Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 78/2024/DS-ST

Ngày: 09-8-2024

V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Hữu Phúc

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trương Thành Tuấn
  2. Bà Nguyễn Thị Ngọc Kiều

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Anh Đào - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: bà Trần Thị Mỹ Phương – Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 160/2023/TLST-DS ngày 07 tháng 11 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 194/2024/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 7 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 186/2024/QÐST-DS ngày 23 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng N;

Địa chỉ: Số B L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V – Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: bà Đỗ Thị Thanh T– Giám đốc Ngân hàng N chi nhánh huyện C, tỉnh An Giang (Theo quyết định ủy quyền số 2665/QĐ-NHNo-PC ngày 01/12/2022).

Bà Đỗ Thị Thanh T ủy quyền lại cho bà Nguyễn Võ Thanh T1, sinh năm 1983 (Theo giấy ủy quyền số 170/UQ-NHNo.CT ngày 05/7/2024; bà T1 có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt).

Địa chỉ nơi làm việc: số C Quốc lộ I, khóm H, thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang.

- Bị đơn: ông Nguyễn Thành T2, sinh năm: 1995 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp P, xã B, huyện C, tỉnh An Giang.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Văn T3, sinh năm: 1948 (vắng mặt)
  2. Bà Hồ Thị D, sinh năm: 1952 (vắng mặt)
  3. Bà Nguyễn Thị T4, sinh năm: 1985 (vắng mặt)
  4. Anh Nguyễn Thành V1, sinh năm: 2000 (vắng mặt)
  5. Chị Võ Thị Bảo L, sinh năm: 2008 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp P, xã B, huyện C, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện ngày 08/8/2023, quá trình tố tụng, đại diện nguyên đơn bà Đỗ Thị Thanh T trình bày: ngày 14/10/2020 ông Nguyễn Thành T2 có ký kết hợp đồng số 6709LAV202002341 để vay của Ngân hàng N số tiền 350.000.000 đồng, thời hạn vay 12 tháng, từ ngày 14/10/2020 đến ngày 14/10/2021, lãi suất trong hạn là 09%/năm, lãi suất quá hạn là 150% lãi suất trong hạn, mục đích vay bổ sung vốn kinh doanh.

Để đảm bảo cho khoản vay ông Nguyễn Thành T2 có ký kết hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất số 541/HĐTC ngày 14/10/2020 với Ngân hàng N để thế chấp một quyền sử dụng đất diện tích 1.160,5m² tọa lạc tại ấp P, xã B, huyện C, tỉnh An Giang, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS06799 cấp ngày 10/12/2019, thửa số 42, tờ bản đồ số 02 đứng tên Nguyễn Thành T2.

Quá trình thực hiện hợp đồng ông Nguyễn Thành T2 trả vốn được 5.000.000 đồng và trả lãi được 38.058.902 đồng thì vi phạm hợp đồng. Tính đến ngày 08/8/2023 ông Nguyễn Thành T2 còn nợ Ngân hàng N số tiền vốn gốc và lãi là 420.031.233 đồng

Nay Ngân hàng N yêu cầu ông Nguyễn Thành T2 thanh toán số tiền vốn gốc là 345.000.000 đồng và tiền lãi tạm tính đến ngày 08/8/2023 là 75.031.233 đồng, tiếp tục tính lãi phát sinh trên vốn gốc theo mức lãi suất thỏa thuận đến khi thanh toán xong toàn bộ số nợ. Yêu cầu tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất số 541/HĐTC ngày 14/10/2020 để đảm bảo thi hành án.

* Tòa án đã triệu tập bị đơn ông Nguyễn Thành T2 nhưng ông Nguyễn Thành T2 vắng mặt, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

* Tòa án đã triệu tập những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng tất cả đều vắng mặt, không có văn bản trình bày ý kiến. Tại biên bản lấy lời khai ngày 25/6/2024 ông Nguyễn Văn Tú B bà Hồ Thị D trình bày diện tích 1.160,5m² tọa lạc tại ấp P, xã B, huyện C, tỉnh An Giang Nguyễn Thành T2 thế chấp cho Ngân hàng N thuộc quyền sử dụng của Nguyễn Thành T2, trên đất có một căn nhà gỗ thuộc sở hữu chung của gia đình, hiện gia đình gồm ông T3, bà D, T2, Nguyễn Thị T4, Nguyễn Thành V1 và Võ Thị Bảo L quản lý sử dụng, trước yêu cầu khởi kiện của ngân hàng thì ông bà xin ngân hàng G cho T2 thời gian trả nợ, ngoài ra không có ý kiến gì khác.

Tại phiên tòa,

- Đại diện nguyên đơn bà Nguyễn Võ Thanh T1 có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu ông Nguyễn Thành T2 trả cho Ngân hàng N số tiền vốn gốc là 345.000.000 đồng và lãi tính đến ngày 09/8/2024 là 124.552.911 đồng, bao gồm lãi trong hạn là 83.126.918 đồng và lãi quá hạn là 41.425.993 đồng, tiếp tục tính lãi theo hợp đồng số 6709LAV202002341 ngày 14/10/2020 đối với nợ gốc chưa thanh toán cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

Trường hợp ông Nguyễn Thành T2 không trả nợ hoặc trả không đủ số tiền nợ của Hợp đồng vay tài sản số 6709LAV202002341 ngày 14/10/2020, thì Ngân hàng N có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất diện tích 1.160,5m² tọa lạc tại ấp P, xã B, huyện C, tỉnh An Giang, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS06799 cấp ngày 10/12/2019, thửa số 42, tờ bản đồ số 02 đứng tên Nguyễn Thành T2 theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 541/HĐTC ngày 14/10/2020 để thu hồi nợ.

- Bị đơn ông Nguyễn Thành T2 vắng mặt, không có văn bản trình bày ý kiến.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn T3, Hồ Thị D, Nguyễn Thị T4, Nguyễn Thành V1, Võ Thị Bảo L vắng mặt, không có văn bản trình bày ý kiến

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu:

  • + Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn, bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
  • + Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn trả số tiền vốn gốc là 345.000.000 đồng và tiền lãi tạm tính đến ngày 09/8/2024 là 124.552.911 đồng, tiếp tục tính lãi theo thỏa thuận trong hợp đồng số 6709LAV202002341 ngày 14/10/2020 đối với nợ gốc. Trường hợp ông Nguyễn Thành T2 không trả nợ hoặc trả không đủ số nợ thì ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự phát mãi tài sản bảo đảm để thi hành án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

1.1 Về quan hệ pháp luật: Ngân hàng N và ông Nguyễn Thành T2 xác lập quan hệ vay vốn thông qua hợp đồng cho vay từng lần ngắn hạn, tuy nhiên ông Nguyễn Thành T2 không có đăng ký kinh doanh nên tranh chấp giữa Ngân hàng N và ông Nguyễn Thành T2 được xác định là tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.

1.2 Về thẩm quyền giải quyết: ông Nguyễn Thành T2 thường trú tại ấp P, xã B, huyện C, tỉnh An Giang nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

1.3 Về sự có mặt của đương sự: đại diện nguyên đơn bà Nguyễn Võ Thanh T1 có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; các ông bà Nguyễn Thành T2, Nguyễn Văn T3, Hồ Thị D, Nguyễn Thị T4, Nguyễn Thành V1, Võ Thị Bảo L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về nội dung tranh chấp:

2.1 Căn cứ vào lời trình bày của đương sự và các chứng cứ có trong hồ sơ là: bản sao hợp đồng cho vay số 6709LAV202002341 ngày 14/10/2020 có chữ ký của ông Nguyễn Thành T2 và đại diện Ngân hàng N đã xác định ông Nguyễn Thành T2 có vay của Ngân hàng N số tiền 350.000.000 đồng, thời hạn vay 12 tháng, mục đích vay: bổ sung vốn kinh doanh, lãi trong hạn 09%/năm, lãi quá hạn 150% lãi suất trong hạn. Sự thỏa thuận giữa Ngân hàng N và ông Nguyễn Thành T2 là hoàn toàn tự nguyện, mục đích và nội dung thỏa thuận không trái đạo đức, pháp luật nên được xem là hợp pháp và được pháp luật bảo vệ khi xảy ra tranh chấp. Quá trình thực hiện hợp đồng ông Nguyễn Thành T2 vi phạm thỏa thuận chỉ trả vốn được số tiền 5.000.000 đồng và trả lãi được số tiền 38.058.902 đồng. Tính đến ngày xét xử sơ thẩm ông Nguyễn Thành T2 còn nợ Ngân hàng N số tiền vốn gốc theo hợp đồng 6709LAV202002341 ngày 14/10/2020 là 345.000.000 đồng, việc vi phạm thỏa thuận này đã làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, nguyên đơn yêu cầu ông Nguyễn Thành T2 thanh toán toàn bộ vốn gốc còn nợ là phù hợp nên được hội đồng xét xử chấp nhận.

Do đó, căn cứ vào Điều 463, khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N, buộc ông Nguyễn Thành T2 có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng N số tiền vốn gốc còn nợ là 345.000.000 đồng (ba trăm bốn mươi lăm triệu đồng).

2.2 Về lãi suất:

Căn cứ hợp đồng cho vay số 6709LAV202002341 ngày 14/10/2020 giữa Ngân hàng N và ông Nguyễn Thành T2 xác định lãi suất thỏa thuận là 09%/năm, lãi suất quá hạn là 150% lãi suất trong hạn. Quá trình thực hiện hợp đồng ông Nguyễn Thành T2 vi phạm hợp đồng, nay Ngân hàng N yêu cầu tính lãi theo thỏa thuận đến ngày xét xử sơ thẩm 09/8/2024 là 124.552.911 đồng, bao gồm lãi trong hạn là 83.126.918 đồng và lãi quá hạn là 41.425.993 đồng, đồng thời tiếp tục tính lãi trên nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi thỏa thuận từ ngày xét xử đến khi ông Nguyễn Thành T2 thanh toán xong toàn bộ số nợ là phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

2.3 Về biện pháp bảo đảm:

Ngày 14/10/2020 Ngân hàng N và ông Nguyễn Thành T2 ký kết hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 541/HĐTC với nội dung thế chấp quyền sử dụng đất diện tích 1.160,5m² tọa lạc tại ấp P, xã B, huyện C, tỉnh An Giang, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS06799 cấp ngày 10/12/2019, thửa số 42, tờ bản đồ số 02 đứng tên Nguyễn Thành T2 để đảm bảo cho hợp đồng cho vay số 6709LAV202002341 ngày 14/10/2020 và tất cả các hợp đồng cho vay ký giữa Ngân hàng N và ông Nguyễn Thành T2 phát sinh trong tương lai.

Xét thấy thỏa thuận của các bên trong hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 541/HĐTC ngày 14/10/2020 là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, tài sản bảo đảm được đăng ký thế chấp tại Văn phòng Đ – chi nhánh C, tỉnh An Giang ngày 14/10/2020 nên phát sinh hiệu lực đối với các bên liên quan.

Căn cứ biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 20/3/2024 trên diện tích ông Nguyễn Thành T2 thế chấp cho Ngân hàng N có tài sản là một căn nhà gỗ thuộc quyền sở hữu của gia đình ông Nguyễn Thành T2, gồm nhà chính ngang 7,2m, dài 14,2m kết cấu khung cột gỗ, sàn lót ván, vách ván, mái lợp ngói; nhà bếp diện tích ngang 7,2m dài 3m, kết cấu xây bó nền, nền lót gạch bông, vách ván, mái lợp tấm fibro xi măng; ngoài ra trên đất còn có các cây trồng khác. Các tài sản này thuộc quyền sở hữu của gia đình ông Nguyễn Thành T2 và hiện do ông Nguyễn Văn T3, bà Hồ Thị D, ông Nguyễn Thành T2, bà Nguyễn Thị T4, anh Nguyễn Thành V1 và em Võ Thị Bảo L quản lý sử dụng. Xét thấy các tài sản nói trên chưa đăng ký quyền sở hữu tuy nhiên tại mục 1.4 điều 01 hợp đồng thế chấp số 541/HĐTC ngày 14/10/2020 các bên cũng thỏa thuận tài sản gắn liền với đất và toàn bộ giá trị tăng lên và sẽ đầu tư vào tài sản thế chấp cũng thuộc tài sản thế chấp, hợp đồng thế chấp 541/HĐTC ngày 14/10/2020 có nội dung và hình thức phù hợp với quy định pháp luật nên có hiệu lực pháp luật, do đó Ngân hàng N yêu cầu trong trường hợp ông Nguyễn Thành T2 không trả nợ hoặc trả không đủ số tiền nợ của Hợp đồng vay tài sản số 6709LAV202002341 ngày 14/10/2020, thì Ngân hàng N có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất diện tích 1.160,5m² tọa lạc tại ấp P, xã B, huyện C, tỉnh An Giang, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS06799 cấp ngày 10/12/2019, thửa số 42, tờ bản đồ số 02 đứng tên Nguyễn Thành T2 theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 541/HĐTC ngày 14/10/2020 để thu hồi nợ là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận, tuy nhiên cần dành cho các đồng chủ sở hữu các tài sản trên đất là các ông bà Nguyễn Văn T3, Hồ Thị D, Nguyễn Thị T4, Nguyễn Thành V1, Võ Thị Bảo L được quyền ưu tiên nhận chuyển nhượng nếu họ có nhu cầu.

[3] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Căn cứ Điều 157 Bộ luật tố tụng dân sự, do yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng N được chấp nhận nên bị đơn ông Nguyễn Thành T2 phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, số tiền là 1.000.000 đồng (một triệu đồng). Số tiền này nguyên đơn đã nộp tạm ứng nên cần buộc bị đơn hoàn trả lại cho nguyên đơn.

[4] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ vào quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 18, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

  • - Nguyên đơn được chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
  • - Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[5] Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 227, Điều 228, Điều 238, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 317, Điều 318, Điều 319, Điều 320, Điều 321, Điều 322, điều 323, Điều 327, Điều 357, Điều 463, khoản 1 và khoản 5 Điều 466, khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự; Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 8a, Điều 12 nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/6/2006 được sửa đổi, bổ sung bởi nghị định 83/2010/NĐ-CP ngày 23/7/2010 và nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N.

Buộc ông Nguyễn Thành T2 có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng N số tiền vốn gốc là 345.000.000 đồng (ba trăm bốn mươi lăm triệu đồng) và tiền lãi là 124.552.911 đồng (một trăm hai mươi bốn triệu năm trăm năm mươi hai ngàn chín trăm mười một đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền vốn gốc còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho vay số 6709LAV202002341 ngày 14/10/2020 giữa Ngân hàng N và ông Nguyễn Thành T2.

2. Trường hợp ông Nguyễn Thành T2 không trả nợ hoặc trả không đủ số tiền nợ của Hợp đồng vay tài sản số 6709LAV202002341 ngày 14/10/2020, thì Ngân hàng N có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất diện tích 1.160,5m² tọa lạc tại ấp P, xã B, huyện C, tỉnh An Giang, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS06799 cấp ngày 10/12/2019, thửa số 42, tờ bản đồ số 02 đứng tên Nguyễn Thành T2 theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 541/HĐTC được lập ngày 14/10/2020 tại văn phòng C để thu hồi nợ. Các ông bà Nguyễn Văn T3, Hồ Thị D, Nguyễn Thị T4, Nguyễn Thành V1, Võ Thị Bảo L được quyền ưu tiên mua tài sản phát mãi (nhận chuyển nhượng) nếu có nhu cầu.

3. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Buộc ông Nguyễn Thành T2 hoàn trả cho Ngân hàng N số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng).

4. Về án phí sơ thẩm:

  • - Ngân hàng N được nhận lại số tiền 10.400.000 đồng (mười triệu bốn trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004254 ngày 06/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
  • - Ông Nguyễn Thành T2 phải chịu 22.782.116 đồng (hai mươi hai triệu bảy trăm tám mươi hai ngàn một trăm mười sáu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Ngân hàng N, các ông bà Nguyễn Võ Thanh T1, Nguyễn Thành T2, Nguyễn Văn T3, Hồ Thị D, Nguyễn Thị T4, Nguyễn Thành V1, Võ Thị Bảo L có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện
  • Châu Thành, tỉnh An Giang;
  • - Phòng kiểm tra nghiệp vụ và thi hành án
  • Tòa án nhân dân tỉnh An Giang;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Đỗ Hữu Phúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 78/2024/DS-ST ngày 09/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 78/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger