Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 78/2024/HS-ST

Ngày: 16/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thắng

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Vinh

2. Ông Nguyễn Đức Thành

Thư ký phiên toà: Bà Đặng Mai Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì tham gia phiên toà:

Bà Mai Thị Phượng - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 73/2024/TLST-HSST ngày 16 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2024/QĐXXST-HS ngày 02/5/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trương Văn H; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1978; tại Hà Nội; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT: số B, Ngách A N, G, B, Hà Nội; Nơi ở: Phòng 218 CT10C, KĐT Đ, T, T, Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ và tên cha: Trương Văn T (đã chết); Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị L (đã chết); Gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ tư. Họ và tên vợ: Nguyễn Thị T1 (sinh năm 1979) - Ly hôn năm 2010; Họ và tên con: Trương Bảo N (sinh năm 2004)

Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân:

  • - Năm 1999, bị đưa vào cơ sở giáo dục theo quyết định số 33 của Ủy ban nhân dân thành phố H, thời hạn 12 tháng (đã hết thời hiệu xử lý).
  • - Năm 2006, bị đi cai nghiện bắt buộc 02 năm (đã hết thời hiệu xử lý).
  • D chỉ bản số 13 do Công an huyện T lập ngày 08/01/2024

Bị cáo bị bắt quả tang, áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/01/2024, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 – Công an thành phố H, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 02/01/2024, Trương Văn H đi xe máy một mình đến khu vực cuối ngõ 20, Đường S, Tả Thanh O, T, Hà Nội, để tìm mua ma tuý về sử dụng cho bản thân. Tại đây, H gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói ma tuý với giá 500.000 đồng. Sau đó, H cất gói ma tuý vào túi áo khoác bên trái đang mặc và đi về nhà ở tòa CT10C, KĐT Đ, T, T, Hà Nội.

Hồi 17 giờ ngày 02/01/2024, tổ công tác Công an xã T làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát phòng chống tội phạm tại khu vực sảnh chung cư CT10C Khu đô thị Đ, Tả Thanh O, T, Hà Nội phát hiện Trương Văn H có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Quá trình liểm tra, H tự lấy trong túi áo khoác bên trái ra 01 gói giấy nhỏ bên trong chứa cục chất bột màu trắng giao nộp cho cơ quan Công an. H khai nhận đó là ma túy Heroine của H vừa mua về để sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản, bắt người phạm tội quả tang, niêm phong tang vật thu giữ và đưa Trương Văn H về trụ sở làm việc.

Ngày 03/01/2024, cơ quan CSĐT – công an huyện T tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trương Văn H tại Phòng 218 CT10C, KĐT Đ, Tả Thanh O, T, Hà Nội phát hiện 01 gói giấy nhỏ trong chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy Heroine trên mặt bàn phấn phòng ngủ nhà H.

Ngày 08/01/2024, Cơ quan Điều tra đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 152 đối với 01 gói giấy chứa chất bột màu trắng thu giữ khi bắt quả tang Trương Văn H và 01 gói giấy chứa chất bột màu trắng thu giữ khi khám xét nơi ở của Trương Văn H.

Tại Bản kết luận giám định số 366A ngày 10/01/2024 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận:

“* Tang vật thu giữ khi bắt quả tang Trương văn Hồng gồm:

  • - Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy là ma túy loại Heroine, có khối lượng 0,265 gam.

* Tang vật thu giữ khi khám xét nơi ở Trương văn Hồng gồm:

  • - Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy là ma túy loại Heroine, có khối lượng 0,045 gam.”

Cơ quan giám định đã sử dụng 0,039 gam Heroine trong 0,265 gam thu giữ khi bắt quả tang Trương Văn H để làm mẫu giám định, còn 0,226 gam và 0,010 gam Heroine trong 0,045 gam thu giữ khi khám xét nơi ở của Trương Văn H để làm mẫu giám định, còn 0,035 gam. Số lượng ma túy Heroine còn lại, cơ quan giám định hoàn trả cho cơ quan CSĐT – Công an huyện T.

Tại Cơ quan Điều tra, Trương Văn H khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. H khai mua ma túy để sử dụng cho bản thân ngoài ra không có mục đích gì khác.

Tiến hành xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể của Trương Văn H, kết quả H dương tính với chất ma túy.

Đối với người bán ma túy cho Trương Văn H, do H không biết tên, tuổi, địa chỉ của người này nên cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh.

Tại bản cáo trạng số 69/CT-VKSTT ngày 12/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì đã truy tố Trương Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, bị cáo Trương Văn H khai: bị cáo mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và ăn năn hối cải. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét để cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa có quan điểm: giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trương Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Về trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt: Trương Văn H mức án từ 18 đến 22 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 02/01/2024. Do bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

Áp dụng: Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị:

  • - Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và điều luật áp dụng:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản phạm tội quả tang, biên bản tạm giữ đồ vật tài liệu; Lời khai người làm chứng; Bản kết luận giám định có đủ cơ sở khẳng định:

Hồi 17 giờ ngày 02/01/2024, tại khu vực sảnh toà chung cư CT10C, KĐT Đ, T, T, Hà Nội, khi Trương Văn H đang tàng trữ trái phép 01 gói giấy nhỏ chứa ma túy loại Heroine có khối lượng 0,265 gam với mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác công an xã T – công an huyện T bắt quả tang và thu giữ tang vật.

Quá trình khám xét khẩn cấp nơi ở của Trương Văn H, Cơ quan CSĐT - Công an huyện T còn thu giữ 01 gói giấy chứa ma túy loại Heroine có khối lượng 0,045 gam, H cất giấu với mục đích để sử dụng cho bản thân.

Tổng khối lượng ma túy Hồng tàng trữ trái phép là 0,310 gam heroine.

Hành vi của bị cáo Trương Văn H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự 2015. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy, gây mất trật tự trị an trong xã hội, được Bộ luật hình sự quy định là hành vi phạm tội và gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Ma túy là chất gây nghiện nguy hiểm, khi sử dụng trái phép người sử dụng bị phụ thuộc hoàn toàn dẫn đến tha hóa đạo đức, lối sống, làm mất lý trí con người và là nguyên nhân phát sinh nhiều tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Do tính chất nguy hiểm của ma túy nên nhà nước đã thống nhất quản lý và có nhiều biện pháp tuyên truyền, giáo dục về tác hại cũng như vai trò quản lý của nhà nước đối với chất gây nghiện này. Nhân thân của bị cáo từng bị đưa vào cơ sở giáo dục và từng đi cai nghiện bắt buộc, mặc dù đã hết thời hiệu xử lý hành chính, nhưng thể hiện bị cáo là người có nhân thân xấu, đã nhiều lần được giáo dục pháp luật, nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Điều này chứng tỏ bị cáo có ý thức coi thường pháp luật. Do vậy, cần áp dụng một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội, nghiêm khắc với bị cáo, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.

[3] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015. Do đó, giảm một phần hình phạt cho bị cáo để thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

[4] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có việc làm ổn định, không có thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

[5] Xử lý vật chứng:

  • - Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định.

Phần nhận định và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[6] Án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Trương Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy
  2. Áp dụng: Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự 2015.
  3. Xử phạt bị cáo Trương Văn H 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/01/2024.

  4. Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
  5. Xử lý vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
  6. Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong bên trong phong bì có chứa ma túy loại còn lại sau giám định là 0,226 gam ma túy Herine bên ngoài có chữ ký của Trương Văn H, Vũ Việt C Giám định viên và Lê Văn S cán bộ Công an xã T Theo quyết định chuyển vật chứng số 61 ngày 12 tháng 04 năm 2024)

    Tịch thu tiêu hủy 01(một) phong bì niêm phong bên trong phong bì có chứa ma túy loại còn lại sau giám định là 0,035 gam ma túy Herine bên ngoài có chữ ký của Trương Văn H, Vũ Việt C Giám định viên và Lê Văn S cán bộ Công an xã T Theo quyết định chuyển vật chứng số 61 ngày 12 tháng 04 năm 2024

    Số vật chứng trên được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Trì theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 07/5/2024 ký giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Trì.

  7. Án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng: Điều 135, 136, 331, 332, 333, 336, 337 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
    • - Áp dụng: Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo.

    Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM:

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
NGUYỄN VĂN THẮNG

Nơi nhận:

  • - TAND Thành phố Hà Nội;
  • - VKSND huyện Thanh Trì;
  • - CA huyện Thanh Trì;
  • - THADS huyện Thanh Trì;
  • - Bị cáo; Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

NGUYỄN VĂN THẮNG
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 78/2024/HS-ST ngày 16/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI về vụ án hình sự về tội "tàng trữ trái phép chất ma túy"

  • Số bản án: 78/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger