|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 78/2024/DS-ST Ngày 16 - 5 - 2024 V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản & yêu cầu thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại” |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Văn Hiệp.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Chí Lin.
- Bà Trần Thị Đổi.
Thư ký phiên tòa: Nguyễn Thị Hảo là Thư ký Toà án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Khang - Kiểm sát viên
Ngày 16 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 990/2023/TLST- DS ngày 28 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản và yêu cầu thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 103/2024/QĐXXST - DS ngày 05 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 75/2024/QÐST-DS ngày 25 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Thái Thành Đ, sinh năm 1994.
- Bị đơn: Bà Ngô Thị Nguyệt T, sinh năm 1982.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Trường mầm non B do ông Ngô Văn R, sinh năm 1961 – Chủ cơ sở đại diện.
Địa chỉ: Số E, ấp S, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An, xin vắng mặt.
Bà Đỗ Thị Tuyết H, sinh năm 1954.
Cháu Lê Thụy Giáng M, sinh năm 2006
Cháu Lê Minh H1, sinh năm 2007
Người đại diện cháu M và cháu H1: Bà Ngô Thị Nguyệt T.
Cùng địa chỉ: Ô, Khu A, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An, vắng mặt.
Địa chỉ: Ô, Khu A, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An, xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 07 tháng 11 năm 2023 và các lời trình bày tiếp theo tại Tòa án nguyên đơn ông Thái Thành Đ trình bày:
Ngày 10 tháng 5 năm 2019, ông Đ có cho ông Lê Quốc Minh T1 mượn số tiền 200.000.000đồng và ngày 09 tháng 12 năm 2019, ông Đ có cho ông Lê Quốc Minh T1 mượn số tiền 100.000.000đồng. Tổng cộng số tiền 300.000.000đồng, hai bên đương sự thỏa thuận lãi suất 20%/năm và ông T1 hứa 12 tháng sẽ trả nhưng đến nay chưa trả. Trước khi ông T1 chết (ngày 24 tháng 3 năm 2023), ông Đ đã nhiều lần đề nghị đòi lại số tiền cho ông T1 mượn nhưng ông T1 không trả. Nay ông T1 chết, ông Đ đề nghị bà T và những người hưởng thừa kế của ông T1 phải trả ông Đ tổng số tiền 300.000.000đồng và lãi suất 20%/năm từ ngày 09 tháng 12 năm 2019 cho đến khi xét xử sơ thẩm.
Bị đơn bà Ngô Thị Nguyệt T trình bày: Bà T không đồng ý khoản nợ nói trên.
Đối với bị đơn bà Đỗ Thị Tuyết H: Đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng bà H không đến Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An làm việc hoặc phản hồi ý kiến của bà H về việc giải quyết vụ án.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Trường mầm non B do ông Ngô Văn R, sinh năm 1961 – Chủ cơ sở đại diện trình bày: Ông là chủ cơ sở Trường mầm non B và là cha vợ của ông T1. Việc ông T1 lấy mộc của Trường mầm non B đóng vào giấy nợ của ông T1 thì ông hoàn toàn không biết vì mộc đó để tại trường và ông T1 là con rễ nên ra vô không ai quản lý. Ngoài ra, dấu mộc đó đã hủy năm 2018 còn ông T1 cất để lại như thế nào ông không biết. Nay giữa ông Đ và ông T1 phát sinh tranh chấp thì ông không có ý kiến gì và cũng không có yêu cầu gì trong vụ án này. Đồng thời, ông xin vắng mặt tại Tòa án nhân dân các cấp.
Quan điểm kiểm sát viên tại phiên tòa:
Về tố tụng: Việc thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Về trình tự thủ tục đảm bảo theo quy định của tố tụng trong việc thu thập chứng cứ, xác minh. Toà án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử thực hiện đúng chức năng nhiệm vụ và quyền hạn. Các bên đương sự thực hiện đúng tố tụng về quyền và nghĩa vụ.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; Buộc bà T và những người hưởng thừa kế của ông T1 có trách nhiệm liên đới trả cho ông Đ tổng số tiền 300.000.000đồng (phần của ông T1 trả trong phạm vi di sản ông T1 chết để lại).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật cần giải quyết: Xét yêu cầu khởi kiện của Thái Thành Đ nêu trên, Hội đồng xét xử thấy quan hệ pháp luật cần giải quyết trong vụ án là: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản & yêu cầu thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại” vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn bà T và những người thừa kế của ông T1 có hộ khẩu thường trú tại thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An nên Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Về tư cách tố tụng, thời hiệu và phạm vi giải quyết.
- Ông Thái Thành Đ là người khởi kiện được xác định là nguyên đơn, bà Ngô Thị Nguyệt T, bà Đỗ Thị Tuyết H, Lê Thụy Giáng M và Lê Minh H1 được xác định là người bị kiện được xác định tư cách là bị đơn. Ông Ngô Văn R được xác định là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.
- Thời hiệu khởi kiện: Ông Đ khởi kiện yêu cầu bà T và những người hưởng thừa kế của ông T1 trả tiền thuộc trường hợp yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu nên đối chiếu theo quy định tại Điều 155 của Bộ luật Dân sự nên không tính thời hiệu khởi kiện; Ông Thái Thành Đ có quyền khởi kiện theo quy định tại Điều 186 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.3] Chứng cứ, nghĩa vụ chứng minh và luật áp dụng.
- Quá trình tố tụng: Ông Đ yêu cầu bà T và những người hưởng thừa kế của ông T1 liên đới phải trả cho ông Đ tổng số tiền 300.000.000đồng, chứng cứ là Giấy mượn tiền ngày 10 tháng 5 năm 2019; Giấy xác nhận ngày 09 tháng 12 năm 2019, đã được giám định là do ông T1 ký ra.
- Tòa án xét xử trên cơ sở chứng cứ do người khởi kiện cung cấp và chứng cứ do Tòa án thu thập khi thấy cần thiết theo quy định tại khoản 4 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về chứng cứ chứng minh cho lời trình bày các đương sự Tòa án đã thu thập đầy đủ.
- Thời điểm phát sinh tranh chấp thì Bộ luật Dân sự năm 2015 đang có hiệu lực pháp luật nên được áp dụng.
- Tòa án lập biên bản về việc công khai chứng cứ, hòa giải và đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung. Tòa án xét xử trong phạm vi đương sự có yêu cầu.
[1.4]. Về việc xét xử vắng mặt: Bị đơn vắng mặt và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan xin vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1, khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt họ.
[1.5]. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện: Ông Đ rút lại một phần yêu cầu khởi kiện về việc tính lãi vì ông cho rằng ông không có căn cứ chứng minh việc hai bên thỏa thuận lãi. Hội đồng xét xử thấy rằng việc rút đơn của ông Đ là hoàn toàn tự nguyện, không trái quy định pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên cần đình chỉ theo quy định điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng Dân sự.
[2].Về nội dung:
[2.1]. Căn cứ Giấy mượn tiền ngày 10 tháng 5 năm 2019 và giấy xác nhận ngày 09 tháng 12 năm 2019, thể hiện ông Đ có cho ông Lê Quốc Minh T1 mượn tổng số tiền 300.000.000đồng. Đối với 02 giấy nợ này, bà T không đồng ý trả số tiền trên nên Tòa án yêu cầu trưng cầu giám định. Tại bản kết luận số: 124/KL-KTHS ngày 01 tháng 02 năm 2024 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh – Bộ C, kết luận: Chữ ký, chữ viết trên 02 tài liệu cần giám định ký hiệu A1, A2 so với chữ ký, chữ viết đứng tên Lê Quốc Minh T1 đùng làm mẫu so sánh trên tài liệu ký hiệu M1, M2 là do cùng một người ký và viết ra. Từ đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận ông T1 có vay của ông Đ tổng số tiền 300.000.000đồng nên nay ông T1 đã chết cần buộc bà T và những người hưởng thừa kế của ông T1 phải có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 615 của Bộ luật Dân sự. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu của ông Đ đối với số tiền 300.000.000đồng.
[2.2]. Đối với việc thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại, bà H (mẹ ông T1) đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng bà H không đến Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An làm việc hoặc phản hồi ý kiến của bà H về việc giải quyết vụ án. Riêng các cháu M1, H1 là các con ông T1 do bà T đại diện đương nhiên nên cần buộc bà H bà H và cháu M1 có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 615 của Bộ luật Dân sự.
[2.3] Về chi phí tố tụng: Ông Đ có nộp số tiền 10.000.000đồng để trưng cầu giám định, đã nộp và chi phí xong và kết quả giám định chứng minh yêu cầu của ông Đ là có căn cứ nên cần buộc những người hưởng thừa kế của ông T1 nộp lại trả cho ông Đ là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điếu 161 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3]. Do vậy, xét quan điểm của Kiểm sát viên là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[4].Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội hướng dẫn về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bà T phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm, bà H và các con ông T1 được miễn án phí theo quy định tại điểm đ Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội hướng dẫn về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 91, Điều 147, điểm c khoản 1 Điều 217, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 466, Điều 468, Điều 161 và Điều 615 của Bộ luật dân sự; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Thái Thành Đ về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản & yêu cầu thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại” với những hưởng người thừa kế của ông Lê Quốc Minh T1: Bà Ngô Thị Nguyệt T, cháu Lê Thụy Giáng M, cháu Lê Minh H1 và bà Đỗ Thị Tuyết H.
- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông Thái Thành Đ về việc yêu cầu lãi suất 20%/năm từ ngày 09 tháng 12 năm 2019 cho đến khi xét xử sơ thẩm đối với bà Ngô Thị Nguyệt T và những người thừa kế nghĩa vụ tài sản của ông T1 (Ngô Thị Nguyệt T, Đỗ Thị Tuyết H, Lê Thụy Giáng M, Lê Minh H1). Hậu quả việc đình chỉ: Ông Đ không có quyền khởi kiện lại.
- Về chi phí tố tụng: Buộc bà Đỗ Thị Tuyết H và cháu Lê Thụy Giáng M, cháu Lê Minh H1 nộp số tiền 10.000.000đồng để trả lại cho ông Đ.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Án xét xử công khai sơ thẩm, các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm vụ án.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Buộc Ngô Thị Nguyệt T, cháu Lê Thụy Giáng M, cháu Lê Minh H1 và bà Đỗ Thị Tuyết H có trách nhiệm liên đới trả số tiền vay và thực hiện nghĩa vụ tài sản của ông T1 (chết) trả cho ông Thái Thành Đ tổng số tiền 300.000.000đồng (Ba trăm triệu đồng). Trong đó phần trách nhiệm cá nhân của bà T là 150.000.000đồng, phần nghĩa vụ của ông T1 chết để lại là 150.000.000đồng (phần nghĩa vụ của ông T1 thực hiện trong phạm vi di sản của ông T1 chết để lại).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng N quy định tương ứng với thời gian chưa thi hành theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
Bà Đỗ Thị Tuyết H và cháu Lê Thụy Giáng M, cháu Lê Minh H1 là người cao tuổi và trẻ em nên không phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bà Ngô Thị Nguyệt T phải chịu 7.500.000đồng án phí Dân sự sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước. H2 lại cho ông Thái Thành Đ số tiền 12.700.000 đồng theo biên lai số 5380 ngày 20 tháng 11 năm 2023 tại Chi cục thi hành án huyện Đức Hòa.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Văn Hiệp |
Bản án số 78/2024/DS-ST ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng vay tài sản & yêu cầu thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại
- Số bản án: 78/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản & yêu cầu thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: vay
