TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 78/2024/HS-ST Ngày 14-5-2024 | |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM | |
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | |
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Duy Khoa
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hà Thị Nga
Bà Nguyễn Thị Mai
- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Ngọc Trâm - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Võ Thị Mai Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 5 năm 2024, Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 75/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 336/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:
Lê Văn T, sinh ngày 26 tháng 7 năm 1993 tại Thanh Hoá; nơi cư trú: Thôn C, xã Đ, huyện L, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn A và bà Lê Thị K; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 04/01/2024, tạm giam ngày 10/01/2024; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 04/01/2024, Lê Văn T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 16M5-8645 đi từ chỗ làm ở đường M, quận D, Hải Phòng đến khu vực bờ đê V để tìm mua ma túy về sử dụng. Tại đây, T gặp 01 nam giới không quen biết điều khiển xe mô tô Wave màu đen (không nhớ biển số) đi ngược chiều hỏi T có mua ma túy không, T nói có và điều khiển xe đi theo xe của nam giới trên. Trên đường đi T đưa cho nam giới này 100.000 đồng, nam giới dẫn T vào ngõ 276 Chợ Hàng, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng. Khi đến giữa ngõ, nam giới bảo T đứng chờ và đi vào 01 ngách nhỏ, khoảng 01 phút sau đi ra đưa cho T 01 túi nilon màu trắng rồi bỏ đi, T nhìn và biết đó là ma túy loại Heroine. T cầm túi ma túy vừa mua được ở tay trái, đi về đến khu vực trước cửa nhà số C Chợ H, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng thì bị lực lượng Công an yêu cầu dừng xe kiểm tra. Do hoảng sợ, T thả túi ma túy đang cầm ở tay trái xuống đất và bỏ xe chạy bộ về hướng ngược lại được khoảng 05 mét thì bị bắt giữ. Tổ công tác đưa T về vị trí túi nilon vừa thả xuống đất bên cạnh xe mô tô trước đó, kiểm tra bên trong túi nilon chứa chất bột màu trắng dạng cục, tại chỗ T khai nhận là ma túy Heroine của T vừa mua mục đích để sử dụng. Tổ công tác đã tiến hành thu giữ túi ma túy trên, đưa T cùng vật chứng về trụ sở Công an phường D lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Tại bản Kết luận giám định số 21/KL-KTHS ngày 08/01/2024 của Phòng K1 Công an thành phố H kết luận đối với chất bột màu trắng thu giữ của Lê Văn T: Chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,16 gam, loại Heroine.
Đối với nam giới bán ma túy cho T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L xác định được lai lịch, địa chỉ nên chưa có căn cứ để xử lý.
Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 16M5-8645 thu giữ của Lê Văn T, quá trình điều tra chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L tiếp tục xác minh, xử lý sau.
Bản cáo trạng số 88/CT-VKSLC ngày 15/4/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đã truy tố Lê Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
- Kiểm sát viên tại phiên tòa: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo với mức án từ 15 tháng đến 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong chứa số ma túy và vỏ bao gói còn lại sau giám định.
Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Tại phiên toà, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội và tội danh như Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đã truy tố. Bị cáo tỏ ra ăn năn hối hận và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận L, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến, phù hợp với vật chứng thu giữ, bản kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và công bố công khai tại phiên tòa đã có đủ cơ sở xác định: Khoảng 10 giờ 20 phút ngày 04/01/2024, Lê Văn T có hành vi cất giữ trái phép 0,16 gam ma túy, loại Heroine với mục đích để sử dụng bị Cơ quan Công an bắt quả tang tại khu vực trước cửa nhà số C Chợ H, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng. Bị cáo là người có đầy đủ khả năng điều khiển hành vi và nhận thức được việc cất giữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của nhà nước về các chất ma túy, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương nên cần xét xử nghiêm nhằm mục đích giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[6] Về hình phạt: Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo có hành vi tàng trữ trái phép ma túy là loại Heroine có khối lượng 0,16 gam; bị cáo phạm tội nghiêm trọng nên cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn trên mức khởi điểm của khung hình phạt, buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[7] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định “người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng”. Tuy nhiên, xét thấy các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.
[8] Về xử lý vật chứng: Heroine là ma túy thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành và vỏ bao gói không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.
[9] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Lê Văn T 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 04/01/2024.
- Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong số 21MT/PC09 đựng vỏ bao gói và số ma tuý còn lại sau giám định.
(Theo biên bản giao nhận tài sản, vật chứng ngày 17/4/2024 giữa Công an quận L và Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân).
- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Lê Văn T phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo bản án:
Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Duy Khoa |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Nguyễn Thị Mai | Bùi Duy Khoa |
Hà Thị Nga |
Bản án số 78/2024/HS-ST ngày 14/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 78/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Văn T tàng trữ trái phép chất ma túy
