|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TP TỈNH BT |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 78/2024/HS-ST. Ngày: 13-8-2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TP - TỈNH BT
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
+ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Trần Thị Thu Huyền
+ Các Hội thẩm nhân dân: bà Trần Thị Hà và ông Ngô Anh Tuấn.
-Thư ký phiên tòa: ông Phan Hoài Trọng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện TP.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TP tham gia phiên tòa: ông Trương Vĩnh Vinh – Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TP, tỉnh BT xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 71/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 78/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Tấn Đ (tên gọi khác: Lít), sinh ngày 27-6-1997 tại tỉnh BT.
Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: thôn Hội Tâm, xã Hoà Minh, huyện TP, tỉnh BT; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hồng Nhựt, sinh năm 1956 (đã chết) và bà Trương Thị Tư, sinh năm 1956; vợ, con: chưa có; tiền sự: không;
- Tiền án: 02;
+ Ngày 10-3-2020 bị Toà án nhân dân huyện TP xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 14/2020/HSST, chấp hành xong vào ngày 03-8-2020;
+ Ngày 19-11-2021 bị Toà án nhân dân huyện TP xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 152/2021/HSST, chấp hành xong vào ngày 29-4-2023.
- Hoạt động nhân thân:
+ Ngày 30-11-2017 bị Chủ tịch UBND xã Hoà Minh ban hành quyết định số 204/QĐ-UBND áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn với thời hạn 03 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”.
+ Ngày 02-7-2021 bị Chủ tịch UBND xã Hoà Minh ban hành quyết định số 235/QĐ-UBND áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn với thời hạn 03 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”.
Bị cáo tại ngoại, có mặt.
- Bị hại: Nguyễn Văn T, sinh năm 1946; địa chỉ: thôn Hội Tâm, xã Hoà Minh, huyện TP, tỉnh BT.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 16 giờ 00 phút, ngày 16-3-2024, Nguyễn Tấn Đ nhìn thấy nhà của ông Nguyễn Văn T có khoá cửa, không có ai trông coi nên nảy sinh ý định vào nhà ông Trúc để trộm cắp tài sản. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, Đạt cầm theo cây đèn pin đến nhà ông Trúc, kiểm tra thấy cửa sổ nhà ông Trúc không có chốt cài nên đã mở ra và thấy song cửa bị gãy, tạo một lỗ trống nên Đạt chui vào nhà lấy trộm 01 máy bơm tăng áp màu đỏ hiệu POWER SPRAYER 3WZ-22 được gắn trên giá đỡ bằng kim loại, 03 bộ bản lề cửa để trên bàn gỗ (gồm 01 bộ nhãn hiệu Việt Tiệp và 02 bộ không có nhãn hiệu) và 01 cái cân Nhơn Hoà loại 12kg. Sau đó, Đạt bỏ tất cả tài sản vừa trộm cắp vào một cái bao tải màu trắng mang ra bên ngoài, để trước nhà ông Trúc. Đạt đi về lại nhà của Đạt lấy xe mô tô nhãn hiệu DAMSEL biển số 86F9-5015 có số máy FMG-3*Y0246584, số khung LYLXCHL15YY0246616 để chở tài sản trộm cắp đem đi bán. Khi Đạt đang di chuyển trên Quốc lộ 1A thuộc xóm 7 thôn Hội Tâm, xã Hoà Minh thì bị lực lượng tuần tra phát hiện bắt giữ.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 33/KL-HĐĐG, ngày 15-4-2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện TP, kết luận: tổng giá trị tài sản bị trộm cắp là 795.000 đồng (Bảy trăm chín mươi lăm triệu đồng) gồm:
+ 01 máy bơm tăng áp màu đỏ, nhãn hiệu POWER SPRAYER 3WZ-22 (loại 2HP), trị giá 800.000 đồng/cái, giá trị sử dụng còn lại 60%, thành tiền 480.000 đồng (bốn trăm tám mươi nghìn đồng);
+ 01 cái cân màu xanh hiệu Nhơn Hoà, loại 12 kg, trị giá 455.000 đồng/cái, giá trị sử dụng còn lại 40%, thành tiền 182.000 đồng (một trăm tám mươi hai nghìn đồng);
+ 01 bộ bản lề màu đen bằng thép không gỉ, dài 13cm, có giá trị 40.000 đồng; 01 bộ bản lề Việt Tiệp bằng kim loại inox, dài 13cm, có giá trị 75.000 đồng; 01 bộ bản lề thường bằng kim loại sắt, dài 16cm, có giá trị 18.000 đồng.
Về tang, vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra đã thu hồi tài sản trộm cắp, sau khi định giá đã giao trả lại cho ông Nguyễn Văn T.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Văn T không yêu cầu bồi thường thêm khoản nào khác;
Riêng xe mô tô nhãn hiệu DAMSEL có số máy FMG-3*Y0246584, số khung LYLXCHL15YY0246616, được định giá 15.000.000 đồng/chiếc, giá trị sử dụng còn lại 20%, thành tiền là 3.750.000 đồng (ba triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) tách riêng để giải quyết theo Quyết định tách vụ án hình sự số 969, ngày 27-6-2024, Cơ quan điều tra đang tiếp tục điều tra xử lý.
Tại Bản Cáo trạng số 76/CT-VKSTP-HS, ngày 17 tháng 07 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện TP đã truy tố Nguyễn Tấn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TP giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng: điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo từ 01 (một năm) 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù
- Bị cáo Nguyễn Tấn Đ thừa nhận toàn bộ hành vi như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện TP đã truy tố và việc truy tố bị cáo là đúng, không oan. Bị cáo đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện TP, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện TP, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Tấn Đ không có ý kiến, cũng như không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện, đều hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã làm rõ: Do bị nghiện, Nguyễn Tấn Đ cần tiền mua ma tuý sử dụng nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản để bán lấy tiền. Vào lúc 23 giờ ngày 16-3-2024, bị cáo đã lẻn vào nhà ông Nguyễn Văn T bằng đường cửa sổ có song cửa bị gãy lấy trộm 01 máy bơm tăng áp màu đỏ hiệu POWER SPRAYER 3WZ-22 được gắn trên giá đỡ bằng kim loại, 03 bộ bản lề cửa để trên bàn gỗ (gồm 01 bộ nhãn hiệu Việt Tiệp và 02 bộ không có nhãn hiệu) và 01 cái cân nhãn hiệu Nhơn Hoà loại 12kg. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 33/KL-HĐĐG, ngày 15-4-2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện TP, kết luận: tổng giá trị tài sản bị trộm cắp là 795.000 đồng (Bảy trăm chín mươi lăm triệu đồng)
Do bị cáo Nguyễn Tấn Đ đã hai lần bị xét xử về tội “Trộm cắp tài sản”, lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trị giá 795.000 đồng (Bảy trăm chín mươi lăm triệu đồng) nên đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.
[3] Bị cáo là người đã trưởng thành nên có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận biết hành vi trộm cắp tài sản để bán lấy tiền tiêu xài là xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, sẽ bị pháp luật xử lý nhưng do không có nghề nghiệp, lại bị nghiện nên bị cáo đã cố ý thực hiện tội phạm. Hành vi của bị cáo đã ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang lo lắng cho cộng đồng dân cư. Vì vậy, cần thiết phải xử lý bị cáo một mức án nghiêm khắc nhằm răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân tốt, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, giá trị tài sản trộm cắp không lớn và đã được thu hồi giao trả cho người bị hại nên bị cáo phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo đã 02 lần bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản”, trong đó 01 lần bị kết án sẽ sử dụng vào việc định tội và 01 lần bị kết án còn lại sẽ phải chịu thêm tình tiết tăng nặng “tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, có nhân thân xấu nên Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc khi lượng hình đối với bị cáo.
[5] Về tang, vật chứng của vụ án: Đã trả lại tài sản cho bị hại trong giai đoạn điều tra nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Văn T không yêu cầu bồi thường dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[7] Lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, điều luật áp dụng và mức hình phạt là có căn cứ, phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8] Bị cáo Nguyễn Tấn Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điều 268, Điều 269 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tấn Đạt phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng: điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015;
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tấn Đ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi chấp hành án.
- Áp dụng: Khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, điểm a khoản 1 Điều 23 và Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí của Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Tấn Đ phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, bị hại có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (13-8-2024);
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm Phán-Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Thu Huyền |
Bản án số 78/2024/HS-ST ngày 13/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TP - TỈNH BT về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 78/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TP - TỈNH BT
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt Nguyễn Tấn Đ 01 năm 06 tháng tù
