1
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU TỈNH BẠC LIÊU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc.
|
Bản án số 78/2024/HS-ST
Ngày 08 tháng 8 năm 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Phương Bình.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Tuấn Kiệt
- Bà Lâm Thị Nguyệt Hồ
- Thư ký phiên tòa: Bà Hồng Thị Xuân.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Hà Quốc Huy - Kiểm sát viên.
Trong ngày 08 tháng 8 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 77/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 74/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Giang Thành Đ, sinh ngày 01/01/1990; Giới tính: Nam. Nơi cư trú: Số C, Khóm F, Phường E, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Không. Trình độ học vấn: Không biết chữ. Con ông Giang Thành C, sinh năm 1962 và bà Dương Thị H, sinh năm 1962. Anh, em ruột gồm 05 người, lớn nhất sinh năm 1989, nhỏ nhất sinh năm 2006. Tiền án: Không.
Tiền sự 01: Ngày 07/4/2023, Toà án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu ban hành Quyết định số 43/QĐ-TA, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 20 tháng.
Nhân thân:
- Ngày 15/6/2017, Công an phường N, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu ra Quyết định số 38/QĐ-XPHC, về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, mức phạt 750.000 đồng, đã chấp hành xong.
- Ngày 04/11/2019, Toà án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu ban hành Quyết định số 138/QĐ-TA, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 18 tháng, đã chấp hành xong ngày 09/9/2021.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh Bạc Liêu. (Có mặt).
* Bị hại: Anh Phan Văn L, sinh ngày 18/3/1976.
Nơi ở hiện tại: Số C, Khóm H, Phường E, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 13 giờ, ngày 01/11/2019, tại khu vực dưới chân cầu T, Khóm H, Phường E, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu, bị cáo Giang Thành Đ cùng với người tên L1 (không rõ nhân thân) đã thực hiện hành vi lấy trộm tài sản là 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave S, màu nâu-xám, biển kiểm soát 94K1-175.29 của anh Phan Văn L có trị giá theo định giá là 7.200.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 83/ CT-VKS-HS ngày 07 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu đã truy tố bị cáo Giang Thành Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên toà có quan điểm không thay đổi so với bản Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo. Tuy nhiên, cũng cần xem xét bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nên đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo; xét quá trình làm việc tại Công an P, thành phố B và tại Cơ quan điều tra bị cáo có khai nhận lấy trộm tài sản của anh L, sau đó bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng tình tiết thành khẩn khai báo đối với bị cáo. Từ đó, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Giang Thành Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Giang Thành Đ mức án từ 06 tháng đến 07 tháng tù.
- Về trách nhiệm dân sự: Anh Phan Văn L không yêu cầu bồi thường về trách nhiệm dân sự, nên đề nghị không xem xét giải quyết.
Tại phiên tòa bị cáo Giang Thành Đ không thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng Viện kiểm sát truy tố, nhưng xin được sớm về gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- [2] Về sự vắng mặt của anh Phan Văn L: Anh Phan Văn L đã được Toà án triệp tập hợp lệ đến Toà án để xét xử nhưng đã vắng mặt, quá trình tố tụng đã có đầy đủ lời khai, việc vắng mặt của anh L không ảnh hưởng đến việc xét xử, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị hại như ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà.
-
[3] Tại phiên tòa và quá trình điều tra bị cáo Giang Thành Đ không thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo, không thừa nhận hành vi cùng người tên L1 lấy trộm xe của anh Phan Văn L.
Hội đồng xét xử xét thấy, tại các Biên bản ghi lời khai của bị cáo Đ tại Công an P, thành phố B, khi anh Phan Văn L bị mất xe đã trình báo Công an P, thành phố B mời bị cáo Giang Thành Đ làm việc, tại Cơ quan Điều tra Công an thành phố B và tại Cơ sở Cai nghiện ma tuý tỉnh Bạc Liêu bị cáo Đ đã thừa nhận: Vào khoảng 13 giờ, ngày 01/11/2019, bị cáo Giang Thành Đ và người tên L1 (không rõ nhân thân) quen biết nhau và có sử dụng ma túy chung cùng uống nước tại gần cầu T, Khóm H, Phường E, thành phố B, thì thấy anh Phan Văn L điều khiển xe mô tô hiệu Honda, loại Wave S, màu nâu xám, chạy qua và dừng xe ở lề đường, đi vào khu vực có nhiều cây cỏ để nhổ cây ngải, chìa khóa vẫn còn để trên xe. L1 nói với bị cáo Đ “Chiếc xe kìa mầy ơi, lấy luôn”, bị cáo Đ trả lời đồng ý thì bị cáo Đ đi đến nói chuyện với anh L, mục đích phân tán sự chú ý để L1 lấy xe mô tô biển kiểm soát 94K1-175.29, đề nổ máy chạy đi. Khi thấy L1 đã lấy được xe, bị cáo Đ nói “Có người đã lấy trộm xe” để L đi tìm còn bị cáo Đ đi bộ về nhà. Sau khi cùng với L1 lấy trộm tài sản, bị cáo Đ có gặp và được L1 cho biết đã bán xe nhưng tiền đã sử dụng hết nên không chia cho bị cáo Đ. Như vậy, chính bị cáo đã khai nhận cùng với người tên L1 thực hiện hành vi lấy tài sản là xe mô tô của anh L, nhưng sau đó bị cáo không thừa nhận hành vi cùng người tên L1 lấy xe mô tô của anh L; những lời khai trên của bị cáo Đ là phù hợp với lời khai của anh L, Biên bản xác định địa điểm trộm, Biên bản nhận dạng của bị cáo đối với người tên L1.
Do đó, việc bị cáo Đ không thừa nhận đã lấy trộm xe của anh L như lời khai trên, nhưng hành vi của bị cáo Giang Thành Đ đã cùng người tên L1 cùng nhau thống nhất lấy trộm xe anh L để bán xe lấy tiền cho mục đích cá nhân, dù bị cáo Đ không được người tên L1 chia tiền, nhưng hành vi của bị cáo Đ đã thống nhất hành vi cùng người tên L1 lấy tài sản là xe mô tô của anh L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự.
-
[4] Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của những người có liên quan, Biên bản xác định địa điểm trộm của bị cáo Đ và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử nhận thấy từ động cơ vụ lợi bất chính nhằm lấy tiền mua ma tuý sử dụng do bị cáo đã nghiện ma tuý từ năm 17 tuổi và ngày 01/11/2019 thì bị cáo Đ đang cùng tìm ma tuý để sử dụng, bị cáo Đ đã cùng nhau thực hiện hành vi lấy trộm tài sản là chiếc xe mô tô của anh L; tại bản Kết luận định giá tài sản số 34/KL-HĐĐGTS, ngày 07/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B, kết luận: “01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave S, màu nâu-xám, biển kiểm soát 94K1-175.29, tính đến ngày 01/11/2019, giá trị thành tiền còn lại là 7.200.000 đồng (bảy triệu hai trăm ngàn đồng)”. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Giang Thành Đ nêu trên đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu truy tố bị cáo Giang Thành Đ là hoàn toàn đúng người, đúng tội.
Đối với người tên L1, bị cáo Đ khai nhận đã cùng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, quá trình điều tra chưa làm rõ nhân thân, lý lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã tách vụ án tiếp tục điều tra xử lý là phù hợp.
- [5] Xét tính chất, hành vi phạm tội: Bị cáo Giang Thành Đ là người đã thành niên, có đủ năng lực hành vi và đủ khả năng nhận thức rõ hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, chỉ vì sử dụng ma tuý và đến khi không có tiền bị cáo Đ lại cùng với L1 lấy trộm tài sản của người khác. Trong vụ án này bị cáo Đ cùng với người tên L1 đã cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội, nên cùng là đồng phạm với nhau, nhưng mang tính nhất thời cùng thực hiện hành vi, không có sự cấu kết chặt chẽ, chỉ cùng nhau thực hiện, bị cáo Đ vào nói chuyện cùng anh L làm cho anh L mất tập trung trong việc quản lý tài sản để L1 lấy xe được thuận lợi, nên bị cáo Đ phải chịu trách nhiệm hình sự do chính hành vi bị cáo gây ra. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những gây mất trật tự trị an tại địa phương mà còn tạo tâm lý bất an cho người dân trong quản lý tài sản và hành vi bị cáo Đ sử dụng ma tuý và khi hết tiền lại thực hiện hành vi phạm tội là cần phải được xử phạt. Do đó cần có mức án tù tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
- [6] Xét tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy bị cáo Đ phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên khi lượng hình Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử cũng nhận thấy bị cáo trong quá trình làm việc tại Công an P, Cơ quan Cảnh sát Điều tra, Cơ sở Cai nghiện ma tuý bị cáo Đ đều có khai nhận hành vi cùng L1 trộm cắp tài sản, nhưng sau đó bị cáo không thừa nhận cùng L1 lấy trộm xe, không có bàn bạc cùng L1 và không được chia tiền nên bị cáo không phạm tội trộm cắp tài sản, nên Hội đồng xét xử không áp dụng tình tiết thành khẩn đối với bị cáo Đ như ý kiến đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp.
- [7] Về vật chứng trong vụ án: Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave S, màu nâu-xám, biển kiểm soát 94K1-175.29 của anh Phan Văn L, quá trình điều tra Cơ quan điều tra không thu hồi được nên không có cơ sở xử lý.
- [8] Về trách nhiệm dân sự: Anh Phan Văn L không yêu cầu bồi thường về trách nhiệm dân sự, Hội đồng xét xử không đặt ra để giải quyết.
- [9] Về án phí: Bị cáo Giang Thành Đ phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
-
Tuyên bố bị cáo Giang Thành Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i khoản 1 Điều 51; Điều 17; khoản 1 Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Giang Thành Đ 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
-
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí và lệ phí Tòa án.
Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo Giang Thành Đ phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Án xử sơ thẩm, bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |
6
Nơi nhận:
- - TAND tỉnh Bạc Liêu;
- - Sở Tư pháp tỉnh Bạc Liêu;
- - VKSND thành phố Bạc Liêu;
- - CQ Điều tra thành phố Bạc Liêu;
- - Chi Cục THADS thành phố Bạc Liêu;
- - Bị cáo; Bị hại;
- - Lưu.
Võ Phương Bình
Bản án số 78/2024/HS-ST ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 78/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
