|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 78/2024/HS-ST Ngày 08-8-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hữu Duyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Kim Niệm;
Bà Lê Thị Phương Dung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hải Yến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Kim Thị Giàu - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 05, 08 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 51/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:
-
Họ và tên: Lục Văn T (tên gọi khác: Tiến T1), sinh ngày 01/01/1984 tại tỉnh Cao Bằng; nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lục Văn N, sinh năm 1964 (đã chết) và bà Lục Thị N1, sinh năm 1965; bị cáo có vợ tên Đỗ Thị T2, sinh năm 1985 (đã ly hôn); bị cáo có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2019; bị cáo có 01 người em sinh năm 1986; tiền sự: Không.
Tiền án: Có 02 tiền án.
- - Căn cứ Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2020/HS-ST ngày 27/4/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng đã xử phạt bị cáo 04 (bốn) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Căn cứ Công văn số 526/CV-CCTHADS ngày 27/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng xác nhận: Bị cáo Lục Văn T đã nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm ngày 24/5/2021 của Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2020/HS-ST ngày 27/4/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.
- - Căn cứ Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2024/HS-ST ngày 23/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng đã xử phạt bị cáo 08 (tám) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân:
- - Căn cứ Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2011/HS-ST ngày 22/3/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh đã xử phạt bị cáo 08 (tám) năm tù về tội “Giết người” theo khoản 2 Điều 93 của Bộ luật Hình sự. Căn cứ Bản án hình sự phúc thẩm số 388/2011/HS-PT ngày 22/6/2011 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã xử phạt bị cáo 08 (tám) năm tù về tội “Giết người” theo khoản 2 Điều 93 của Bộ luật Hình sự (Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lục Văn T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2011/HS-ST ngày 22/3/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh).
- - Căn cứ Công văn số 55/CV-CCTHADS ngày 11/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước xác nhận: Ngày 25/8/2011, Lục Văn T đã thi hành xong các khoản án phí hình sự sơ thẩm và hình sự phúc thẩm, án phí dân sự sơ thẩm của Bản án hình sự phúc thẩm số 388/2011/HS-PT ngày 22/6/2011 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh và Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2011/HS-ST ngày 22/3/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh. Riêng phần bồi thường trong bản án trên thì Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước chưa thụ lý do bên được thi hành án chưa có đơn yêu cầu thi hành án (căn cứ Công văn 1361/CV-CTHADS-VP ngày 30/8/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh).
- - Căn cứ Bản án hình sự sơ thẩm số 119/2023/HS-ST ngày 30/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai đã xử phạt bị cáo 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo bị bắt tạm giam trong vụ án khác (căn cứ Quyết định điều chuyển người bị tạm giam số 27/QĐ-CAT-CQQL.TGTG ngày 16/01/2024 của Công an tỉnh Đ) và bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện P từ ngày 29/01/2024 cho đến nay, có mặt.
-
Họ và tên: Trần Văn K, sinh ngày 10/9/2000 tại tỉnh Bình Phước; nơi cư trú: Thôn G, xã L, huyện P, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Q, sinh năm 1972 (đã chết) và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1972; bị cáo có 04 anh chị em, lớn nhất sinh năm 1996, nhỏ nhất sinh năm 2009; tiền sự: Không.
Tiền án: Căn cứ Bản án hình sự sơ thẩm số 67/2019/HS-ST ngày 28/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước đã xử phạt bị cáo K 09 (chín) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Căn cứ Công văn số 184/CV-CCTHADS ngày 28/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước xác nhận bị cáo Trần Văn K đã thi hành xong khoản án phí của Bản án hình sự sơ thẩm số 67/2019/HS-ST ngày 28/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước là 200.000 đồng vào ngày 07/02/2020. Căn cứ Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2020/HSST ngày 27/4/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 04 (bốn) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Tổng hợp hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm số 67/2019/HS-ST ngày 28/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước đã xử phạt bị cáo K 09 (chín) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 04 (bốn) năm 09 (chín) tháng tù. Căn cứ Giấy chứng nhận chấp hành xong hình phạt tù số 317/GCN ngày 20/5/2023 của Trại giam Đ thuộc Cục C1 đã chứng nhận Trần Văn K đã chấp hành xong hình phạt tù của Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2020/HSST ngày 27/4/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.
Về nhân thân: Căn cứ Bản án hình sự sơ thẩm số 119/2023/HS-ST ngày 30/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai đã xử phạt bị cáo 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo bị bắt tạm giam trong vụ án khác (căn cứ Quyết định điều chuyển người bị tạm giam số 27/QĐ-CAT-CQQL.TGTG ngày 16/01/2024 của Công an tỉnh Đ) và bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện P từ ngày 29/01/2024 cho đến nay, có mặt.
-
Họ và tên: Lê Hoàng T3, sinh ngày 21/01/1993 tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Cao Đài; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn H1, sinh năm 1953 và bà Nguyễn Thị R, sinh năm 1955; bị cáo có vợ tên Trần Thị Tú T4, sinh năm 1997; bị cáo có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2018; bị cáo có 5 anh chị em, lớn nhất sinh năm 1979, nhỏ nhất sinh năm 1991; tiền sự: Không.
Tiền án: Căn cứ Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2024/HS-ST ngày 23/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng đã xử phạt bị cáo 07 (bảy) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Nhân thân: Căn cứ Bản án hình sự sơ thẩm số 119/2023/HS- ST ngày 30/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai đã xử phạt bị cáo 08 (tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo bị bắt tạm giam trong vụ án khác (căn cứ Quyết định điều chuyển người bị tạm giam số 27/QĐ-CAT-CQQL.TGTG ngày 16/01/2024 của Công an tỉnh Đ) và bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện P từ ngày 29/01/2024 cho đến nay, có mặt.
- Bị hại:
- Ông Âu Thanh T5, sinh năm 2001; địa chỉ: Tổ D, khu phố C, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bình Dương; có mặt.
- Ông Trần Quang T6, sinh năm 2005; địa chỉ: Ấp B, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương; có mặt.
- Ông Lương Chí C, sinh năm 2004; địa chỉ: Ấp T, xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Như H2, sinh năm 1968; địa chỉ: 5, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
- Ông Huỳnh Huy L; địa chỉ: 8 đường số C, khu phố A, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
- 3. Công ty TNHH T9; địa chỉ: A, đường C, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Người đại diện theo pháp luật là ông Phạm Trung L1 – Giám đốc; vắng mặt.
- 4. Bà Lê Thị X, sinh năm 1985; địa chỉ: Tổ A, khu phố A, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lục Văn T rủ Trần Văn K, Lê Hoàng T3 trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài, K, T3 đồng ý, T3, T, K phân công nhiệm vụ, chuẩn bị dụng cụ, phương tiện đi trộm cắp tài sản ở nhiều địa phương. Ngày 19/7/2023, Trần Văn K, Lục Văn T, Lê Hoàng T3 trộm cắp xe mô tô tại ấp E, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C phát hiện quả tang và Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai đưa vụ án xét xử tại bản án số 119/2023/HS-ST ngày 30/11/2023. Qúa trình điều tra, K, T, T3 khai nhận cùng thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện P, tỉnh Bình Dương như sau:
Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 15/7/2023, T3 là người đứng ra thuê xe ô tô biển số 51K-244.12 của Công ty trách nhiệm hữu hạn T9 ở phường H, thành phố T, Hồ Chí Minh. T3 điều khiển chở K, T đi trộm cắp tài sản. Khoảng 00 giờ ngày 16/7/2023, khi đi ngang nhà Âu Thanh T5 ở khu phố C, thị trấn P, huyện P, thấy có một chiếc xe Winner màu đỏ biển số 61F1-477.05 của anh T5 đang để trong sân nhà, không có người trông coi nên T3 dừng xe lại ở ngoài cảnh giới, K và T bước xuống xe đi lại cổng nhà đang khóa, K lấy kiềm cắt khóa cổng rồi vào trong sân nhà dắt chiếc xe Winner màu đỏ biển số 61F1- 477.05 đi ra ngoài đường, K dùng đoản phá khóa xe, T nổ máy xe mô tô chở K chạy trên đường ĐT741 hướng lên thành phố Đ, tỉnh Bình Phước, còn T3 điều khiển xe ôtô chạy theo sau, khoảng 1 giờ ngày 16/7/2023 khi đi ngang qua tiệm vá vỏ Tuấn T7 ở số nhà C, ấp B, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương thấy có một xe mô tô nhãn hiệu Vario màu trắng biển số 47F1-740.33 của anh Trần Quang T6 không có người trông coi nên cả nhóm dừng lại. K đi vào nhà lấy trộm xe mô tô biển số 47F1-740.33 đẩy ra ngoài đường rồi dùng van phá khóa xe Vario biển số 47F1-740.33 chạy về hướng Bình Phước, T điều khiển xe biển số 61F1-477.05, còn T3 điều khiển xe ô tô chạy phía sau. Khi chạy được khoảng 6-7 km, T3 dừng lại tấp vào 01 con hẻm vắng, đưa chiếc xe biển số 61F1- 477.05 cất giấu ở cốp xe ôtô, T lên xe ô tô ngồi với T3, còn K điều khiển chiếc xe Vario màu trắng chạy theo phía sau hướng về huyện B, tỉnh Bình Phước.Trên đường đi, K gọi điện thoại cho H3 (không rõ nhân thân lai lịch) đã hẹn trước đó đến khu vực lô cao su thuộc huyện B, tỉnh Bình Phước bán xe. Tại đây, K bán 02 xe mô tô vừa trộm được với giá là 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu đồng). Hình thức thanh toán là chuyển khoản từ tài khoản của Hồ Văn B chuyển 25.000.000 vào tài khoản của Lê Hoàng T3. Sau đó, cả nhóm chạy về tỉnh Bình Dương, T3 trả tiền thuê xe ô tô và cùng nhau tiêu xài cá nhân hết số tiền bán xe.
Ngày 16/7/2023, ông Âu Thanh T5 đến Công an thị trấn P trình báo sự việc bị mất trộm tài sản.
Ngày 16/7/2023, ông Trần Quang T6 phát hiện mất trộm tài sản, ông T6 đến Công an xã A trình báo sự việc.
Kết luận định giá tài sản số 47/KL-HĐĐGTS ngày 07/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P kết luận 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Winnerx màu đỏ biển số 61F1-477.05 có giá trị 45.000.000 đồng.
Kết luận định giá tài sản số 47/KL-HĐĐGTS ngày 07/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P kết luận 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario 125 màu trắng đen biển số 47F1-740.33 có giá trị 45.000.000 đồng.
Vào tối ngày 17/7/2023, Lê Hoàng T3 đến dịch vụ vận tải Thế Nam tại địa chỉ 58/21, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương thuê 01 chiếc xe ôtô 07 chỗ màu xám biển số 61K-171.62. Sau khi thuê được xe, T3 điều khiển xe ô tô chở Lục Văn T, Trần Văn K đến địa phận huyện P, Bình Dương tìm tài sản lấy trộm. Khoảng 2 giờ sáng ngày 18/7/2023, K, T3, T đi ngang nhà của anh Lương Chí C, ở ấp T, xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương thấy chiếc xe mô tô biển số 61F1-320.64 ở ngoài sân nên cả nhóm dừng lại, T và K bước xuống xe đi lại cổng, K lấy kiềm cộng lực mang theo cắt khóa cổng, T và K bước vào dắt chiếc Winner màu vàng đen biển số 61F1-320.64 đi ra ngoài đường rồi K dùng van phá khóa mở khóa xe, K điều khiển chiếc xe chạy về hướng Đ, còn T lên xe ôtô đi cùng với T3, đi được khoảng 5-6 km thì cả nhóm dừng xe lại tấp vào 01 con hẻm vắng đưa chiếc xe mô tô biển số 61F1-320.64 cất giấu ở phía sau cốp xe ô tô rồi chạy về hướng huyện B, tỉnh Bình Phước. Trên đường đi K điện thoại bán xe mô tô biển số 61F1-320.64 vừa trộm được cho đối tượng H3 (không rõ nhân thân lai lịch) với số tiền là 6.000.000₫ (sáu triệu đồng), trước khi bị bắt K làm mất điện thoại nên không nhớ số của H3. Khi đến nơi, K xuống xe bán xe và nhận tiền, còn T3 và T ngồi trên xe. Sau khi lấy tiền xong K, T3, T chạy về Bình Dương ăn nhậu và tiêu xài hết. Ngày 18/7/2023, ông Lương Chí C đến Công an xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương trình báo sự việc bị mất trộm.
Kết luận định giá tài sản số 47/KL-HĐĐGTS ngày 07/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P kết luận 01 xe mô Winner KC 26 màu vàng đen biển số 61F1-320.64 có giá trị 14.000.000 đồng.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra thu giữ: 01 (một) ổ khóa việt tiệp có thân khóa màu vàng có kích thước 4,6x1,6x4,0 cm có móc khóa màu trắng bằng kim loại đã bị cắt móc khóa tại nhà của ông Lương Chí C.
01 (một) bì thư được niêm phong có hình dấu mộc tròn của Công an xã V, huyện P, chữ ký của ông Lương Chí C bên trong có một usb nhãn hiệu Hoco có dung lượng 8GB lưu trữ lại đoạn video ghi lại hình ảnh trộm cắp xe mô tô biển số 61F1-320.64 tại nhà của bị hại Lương Chí C được lưu giữ tại hồ sơ vụ án.
01 (một) bì thư được niêm phong có hình dấu mộc tròn của Công an xã A, huyện P bên trong có một usb lưu trữ lại đoạn video ghi lại hình ảnh trộm cắp xe mô tô xảy ra tại tiệm V ở số C, đường Đ, ấp B, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương được lưu giữ tại hồ sơ vụ án.
Đối với các vật chứng của vụ án gồm: 02 (hai) điện thoại di động thu giữ của Lê Hoàng T3; 01 (một) áo khoác màu đen và 01 balo trong đó đựng: 01 (một) nón màu xanh đen, 02 (hai) kìm cộng lực, 02 (hai) dụng cụ nhổ đinh, 04 cái đoản dùng để phá khóa, 01 (một) khóa dạng L, 01 (một) tua vít, 02 cái panh, 01 (một) bấm móng tay, 01(một) đèn pin, bốn găng tay vải màu đen, 01 (một) chìa khóa xe mô tô của Lục Văn T; 01 (một) áo khoác màu xám và số tiền 600.000 đồng của Trần Văn K bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Đồng Nai thu giữ. Sau đó, Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai đưa vụ án ra xét xử và xử lý vật chứng tại Bản án hình sự sơ thẩm số 119/2023/HS-ST ngày 30/11/2023 nên Viện kiểm sát không đặt ra xem xét.
Tại bản Cáo trạng số 54/CT- VKSPG, ngày 23/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo truy tố các bị cáo Lục Văn T, Trần Văn K, Lê Hoàng T3 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a, c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo tham gia phiên toà trình bày lời luận tội trong đó có nội dung vẫn giữ nguyên quyết định cáo trạng đã truy tố, đánh giá tính chất mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố:
- - Bị cáo Lục Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản” và áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; các điểm g, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lục Văn T mức hình phạt từ 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù đến 04 (bốn) năm 09 (chín) tháng tù;
- Áp dụng khoản 1 Điều 55 của Bộ luật Hình sự: Tổng hợp hình phạt 08 (tám) năm tù của Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2024/HS-ST ngày 23/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng và tổng hợp hình phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù của Bản án hình sự sơ thẩm số 119/2023/HS-ST ngày 30/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của ba bản án.
- - Bị cáo Trần Văn K phạm tội “Trộm cắp tài sản” và áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; các điểm g, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Văn K mức hình phạt từ 04 (bốn) năm tù đến 04 (bốn) năm 03 (ba) tháng tù.
- Áp dụng khoản 1 Điều 55 của Bộ luật Hình sự: Tổng hợp hình phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù của Bản án hình sự sơ thẩm số 119/2023/HS-ST ngày 30/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai, buộc bị cáo Trần Văn K phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án.
- - Bị cáo Lê Hoàng T3 phạm tội “Trộm cắp tài sản” và áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 173; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điểm g, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Hoàng T3 mức hình phạt từ 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù;
- Áp dụng khoản 1 Điều 55 của Bộ luật Hình sự: Tổng hợp hình phạt 07 (bảy) năm tù của Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2024/HS-ST ngày 23/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng, buộc bị cáo Lê Hoàng T3 phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án.
- - Bị cáo Trần Văn K phạm tội “Trộm cắp tài sản” và áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; các điểm g, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Văn K mức hình phạt từ 04 (bốn) năm tù đến 04 (bốn) năm 03 (ba) tháng tù.
- Áp dụng khoản 1 Điều 55 của Bộ luật Hình sự: Tổng hợp hình phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù của Bản án hình sự sơ thẩm số 119/2023/HS-ST ngày 30/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai, buộc bị cáo Trần Văn K phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc các bị cáo Lục Văn T, Trần Văn K, Lê Hoàng T3 phải liên đới bồi thường cho các bị hại Âu Thanh T5, Trần Quang T6 và Lương Chí C theo quy định pháp luật.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 47 của Bộ luật Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy 01 (một) ổ khóa Việt Tiệp có thân khóa màu vàng có kích thước 4,6 x 1,6 x 4,0 cm có móc khóa màu trắng bằng kim loại đã bị cắt móc khóa do không còn giá trị sử dụng.
Tại phiên tòa, các bị cáo Lục Văn T, Trần Văn K, Lê Hoàng T3 thừa nhận hành vi phạm tội, các bị cáo đã có hành vi lén lút lấy trộm các tài sản gồm:
- Vụ thứ 1. Khoảng 00 giờ ngày 16/7/2023, tại nhà Âu Thanh T5 ở khu phố C, thị trấn P, huyện P, các bị cáo Lục Văn T, Trần Văn K, Lê Hoàng T3 lấy trộm 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Winnerx màu đỏ biển số 61F1-477.05.
- Vụ thứ 2. Khoảng 01 giờ ngày 16/7/2023, tại tiệm V tọa lạc tại số C, đường Đ, ấp B, xã A, huyện P, các bị cáo Lục Văn T, Trần Văn K, Lê Hoàng T3 lấy trộm 01 xe mô tô nhãn hiệu Vario màu trắng biển số 47F1-740.33 của bị hại Trần Quang T6. Sau khi lấy được 02 chiếc xe mô tô trên, các bị cáo T3, T, K đem đến khu vực lô cao su thuộc huyện B, tỉnh Bình Phước bán cho một đối tượng H3 (không rõ nhân thân lai lịch) đã hẹn trước đó với số tiền 25.000.000 đồng.
- Vụ thứ 3. Khoảng 02 giờ sáng ngày 18/7/2023, tại nhà của ông Lương Chí C, tọa lạc tại ấp T, xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương, các bị cáo Lục Văn T, Trần Văn K, Lê Hoàng T3 lấy trộm 01 xe mô tô biển số 61F1-320.64. K trực tiếp trao đổi việc bán xe mô tô vừa trộm được cho đối tượng H3 (không rõ nhân thân lai lịch) với số tiền là 6.000.000₫ (sáu triệu đồng).
Tại phiên tòa, bị hại ông Âu Thanh T5 đã bị mất trộm 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Winnerx màu đỏ biển số 61F1 – 477.05, bị hại đã nhận bồi thường của gia đình bị cáo Lê Hoàng T3 số tiền 15.000.000 đồng và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Lê Hoàng T3, không yêu cầu các bị cáo Lục Văn T, Trần Văn K, Lê Hoàng T3 tiếp tục bồi thường; ngoài ra, không có yêu cầu khác.
Tại phiên tòa, bị hại ông Trần Quang T6 trình bày đã bị mất trộm 01 xe mô tô nhãn hiệu Vario màu trắng biển số 47F1 – 740.33 và thống nhất định giá tài sản có trị giá 45.000.000 đồng, bị hại ông Trần Quang T6 yêu cầu các bị cáo liên đới bồi thường số tiền 45.000.000 đồng. Bà Lê Thị X là chị ruột của bị cáo Lê Hoàng T3 đã bồi thường số tiền 15.000.000 đồng nên bị hại ông Trần Quang T6 yêu cầu các bị cáo Lục Văn T và Trần Văn K bồi thường số tiền 30.000.000 đồng còn lại theo phần và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Lê Hoàng T3; ngoài ra, không có yêu cầu khác.
Tại phiên tòa, bị hại ông Lương Chí C khai nhận bị mất trộm 01 xe mô tô biển số 61F1 – 320.64 và thống nhất định giá tài sản có trị giá 14.000.000 đồng, bị hại ông Lương Chí C yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 14.000.000 đồng. Bà Lê Thị X là chị ruột của bị cáo Lê Hoàng T3 đã bồi thường số tiền 4.700.000 đồng nên bị hại ông Lương Chí C yêu cầu các bị cáo Lục Văn T và Trần Văn K bồi thường số tiền 9.300.000 đồng theo phần và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Lê Hoàng T3; ngoài ra, không có yêu cầu khác.
Tại phiên tòa, bà Lê Thị X là chị ruột của bị cáo Lê Hoàng T3 trình bày, bị cáo Lê Hoàng T3 đã tác động gia đình bồi thường số tiền 34.700.000 đồng cho các bị hại; cụ thể bị hại Âu Thanh T5 với số tiền 15.000.000 đồng, bồi thường cho bị hại Trần Quang T6 với số tiền 15.000.000 đồng, bồi thường cho bị hại Lương Chí C với số tiền 4.700.000 đồng. Bà Lê Thị X tự nguyện bồi thường hỗ trợ cho bị cáo Lê Hoàng T3 nên không yêu cầu bị cáo T3 phải hoàn trả và không có ý kiến khác.
Lời nói sau cùng của các bị cáo Lục Văn T, Trần Văn K, Lê Hoàng T3: Các bị cáo đã vi phạm pháp luật, bị cáo hối hận về hành vi phạm tội, mong muốn Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, các bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
-
Về nội dung vụ án: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Lục Văn T, Trần Văn K, Lê Hoàng T3 khai nhận: Để có tiền tiêu xài nên bị cáo Lục Văn T rủ các bị cáo Trần Văn K và Lê Hoàng T3 đi trộm cắp tài sản. Trước khi đi cả ba bị cáo tổ chức, phân công nhiệm vụ, chuẩn bị dụng cụ, phương tiện đến địa phận huyện P, tỉnh Bình Dương thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản như sau:
- [3] Vụ thứ 1. Khoảng 00 giờ ngày 16/7/2023, tại nhà Âu Thanh T5 ở khu phố C, thị trấn P, huyện P, các bị cáo Lục Văn T, Trần Văn K, Lê Hoàng T3 lấy trộm 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Winnerx màu đỏ biển số 61F1-477.05.
- [4] Vụ thứ 2. Khoảng 01 giờ ngày 16/7/2023, tại tiệm V tọa lạc tại số C, đường Đ, ấp B, xã A, huyện P, các bị cáo Lục Văn T, Trần Văn K, Lê Hoàng T3 lấy trộm 01 xe mô tô nhãn hiệu Vario màu trắng biển số 47F1-740.33 của bị hại Trần Quang T6. Sau khi lấy được 02 chiếc xe mô tô trên, các bị cáo T3, T, K đem đến khu vực lô cao su thuộc huyện B, tỉnh Bình Phước bán cho một đối tượng H3 (không rõ nhân thân lai lịch) đã hẹn trước đó với số tiền 25.000.000 đồng.
- [5] Vụ thứ 3. Khoảng 02 giờ sáng ngày 18/7/2023, tại nhà của ông Lương Chí C, tọa lạc tại ấp T, xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương, các bị cáo Lục Văn T, Trần Văn K, Lê Hoàng T3 lấy trộm 01 xe mô tô biển số 61F1-320.64. K trực tiếp trao đổi việc bán xe mô tô vừa trộm được cho đối tượng H3 (không rõ nhân thân lai lịch) với số tiền là 6.000.000đ (sáu triệu đồng).
- Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số 47/KL-HĐĐGTS ngày 07/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P kết luận 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Winnerx màu đỏ biển số 61F1-477.05 có giá trị 45.000.000 đồng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario 125 màu trắng đen biển số 47F1-740.33 có giá trị 45.000.000 đồng và 01 xe mô Winner KC 26 màu vàng đen biển số 61F1-320.64 có giá trị 14.000.000 đồng.
- Tổng giá trị tài sản các bị cáo Lục Văn T, Trần Văn K, Lê Hoàng T3 đã chiếm đoạt vào ngày 16/7/2023 của bị hại Âu Thanh T5 và Trần Quang T6 và ngày 18/7/2023 của bị hại Lương Chí C là 104.000.000 đồng.
- Hành vi của các bị cáo Lục Văn T, Trần Văn K, Lê Hoàng T3 lợi dụng sự thiếu cảnh giác của chủ sở hữu đã chiêm đoạt tài sản của các bị hại với tổng giá trị tài sản là 104.000.000 đồng, các bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đã đủ dấu hiệu cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại các điểm a, c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
- Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo truy tố các bị cáo Lục Văn T, Trần Văn K, Lê Hoàng T3 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a, c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
- Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
- Xét hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của bị hại mà còn gây mất an ninh, trật tự tại địa phương.
- Xét động cơ, mục đích phạm tội vì tư lợi muốn có tiền tiêu xài mà các bị cáo đã bất chấp pháp luật, hậu quả gây ra cho xã hội để thực hiện hành vi phạm tội. Vụ án mang tính chất đồng phạm cùng thực hiện tội phạm, bị cáo Lục Văn T là người tổ chức, phân công nhiệm vụ, khởi xướng, rủ rê các bị cáo Trần Văn K và Lê Hoàng T3, cũng là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội nên giữ vai trò chính; đối với bị cáo Trần Văn K bị rủ rê, trực tiếp thực hiện tội phạm và liên hệ đối tượng để bán tài sản; bị cáo Lê Hoàng T3 bị rủ rê, thuê và điều khiển xe chở các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nên giữ vai trò thấp hơn các bị cáo Lục Văn T và Trần Văn K; do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt các bị cáo tương xứng với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra.
- Về nhân thân: Các bị cáo có nhân thân xấu, đã chấp hành hình phạt tù theo bản án của Tòa án lại tiếp tục phạm tội.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Lục Văn T, Trần Văn K, Lê Hoàng T3 đều có tình tiết tăng nặng phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
- Đối với bị cáo Lục Văn T đã bị kết án theo Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2020/HS-ST ngày 27/4/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng và Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2024/HS-ST ngày 23/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng xác định tái phạm nên lần phạm tội này xác định là tái phạm nguy hiểm do đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý theo điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
- Đối với bị cáo Trần Văn K đã bị kết án theo Bản án hình sự sơ thẩm số 67/2019/HS-ST ngày 28/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước và Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2020/HS-ST ngày 27/4/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng (xác định chưa có tiền án) nên lần phạm tội này được xác định là tái phạm do đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý theo điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
- Đối với bị cáo Lê Hoàng T3 đã bị kết án theo Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2024/HS-ST ngày 23/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng nên lần phạm tội này được xác định là tái phạm do đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý theo điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
- Các bị cáo Lục Văn T, Trần Văn K và Lê Hoàng T3 đã bị kết án theo Bản án hình sự sơ thẩm số 119/2023/HS-ST ngày 30/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai không được xem xét là tiền án do hành vi phạm tội thực hiện sau đã được xét xử trước.
- Các bị cáo Lục Văn T, Trần Văn K và Lê Hoàng T3 được xác định là tái phạm theo Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2024/HS-ST ngày 23/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng là do hành vi phạm tội thực hiện trước đã được xét xử trước.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
- Đối với bị cáo Lê Hoàng T3 đã tự nguyện bồi thường cho các bị hại đồng thời các bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, có bà nội là Nguyễn Thị T8 được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ Luật hình sự.
- Căn cứ Quyết định thi hành án số 51/2024/QĐ-CA ngày 27/5/2024; căn cứ Quyết định thi hành án số 52/2024/QĐ-CA ngày 27/5/2024; căn cứ Thông báo sửa chữa, bổ sung bản án số 09/2024/TB-TA ngày 12/8/2024; căn cứ Thông báo sữa chữa, bổ sung quyết định thi hành án số 14/2024/QĐ-CA ngày 12/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng xác định Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2024/HS-ST ngày 23/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng chưa tổng hợp Bản án hình sự sơ thẩm số 119/2023/HS-ST ngày 30/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai đã có hiệu lực pháp luật trước nên Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo sẽ tổng hợp các bản án trên theo quy định của pháp luật.
- Đối với đối tượng tên H3 (không rõ nhân thân lai lịch) do bị cáo Trần Văn K quen biết ngoài xã hội, H3 nói với K khi nào trộm cắp được xe mô tô sẽ bán cho H3, K đồng ý. Ngày 16/7/2023, K bán cho H3 02 xe mô tô trộm cắp với số tiền 25.000.000 đồng. Sau đó, bị cáo Lê Hoàng T3 nhận được số tiền 25.000.000 đồng từ tài khoản của Hồ Văn B, sinh năm 1991, hộ khẩu thường trú: Ấp C, xã H, huyện B, tỉnh Bình Phước. Ngày 18/7/2023, K bán cho H3 01 xe mô tô trộm cắp với số tiền 6.000.000 đồng, K nhận tiền mặt từ H3. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P cho bị cáo T3, T, K nhận dạng Hồ Văn B qua hình ảnh. Kết quả nhận dạng xác định Hồ Văn B không phải là H3, đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P tiếp tục điều tra làm rõ đối tượng H3 và Hồ Văn B để xử lý theo quy định của pháp luật là phù hợp.
- Đối với xe ô tô biển số 51K-244.12 của Công ty TNHH T9. Tối ngày 17/7/2023, bị cáo Lê Hoàng T3 đã trả xe ô tô trên cho Công ty. Ông Ngô Đức Q1 là nhân viên của TNHH T9 cho bị cáo Lê Hoàng T3 thuê xe ô tô biển số 51K-244.12 vào ngày 15/7/2023, ông Q1 không biết việc T3 thuê xe sử dụng làm phương tiện phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P không xử lý là có căn cứ.
- Xét ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo là phù hợp, có căn cứ chấp nhận.
-
Về trách nhiệm dân sự:
- [27] Bị hại ông Âu Thanh T5 đã nhận bồi thường số tiền 15.000.000 đồng của gia đình bị cáo Lê Hoàng T3 và không yêu cầu các bị cáo Lục Văn T và Trần Văn K tiếp tục bồi thường. Ngoài ra, không có yêu cầu khác.
- [28] Bị hại ông Trần Quang T6 yêu cầu mỗi bị cáo Lục Văn T, Trần Văn K và Lê Hoàng T3 phải bồi thường số tiền thiệt hại do tài sản bị xâm phạm là 15.000.000 đồng; đã nhận bồi thường số tiền 15.000.000 đồng của bị cáo Lê Hoàng T3 nên không yêu cầu bị cáo Lê Hoàng T3 tiếp tục bồi thường; yêu cầu mỗi bị cáo Lục Văn T, Trần Văn K phải bồi thường số tiền 15.000.000 đồng. Ngoài ra, không có yêu cầu khác. Các bị cáo thống nhất bồi thường theo yêu cầu từng phần của bị hại.
- [29] Bị hại Lương Chí C đã nhận bồi thường số tiền 4.700.000 đồng của bị cáo Lê Hoàng T3 và yêu cầu mỗi bị cáo Lục Văn T và Trần Văn K phải bồi thường số tiền 4.650.000 đồng. Ngoài ra, không có yêu cầu gì khác. Các bị cáo thống nhất bồi thường theo yêu cầu từng phần của bị hại.
- [30] Hội đồng xét xử xét thấy, tại phiên tòa, các bị cáo và các bị hại thống nhất thỏa thuận số tiền bồi thường theo từng phần bằng nhau phù hợp với mức độ lỗi gây thiệt hại cho các bị hại, việc thỏa thuận trên là phù hợp quy định của pháp luật được quy định tại Điều 48 của Bộ luật Hình sự, Điều 587 của Bộ luật Dân sự, không trái đạo đức xã hội nên ghi nhận.
- Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) ổ khóa Việt Tiệp có thân khóa màu vàng có kích thước 4,6 x 1,6 x 4,0 cm có móc khóa màu trắng bằng kim loại đã bị cắt móc khóa.
- Về án phí sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 173; Điều 48, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các điểm h, g khoản 1 Điều 52; Điều 55; Điều 56; Điều 58 của Bộ luật Hình sự; các Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 587 của Bộ luật Dân sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Lục Văn T, Trần Văn K, Lê Hoàng T3 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
-
Về hình phạt:
- - Áp dụng các điểm a, c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; các điểm h, g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; Điều 55; Điều 56; Điều 58 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lục Văn T 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù.
- Tổng hợp hình phạt 08 (tám) năm tù của Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2024/HS-ST ngày 23/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng và tổng hợp hình phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù của Bản án hình sự sơ thẩm số 119/2023/HS-ST ngày 30/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai buộc bị cáo Lục Văn T phải chấp hành hình phạt chung là 14 (mười bốn) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 20/7/2023.
- - Áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; các điểm h, g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; Điều 55; Điều 56; Điều 58 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Văn K 04 (bốn) năm tù.
- Tổng hợp hình phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù của Bản án hình sự sơ thẩm số 119/2023/HS-ST ngày 30/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai buộc bị cáo Trần Văn K phải chấp hành hình phạt chung là 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 20/7/2023.
- - Áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 173; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điểm h, g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; Điều 55; Điều 56; Điều 58 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Hoàng T3 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù.
- Tổng hợp hình phạt 07 (bảy) năm tù của Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2024/HS-ST ngày 23/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng và tổng hợp hình phạt 08 (tám) tháng tù của Bản án hình sự sơ thẩm số 119/2023/HS-ST ngày 30/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai buộc bị cáo Lê Hoàng T3 phải chấp hành hình phạt chung là 10 (mười) năm 11 (mười một) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 20/7/2023.
-
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) ổ khóa Việt Tiệp có thân khóa màu vàng có kích thước 4,6 x 1,6 x 4,0 cm có móc khóa màu trắng bằng kim loại đã bị cắt móc khóa.
Các vật chứng trên được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Giáo theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 23/5/2024.
-
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 587, Điều 589 của Bộ luật Dân sự:
- Buộc mỗi bị cáo Lục Văn T và Trần Văn K có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại Trần Quang T6 số tiền 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng).
- Buộc mỗi bị cáo Lục Văn T và Trần Văn K có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại Lương Chí C số tiền 4.650.000 đồng (bốn triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng).
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chưa thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.
-
Về án phí sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23, Điều 26, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc mỗi bị cáo Lục Văn T, Trần Văn K, Lê Hoàng T3 phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc mỗi bị cáo Lục Văn T, Trần Văn K phải nộp 983.000 đồng (chín trăm tám mươi ba nghìn đồng).
Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án của Tòa án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Hữu Duyên |
Bản án số 78/2024/HS-ST ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 78/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lục Văn T và đồng phạm trộm cắp tài sản
