|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 78/2024/HNGĐ-ST
Ngày 10-6-2024
V/v ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Công Định;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lãnh Văn Việt
Ông Vũ Ngọc Côn
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Chung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Vĩnh - Kiểm sát viên;
Ngày 10 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 130/2024/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2024 về việc “Ly hôn”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 20 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị S, sinh năm 1979 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
Địa chỉ: Thôn K, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Bị đơn: Ông Nguyễn Duy N, sinh năm 1976 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
Địa chỉ: Thôn K, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 12/3/2024 và các lời khai có trong hồ sơ vụ án, chị Hoàng Thị S trình bày: Chị và anh Nguyễn Duy N kết hôn với nhau vào năm 1996 những đến ngày 31/5/2004 mới đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Trước khi kết hôn hai bên được tự do tìm hiểu và tự nguyện lấy nhau. Sau khi kết hôn, chị về nhà anh N làm dâu ngay. Tình cảm vợ chồng thời gian đầu hòa thuận, hạnh phúc. Đầu năm 2021 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, anh N còn bạo lực gia đình. Vợ chồng không còn tôn trọng, yêu thương nhau, tình trạng hôn nhân căng thẳng, trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh N.
Về con chung: Vợ chồng chị có 02 con chung là Nguyễn Thị Minh A, sinh năm 1997 và Nguyễn Duy V, sinh năm 1998. Cả 02 cháu đều đã đủ tuổi trưởng thành, khoẻ mạnh bình thường nên anh chị không yêu cầu Toà án giải quyết về con chung.
Về tài sản chung, nợ chung của vợ chồng: Chị và anh N tự thoả thuận nên không đề nghị Toà án giải quyết.
Tại phiên toà hôm nay chị S có đơn xin xét xử vắng mặt.
Bị đơn là anh Nguyễn Duy N trình bày: Anh thừa nhận thời gian kết hôn, có đăng ký kết hôn như chị S trình bày là đúng, anh cũng thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, hay cãi nhau anh cũng có đánh chị S vài cái. Tuy nhiên anh xác định mâu thuẫn vợ chồng chưa lớn và anh vẫn còn tình cảm vợ chồng với chị S, vì vậy chị S xin ly hôn anh không đồng ý.
Về con chung: Anh xác nhận vợ chồng có 02 con chung như chị S trình bày là đúng. Cả 02 cháu đều đã đủ tuổi trưởng thành, khoẻ mạnh bình thường nên anh không yêu cầu Toà án giải quyết về con chung.
Về tài sản chung, nợ chung của vợ chồng: Anh và chị S tự thoả thuận nên không đề nghị Toà án giải quyết..
Tại phiên toà hôm nay anh N có đơn xin xét xử vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký thực hiện đúng và đầy đủ thủ tục tố tụng. Các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thực hiện đúng trình tự của phiên tòa sơ thẩm.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xử:
Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Hoàng Thị S và anh Nguyễn Duy N được ly hôn. Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề xuất giải quyết án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Hoàng Thị S và anh Nguyễn Duy N vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị S, anh N theo quy định tại Điều 227, Điều 228; Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Hoàng Thị S khởi kiện yêu cầu Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn giải quyết việc ly hôn với anh Nguyễn Duy N, anh Nguyễn Duy N có địa chỉ tại xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Đây là quan hệ tranh chấp Hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Về Nội dung: Chị S và anh N đều thừa nhận tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang ngày 31/5/2004 theo giấy chứng nhận kết hôn số 146 quyển số 02 của UBND xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Do đó xác định quan hệ hôn nhân giữa chị S và anh N là hợp pháp. Do vợ chồng mâu thuẫn, chị S khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị S được ly hôn anh N.
Xét yêu cầu khởi kiện của chị S, Hội đồng xét xử thấy:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Các lời khai của chị S và anh N đều thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn, chị S và anh N đều cho rằng nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, hay cãi nhau và trong lúc nóng giận anh N cũng có đánh chị S. Đối với yêu cầu xin ly hôn của chị S Hội đồng xét xử xét thấy: Mặc dù anh N xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, mâu thuẫn chưa lớn nên muốn đoàn tụ nhưng không đưa ra giải pháp cụ thể, để mâu thuẫn vợ chồng kéo dài. Thực tế chị S và anh N không còn quan tâm, chăm sóc, yêu thương nhau là không đảm bảo theo Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình. Do đó, có căn cứ xác định hôn nhân giữa chị S và anh N đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình HĐXX chấp nhận yêu cầu của chị S, xử cho chị Hoàng Thị S và anh Nguyễn Duy N được ly hôn.
[3.2] Về con chung: Chị S, anh N đều không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[3.4] Về tài sản chung, nợ chung của vợ chồng: Chị S, anh N đều không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[4] Án phí: Chị Hoàng Thị S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và tiểu mục 1.1 mục 1 phần II danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271,273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Văn S1.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hoàng Thị S và anh Nguyễn Duy N được ly hôn.
- Án phí: Chị Hoàng Thị S phải chịu 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0006061, ngày 20/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn. Xác nhận chị S đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đặng Công Định |
Bản án số 78/2024/HNGĐ-ST ngày 10/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn
- Số bản án: 78/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoàng Thị S - Nguyễn Duy N
