cơ quan điều tra thu giữ, xét thấy đây là tài sản riêng của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần áp dụng hình phạt bổ sung tịch thu xung vào ngân sách nhà nước.

[5] Về vật chứng của vụ án:

  • - Đối với 0,243 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng mẫu vật còn lại sau giám định đây là chất ma túy nhà nước cấm tàng trữ, mua bán và không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • -Đối 01 sim số 0399.633.682 của Nguyễn Minh H không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

[6] Các vấn đề khác:

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý ngày 14/4/2024 của Nguyễn Minh H, Công an thành phố V đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 122/QĐ-XPHC ngày 15/05/2024 bằng hình thức “ Cảnh cáo” là đúng quy định của pháp luật.

Đối với 02 người đàn ông bán ma túy cho H ngày 14/4/2024 và ngày 16/04/2024, do H không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không xác định được, HĐXX không xem xét giải quyết.

Đối với 01 xe máy nhãn hiệu HONDA WAVE màu đen xám đã cũ BKS 88K1- 016.66, số máy: JC43E1646394; số khung: 4310BY097387 là xe Hiếu mượn của chị Nguyễn Trần Diệu L, sinh năm 2002; KHTT: Tổ 27A, Â, T, V, Phú Thọ là bạn của H. Việc H sử dụng chiếc xe trên để mua ma tuý chị L không biết. Ngày 15/05/2024, cơ quan điều tra đã trả lại cho chị L chiếc xe trên là đúng quy định của pháp luật.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Minh H phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

  1. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Minh H 27 (Hai bẩy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/4/2024.
  2. Hình phạt bổ sung:
    • - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi vỏ màu xanh đã cũ màn hình số IMEI (trong nguồn): 863850054710185 của Nguyễn Minh H.
    • (Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/7/2024 tại Chi cục thi hành án Dân sự TP Việt Trì).
  3. Xử lý vật chứng:
    • - Tịch thu, tiêu hủy 01 bì niêm phong số 533/KL-KTHS của phòng K - Công an tỉnh P hoàn trả sau khi giám định bên trong có chứa 0,243 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng là mẫu vật còn lại sau giám định, cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định được đóng05 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh P.
    • - Tịch thu tiêu huỷ 01 sim số 0399.633.682 của nguyễn Minh H3.
    • (Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/7/2024tại Chi cục thi hành án Dân sự TP Việt Trì).
  4. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Minh H phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Quyền kháng cáo:

    Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND Tp Việt Trì;
  • - Cơ quan CSĐT CA Tp Việt Trì;
  • - Phòng Hồ sơ NV CA TP Việt Trì;
  • - Chi cục THA DSTP Việt Trì;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Phú Thọ;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lê Thị Thu Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 78/2024/HS – ST. ngày 06/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 78/2024/HS – ST.
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Minh H phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger