|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 78/2024/HNGĐ-ST Ngày: 14-6-2024 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Phạm Thị Anh Thư. |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Nguyễn Văn Hoàn |
| Bà Hoàng Lệ Chi |
- Thư ký phiên toà: Bà Chu Tường Vy – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Thanh – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 142/2024/TLST- HNGĐ ngày 12 tháng 4 năm 2024 về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lê Thị Ngọc T, sinh năm 1997; trú tại: Số C, khu phố B, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
Bị đơn: Anh Võ Thanh H, sinh năm 1994; trú tại: Số D, khu phố T, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn chị Lê Thị Ngọc T trình bày:
Chị T và anh Võ Thanh H tự nguyện yêu nhau, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại UBND phường B, thị xã D (nay là thành phố D), tỉnh Bình Dương theo giấy chứng nhận kết hôn số 11 ngày 19 tháng 02 năm 2016. Hôn nhân của anh chị là tự nguyện và được hai bên gia đình chấp nhận. Sau khi kết hôn, chị T và anh H chung sống hạnh phúc được một thời gian thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh chị không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên xảy ra tranh cãi. Cuộc sống hôn nhân ngày càng ngột ngạt, không hạnh phúc, vợ chồng không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được. Một năm nay anh H đã bỏ đi, không có quan tâm gì đến vợ con. Nay, chị T thấy vợ chồng không thể tiếp tục chung sống được nữa nên làm đơn xin ly hôn với anh H.
Về con chung: Quá trình chung sống anh chị có một con chung là Võ Minh T1, sinh ngày 14/07/2016.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung: chị T không yêu cầu T2 án giải quyết.
Anh Võ Thanh H được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên toà.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn không chấp hành quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng dân sự:
[1.1] Chị T khởi kiện anh H yêu cầu được ly hôn, anh H có đăng ký hộ khẩu thường trú tại khu phố T, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.
[1.2] Anh H được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, chị T có đơn yêu cầu được xét xử vắng mặt, do đó Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt chị T và anh H theo quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về hôn nhân: Chị T và anh H tự nguyện tìm hiểu đăng ký kết hôn tại UBND phường B, thị xã D (nay là thành phố D), tỉnh Bình Dương theo giấy chứng nhận kết hôn số 11 ngày 19 tháng 02 năm 2016, do đó quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh H là hợp pháp.
[2.2] Quá trình tố tụng chị T xác định cuộc sống hôn nhân của vợ chồng không hạnh phúc, thường xuyên cãi nhau, nguyên nhân do không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung. Anh H đã bỏ nhà đi một năm nay, không còn quan tâm đến vợ con.
Chị T khai anh H đã bỏ nhà đi từ tháng 4/2023, không liên hệ gì với gia đình. Do đó, Tòa án triệu tập anh H bằng phương thức thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng theo Khoản 4 Điều 173 Bộ luật tố tụng dân sự, nhưng anh H vắng mặt, coi như từ bỏ quyền trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị T.
Xét thấy, mâu thuẫn của vợ chồng chị T và anh H đã trầm trọng, không còn quan tâm đến nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị T được ly hôn với anh H.
[2.3] Về con chung: vợ chồng chị T có con chung là Võ Minh T1, sinh ngày 14/7/2016, chị T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con, không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con.
Xét thấy, việc nuôi dưỡng con chưa thành niên là trách nhiệm chung của vợ chồng. Anh H đã bỏ vợ con đi đâu không rõ, hiện cháu T1 đang ở với chị T, vì vậy cần tiếp tục giao cháu T1 cho chị T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.
[2.4] Về tài sản chung, nghĩa vụ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp.
[4] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ :
- - Khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị Ngọc T đối với bị đơn anh Võ Thanh H về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con.
- - Về hôn nhân: Chị Lê Thị Ngọc T được ly hôn với anh Võ Thanh H (theo giấy chứng nhận kết hôn số 11 do UBND phường B, thị xã D (nay là thành phố D), tỉnh Bình Dương cấp ngày 19/02/2016).
- - Về con chung: Giao con chung là Võ Minh T1, sinh ngày 14/7/2016 cho chị Lê Thị Ngọc T trực tiếp nuôi dưỡng.
- Sau ly hôn, chị Lê Thị Ngọc T và anh Võ Thanh H đều có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục con chung; không có quyền cản trở anh, chị thực hiện quyền này. Vì lợi ích về mọi mặt của con khi một hoặc cả hai bên đương sự có yêu cầu, Tòa án sẽ quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng.
- - Về tài sản chung, nghĩa vụ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Về chi phí tố tụng: chị T tự nguyện nộp chi phí đăng báo 5.000.000₫ (năm triệu đồng) và đã nộp đủ.
3. Về án phí: Chị T phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai số 0002736 ngày 04/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
|
Phạm Thị Anh T3 |
Bản án số 78/2024/HNGĐ-ST ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 78/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: niêm yết
