Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SƠN LA

TỈNH SƠN LA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 78/2024/HS-ST

Ngày 10 - 6 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lò Thị Mai Hương

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thanh Thúy

Bà Nguyễn Thị Ngọc Lan

- Thư ký phiên toà: Ông Hà Văn Tía - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La tham gia phiên toà: Ông Tòng Thanh Quỳnh - Kiểm sát viên.

Ngày 10/6/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La mở phiên toà xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 76/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 5 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:

Phá Thành Công, sinh ngày 9 tháng 7 năm 1996, tại: thành phố S, tỉnh Sơn La; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ A, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: H'Mông (HMông); giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phá Vả C (đã chết) và bà Vừ Thị C1 (sinh năm 1962); có vợ là Hờ Thị D (sinh năm 1992) và 02 con, sinh lớn nhất sinh năm 2016, con nhỏ nhất sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 31/7/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La xử phạt 14 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/12/2023 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Phá Thị B, sinh năm: 1988; địa chỉ: Bản N, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ 15 phút ngày 14/12/2023, tổ công tác Công an phường C, thành phố S làm nhiệm vụ tại khu vực tổ B, phường C, thành phố S phát hiện Phá T, sinh năm 1996, nơi cư trú: tổ A, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La đang cất giữ 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng, bên trong đựng 01 túi nilon màu xanh, mở ra có 187 viên nén màu hồng, hình tròn đồng dạng, Công khai là ma túy Hồng phiến, cất giữ nhằm mục đích để bán kiếm lợi nhuận. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Phá Thành C2 và thu giữ vật chứng.

Vật chứng thu giữ là: 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng, bên trong đựng 01 túi nilon màu xanh, mở ra có 187 viên nén màu hồng, hình tròn đồng dạng; 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave a màu xám, biển kiểm soát: 26K1-305.21 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart Joy 4 màu đen có gắn 01 sim điện thoại số 0358.631.xxx, đã qua sử dụng.

Quá trình điều tra, Phá Thành Công khai nhận: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 14/12/2023, C2 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave a màu xám, biển kiểm soát: 26K1-305.21 đi từ nhà tại tổ A, phường C, thành phố S đến khu vực bản M, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La tìm mua ma túy với mục đích mang bán lại để kiếm lợi nhuận. Khi đến nơi, C2 điều khiển xe mô tô đi quanh bản thì gặp 01 người nam giới tên là Vì A L (là người quen của C2 từ trước, từng giới thiệu nhà tại bản M, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La). Qua trao đổi, C2 hỏi và mua được của L 01 gói ma túy Hồng phiến với số tiền 3.000.000đ (Ba triệu đồng), vỏ gói ma túy là 01 túi nilon màu xanh, được cất bên trong 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng. Sau khi mua được ma túy, C2 cất giấu vào túi áo khoác bên trái, phía trước đang mặc trên người rồi điều khiển xe mô tô đi tìm người có nhu cầu mua ma túy sẽ bán lại để kiếm lời. Khi đi đến khu vực tổ B, phường C, thành phố S, C2 dừng xe thì bị tổ công tác Công an phường C, Công an thành phố S kiểm tra phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng thu giữ.

Ngày 15/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S tiến hành bóc mở niêm phong, tách bì và cân tịnh xác định khối lượng và lấy mẫu giám định vật chứng thu giữ khi bắt quả tang Phá Thành Công. Kết quả: “187 viên nén màu hồng đồng dạng có tổng khối lượng là 19,42 gam; lấy 07 viên nén màu hồng có khối lượng 0,74 gam làm mẫu giám định, ký hiệu là T, còn lại 180 viên có khối lượng 18,68 gam làm mẫu lưu kho ký hiệu là Đ”.

Tại Kết luận giám định số: 08/KL-KTHS ngày 16/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh S kết luận: “Mẫu ký hiệu T gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,74 gam; Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 19,42 gam; loại Methamphetamine; Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định”.

Thực hiện điều tra đối với người bán trái phép chất ma túy cho Phá Thành C2, ngoài lời khai của bị cáo, quá trình điều tra, xác định trên địa bàn bản M, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La không có công dân nào cư trú, lưu trú, sinh sống có họ tên và đặc điểm như C2 mô tả. Ngoài lời khai của bị cáo, cơ quan chức năng không có cơ sở chứng minh, điều tra, xử lý theo vụ án.

Đối với 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave a màu xám, biển kiểm soát: 26K1- 305.21, số khung: RLHJA3921PY572018, số máy: JA39E-3222301, xe đăng ký mang tên Phá Thị B, địa chỉ: Bản N, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La (là chị gái ruột của C2). Quá trình điều tra xác định, khi cho Công mượn xe mô tô vào ngày 14/12/2023, chị Bầu k biết việc C2 sử dụng chiếc xe trên để thực hiện hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart Joy 4 màu đen, số IMEL1: 351088464024819, số IMEL2: 351088464024827 có gắn 01 sim điện thoại số 0358.631.xxx là tài sản của C2 mua và sử dụng từ năm 2022.

Tại bản cáo trạng số: 154/CT-VKSTP ngày 07/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La truy tố bị cáo Phá Thành C2 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, do hám lời, bị cáo đã mua ma túy cất giữ, mục đích để bán thì bị bắt như cáo trạng đã nêu. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với Phá Thành C2 và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo P Thành Công phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 11 (mười một) năm 6 (sáu) tháng đến 12 (mười hai) năm tù, không áp dụng hình phạt bổ sung – phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu và tiêu huỷ: Số ma túy còn lại sau giám định gồm: 180 (một trăm tám mươi) viên nén màu hồng đồng dạng có khối lượng là 18,68 gam Methamphetamine kí hiệu là Đ; 01 phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở, 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, 01 vỏ túi nilon màu xanh; trả lại cho chị Phá Thị B 01 (một) chiếc xe máy Honda Wave a màu xám, biển kiểm soát: 26K1 - 305.21; trả lại cho bị cáo 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart Joy 4 màu đen có gắn 01 sim điện thoại số 0358.631.xxx.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến gì tranh luận gì với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người khác không có ý kiến, khiếu nại, tố cáo về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội: Hồi 20 giờ 15 phút ngày 14/12/2023, Phá Thành C2, sinh năm 1996, trú tại: Tổ A, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La đã có hành vi cất giữ bán trái phép 19,42 gam ma túy để nhằm mục đích bán kiếm lời. Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng:

  • - Lời khai nhận tội của bị cáo.
  • - Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 20 giờ 20 phút ngày 14/12/2023 tại tổ B, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La đối với Phá Thành Công cùng vật chứng thu giữ là 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng, bên trong đựng 01 túi nilon màu xanh, mở ra có 187 viên nén màu hồng, hình tròn đồng dạng (Công khai là ma túy Hồng phiến, cất giữ nhằm mục đích để bán kiếm lợi nhuận).
  • - Biên bản niêm phong vật chứng;
  • - Biên bản bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định và niêm phong lại;
  • - Kết luận giám định số 08/KL-KTHS ngày 16/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh S;
  • - Lời khai của ông Đồng Trọng S, sinh năm 1958, trú tại tổ C, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La, là người chứng kiến việc bắt người phạm tội quả tang.

Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với nội dung kết luận điều tra, cáo trạng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu đã được thu thập và phản ánh trong hồ sơ của vụ án, được thẩm tra, xác minh tại phiên toà.

Từ các căn cứ nêu trên, có đủ cơ sở kết luận bị cáo P Thành Công phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

[3] Về tính chất mức độ của hành vi: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, trước và trong khi phạm tội, bị cáo ý thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật nhưng do hám lời, bị cáo đã coi thường kỉ cương xã hội, pháp luật của Nhà nước, vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền của Nhà nước về kiểm soát và quản lý chất ma tuý. Với lỗi cố ý trực tiếp bị cáo không chỉ cất giấu, cất giữ mà còn nhằm mục đích để bán trái phép chất ma túy để kiếm lời với tổng khối lượng 19,42 gam, đã vi phạm vào tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, khung hình phạt có mức phạt tù từ 07 năm đến 15 năm và thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng.

Hành vi phạm tội của bị cáo không những làm ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ, sự phát triển về thể chất, suy giảm khả năng lao động do nghiện ma túy của con người, ảnh hưởng xấu về trật tự an toàn xã hội, trật tự trị an ở địa phương, là nguyên nhân gây ra những loại tội phạm, vi phạm pháp luật khác nên Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật áp dụng là đúng người, đúng tội; tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát luận tội quy kết bị cáo phạm tội và đề nghị phạt tù đối với bị cáo là có căn cứ và phù hợp.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị kết án nhưng vẫn tiếp tục phạm tội, là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy, không có khả năng tự cải tạo. Do đó, cần thiết phải cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để đảm bảo giáo dục, cải tạo thành người tốt, có ích cho xã hội và cũng nhằm răn đe, phòng ngừa, giáo dục cho hành vi tương tự.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, khai nhận đầy đủ, đúng sự thật tất cả những gì liên quan đến hành vi phạm tội, ăn năn hối cải, mong muốn sửa chữa, cải tạo mình thành người có ích cho gia đình và xã hội. Do đó, xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, bản thân bị cáo không có công việc, thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị, hiện đang sống cùng với gia đình, xét việc áp dụng hình phạt bổ sung không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về biện pháp ngăn chặn: Áp dụng Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm việc thi hành án; bị cáo bị tạm giữ, giam từ ngày 14/12/2023 được xem xét khấu trừ vào thời gian chấp hành hình phạt tù.

[8] Vật chứng của vụ án: Đối với 18,68 (mười tám phẩy sáu mươi tám) gam Methamphetamin ký hiệu là Đ hiện đang lưu kho vật chứng, là vật cấm tàng trữ, lưu hành; 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, 01 vỏ túi nilon màu xanh là vật chứng không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave a màu xám, biển kiểm soát: 26K1-305.21, số khung: RLHIA3921PY572018, số máy: JA39E-3222301, xe cũ đã qua sử dụng, là tài sản mua bán ngay tình của chị Phá Thị B, do đó, căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự, cần trả lại cho chị Phá Thị B.

Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart Joy 4 màu đen, số IMEL1: 351088464024819, số IMEL2: 351088464024827 có gắn 01 sim điện thoại số 0358.631.xxx là tài sản của cá nhân bị cáo, không có căn cứ chứng minh việc bị cáo sử dụng chiếc điện thoại trên để liên hệ mua bán ma túy. Do đó, cần trả lại cho bị cáo.

[9] Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo tên là L, bị cáo không biết tuổi, địa chỉ, ngoài lời khai của bị cáo, cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra và không thu thập thêm được chứng cứ nào khác nên không có cơ sở chứng minh xử lý theo vụ án.

[10] Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm i khoản 2 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1, Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

    Tuyên bố: Bị cáo Phá Thành C2 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

    Xử phạt: Bị cáo Phá Thành Công 11 (mười một) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 14/12/2023). Không áp dụng hình phạt bổ sung – phạt tiền đối với bị cáo.

  2. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
    • - Tịch thu và tiêu hủy: 18,68 (mười tám phẩy sáu mươi tám) gam Methamphetamin ký hiệu là Đ; 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, 01 vỏ túi nilon màu xanh.
    • - Trả lại cho chị Phá Thị B 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave a màu xám, biển kiểm soát: 26K1-305.21, số khung: RLHIA3921PY572018, số máy: JA39E-3222301, xe cũ đã qua sử dụng.
    • - Trả lại cho bị cáo 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart Joy 4 màu đen, số IMEL1: 351088464024819, số IMEL2: 351088464024827 có gắn 01 sim điện thoại số 0358.631.xxx.

    (Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/5/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố S và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La).

  3. Về án phí: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Phá Thành C2 phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 10/6/2024).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sơn La;
  • - Sở tư pháp tỉnh Sơn La;
  • - VKSND thành phố Sơn La;
  • - Công an thành phố Sơn La;
  • - Chi cục THA dân sự thành phố Sơn La;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan;
  • - THAHS;
  • - Lưu: Hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lò Thị Mai Hương

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA

PHIÊN TÒA

Hoàng Thanh Thúy Nguyễn Thị Ngọc Lan

Lò Thị Mai Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 78/2024/HS-ST ngày 10/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 78/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án số 78/2024/HS-ST ngày 10/6/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger