Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TÂN UYÊN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

Số: 78/2024/DS-ST

Ngày 08-7-2024

V/v tranh chấp hợp đồng vay

tài sản

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hiền.

- Các Hội thẩm nhân dân.

Bà Võ Thị Hồng Tươi.

Ông Nguyễn Thanh Cần.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Nhân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Trinh - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 223/2023/TLST-DS, ngày 10/10/2023 về việc “tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2024/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 48/2024/QĐST-DS ngày 28/6/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Cẩm V, sinh năm 1970; địa chỉ thường trú: tổ A, khu phố K, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: ông Nguyễn Văn Bé B, sinh năm 1981; địa chỉ thường trú: tổ B, khu phố K, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền (Hợp đồng ủy quyền ngày 14/7/2023); có mặt.

- Bị đơn: Bà Mai Hoàng O, sinh năm 1978; địa chỉ thường trú: tổ B, khu phố K, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập: ông Đỗ Văn N, sinh năm 1976; địa chỉ: tổ B, khu phố K, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Đỗ Việt T, sinh năm 2001; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
  2. Bà Đỗ Mai Như Ý, sinh năm 2006; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
  3. Cùng địa chỉ: tổ B, khu phố K, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

  4. Bà Đỗ Ngọc T1, sinh năm 1978; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
  5. Ông Đỗ Tiến T2, sinh năm 1981; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
  6. Bà Đỗ Thị Ngọc H, sinh năm 1966; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
  7. Cùng địa chỉ: tổ B, khu phố K, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Văn Bé B trình bày:

Ngày 30/01/2016, bà Nguyễn Thị Cẩm V cho bà Mai Hoàng O vay số tiền 2.560.000.000 đồng, không tính lãi, thời hạn vay là 02 tháng kể từ ngày ký giấy thỏa thuận mượn tiền. Sau khi nhận đủ tiền thì bà O đã ký tên vào giấy thỏa thuận mượn tiền. Do trong giấy thỏa thuận mượn tiền có ghi nội dung: “người mượn tiền đã nhận đủ tiền và trao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên” nên bà V không lập biên bản giao nhận tiền riêng. Giấy thỏa thuận mượn tiền là do bà V đánh máy, còn chữ viết trong giấy mượn tiền là do bà O viết tại nhà bà V.

Để đảm bảo cho khoản vay, bà O thế chấp cho bà V 02 bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: số O 821132 ngày 29/7/1999 có diện tích 2.379m² thuộc thửa số 193, tờ bản đồ số 4 và số W 247178 ngày 05/5/2003 có diện tích 2.060m² thuộc thửa số 212, tờ bản đồ số 4 cùng tọa lạc phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, do Uỷ ban nhân dân huyện (nay là thành phố) Tân Uyên cấp cho hộ ông Đỗ Văn C, là cha chồng của bà O.

Do bà O vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên bà V đã nhiều lần liên hệ yêu cầu bà O trả nợ nhưng bà O cố tình không thực hiện. Do đó, bà V khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà O trả cho bà V số tiền vay là 2.560.000.000 đồng, không yêu cầu tính tiền lãi. Bà V đồng ý trả lại cho những người thừa kế của ông Đỗ Văn C 02 bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông C.

* Theo lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn bà Mai Hoàng O trình bày:

Bà O có ký tên vào Giấy thỏa thuận mượn tiền lập ngày 30/01/2016, để mượn bà Nguyễn Thị Cẩm V (tên thường gọi là Út D) số tiền 2.560.000.000 đồng, việc vay mượn tiền không tính lãi, thời hạn vay là 02 tháng kể từ ngày ký giấy thỏa thuận mượn tiền. Tuy nhiên, thực tế bà O không nhận số tiền nêu trên, mà đó là số tiền nợ được chốt lại từ các khoản tiền vay, tiền lãi và tiền hụi trước đó. Bà O đã vay bà V 4 lần với tổng số tiền 320.000.000 đồng, cụ thể:

  1. Lần 1: vay 70.000.000 đồng, tiền lãi 7.500.000 đồng/tháng và cầm cho bà V Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số O 821132 ngày 29/7/1999 có diện tích 2.379m² thuộc thửa số 193, tờ bản đồ số 4 tọa lạc phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, do Ủy ban nhân dân huyện (nay là thành phố) Tân Uyên cấp cho hộ ông Đỗ Văn C.
  2. Lần 2: ngày 19/10/2011 vay 150.000.000 đồng, tiền lãi 15.000.000 đồng/tháng và cầm cho bà V Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số W 247178 ngày 05/5/2003 có diện tích 2.060m² thuộc thửa số 212, tờ bản đồ số 4 tọa lạc phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, do Uỷ ban nhân dân huyện (nay là thành phố) Tân Uyên cấp cho hộ ông Đỗ Văn C.
  3. Lần 3: ngày 30/02/2011 vay 50.000.000 đồng, tiền lãi 75.000.000 đồng/tháng.
  4. Lần 4: năm 2011 vay 50.000.000 đồng, tiền lãi 5.000.000 đồng/tháng.

04 lần vay tiền nêu trên có lập giấy vay nhưng bà V giữ. Bà O không nhớ trong tổng số tiền 2.560.000.000 đồng thì có bao nhiêu tiền lãi, tiền hụi và cũng không biết họ tên những người cùng tham gia chơi hụi.

Năm 2015, bà V cộng tất các khoản nợ gốc, nợ lãi, nợ hụi lại và viết giấy chốt nợ thể hiện nội dung: bà O còn nợ bà V số tiền 1.000.000.000 đồng; mỗi tháng bà O phải trả tiền lãi là 50.000.000 đồng và Giấy chốt nợ do bà V giữ. Bà O đã trả cho bà V 03 tháng tiền lãi với tổng số tiền 150.000.000 đồng nhưng không có giấy tờ chứng minh. Sau đó, bà O không có khả năng trả tiền lãi nên ngày 30/01/2016, bà V viết giấy thỏa thuận mượn tiền để chốt lại số tiền bà O còn nợ bà V là 2.560.000.000 đồng. Do bà O không nhận số tiền 2.560.000.000 đồng từ bà V nên không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà V.

02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà O cầm cố cho bà V là của hộ cụ Đỗ Văn C. Cụ C chết năm 2016, có vợ tên Hồ Thị H1 (chết năm 2011) và có 06 người con đẻ gồm: Đỗ Văn N, Đỗ Thị Ngọc H, Đỗ Văn T3 (chết năm 2011), Đỗ Tiến T2, Đỗ Ngọc T1 và Đỗ Thị L. Cụ C và cụ H1 không có con riêng hay con nuôi nào khác. Ông Đỗ Văn T3 có vợ là bà Mai Hoàng O và có 02 người con đẻ là Đỗ Việt T, sinh năm 2001 và Đỗ Mai Như Ý, sinh năm 2006. Lúc bà O cầm cố giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà V thì cụ C và các con của cụ C không biết. Do đó, bà O đề nghị bà V trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các con của cụ C.

* Theo lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Văn N trình bày:

Cụ Đỗ Văn C, chết năm 2016 và cụ Hồ Thị H1, chết năm 2011 có tất cả 06 người con gồm:

  1. Ông Đỗ Văn N, sinh năm 1976
  2. Bà Đỗ Ngọc T1, sinh năm 1978.
  3. Ông Đỗ Tiến T2, sinh năm 1981.
  4. Bà Đỗ Thị Ngọc H, sinh năm 1966.

Cùng địa chỉ thường trú: tổ B, khu phố K, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

  1. Bà Đỗ Thị L, chết năm 1994 không làm giấy chứng tử; không có chồng, con.
  2. Ông Đỗ Văn T3, sinh năm 1973, chết năm 2021. Ông T3 có vợ là bà Mai Hoàng O và có 02 con tên Đỗ Việt T, sinh năm 2001; Đỗ Mai Như Ý, sinh năm 2006.

Ngoài ra, cụ C và cụ H1 không có con riêng, con nuôi nào hết.

Ông N được bà Nguyễn Thị Cẩm V cho biết là bà Mai Hoàng O có vay tiền của bà V và đã cầm cho bà V 02 bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: số O 821132 ngày 29/7/1999 thuộc thửa số 193, tờ bản đồ số 4 và số W 247178 ngày 05/5/2003 thuộc thửa số 212, tờ bản đồ số 4 cùng tọa lạc phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, do Ủy ban nhân dân huyện (nay là thành phố) Tân Uyên cấp cho hộ cụ Đỗ Văn C.

Thời điểm cấp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ cụ C thì trong hộ cụ C có 07 thành viên gồm: cụ Đỗ Văn C, cụ Hồ Thị H1, ông Đỗ Văn N, bà Đỗ Ngọc T1, ông Đỗ Tiến T2, bà Đỗ Thị L và ông Đỗ Văn T3. Việc bà O cầm cố 02 bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ cụ C cho bà V thì các thành viên trong hộ cụ C không biết. Do vậy, ông N có yêu cầu độc lập đề nghị bà V trả lại 02 bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên cho những người thừa kế của cụ C gồm Đỗ Văn N, Đỗ Ngọc T1, Đỗ Tiến T2 và Đỗ Thị Ngọc H.

* Theo lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Đỗ Ngọc T1, ông Đỗ Tiến T2 và bà Đỗ Thị Ngọc H: thống nhất ý kiến của ông Đỗ Văn N và có đơn yêu cầu giải quyết váng mặt.

* Theo lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Việt T và bà Đỗ Mai Như Ý trình bày:

Ông T và bà Ý là con đẻ của ông Đỗ Văn T3 và bà Mai Hoàng O. Ông T3 chết năm 2021. Việc vay mượn tiền giữa bà O và bà Nguyễn Thị Cẩm V thì ông T và bà Ý hoàn toàn không biết nên không có ý kiến gì. Đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

+ Về tuân theo pháp luật tố tụng: từ khi thụ lý vụ án đến khi khai mạc phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành tố tụng đúng quy định của pháp luật. Vụ án được đưa ra xét xử đúng thời hạn theo quy định tại Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định tại chương XIV về phiên tòa sơ thẩm. Các đương sự đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các điều 70, 71, 72, 73 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

+ Về việc giải quyết vụ án: quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bà Mai Hoàng O đều thừa nhận bà có ký tên vào Giấy thỏa thuận mượn tiền lập ngày 30/01/2016 và số tiền 2.560.000.000 đồng trong giấy mượn tiền do bà O viết là tình tiết không cần phải chứng minh theo Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các giấy hụi bà O cung cấp không có nội dung nào thể hiện bà O tham gia hụi cùng với bà V, cũng không thể hiện số tiền hốt hụi được cấn trừ vào số tiền lãi như bà O trình bày. Đối với file dịch bà O cung cấp tại phiên tòa là do bà O tự dịch, không biết rõ nguồn gốc, xuất xứ nên không được xem là chứng cứ theo quy định tại Điều 95 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Từ những căn cứ nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà V.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông Nguyễn Văn Bé B trình bày ý kiến: giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của bà V, đề nghị bà O thanh toán số tiền vay cho bà V.

Bị đơn bà Mai Hoàng O trình bày ý kiến: bà V cho rằng đã giao cho bà O số tiền 2.560.000.000 đồng nhưng không có chứng cứ chứng minh đã giao nhận tiền. Số tiền 2.560.000.000 đồng thực chất là số tiền của 04 lần vay trước đó, tiền lãi và tiền hụi bà V cộng lại. Do đó, bà O không đồng ý yêu cầu khởi kiện của bà V

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát.

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Bà Nguyễn Thị Cẩm V khởi kiện yêu cầu bà Mai Hoàng O thanh toán số tiền vay là 2.560.000.000 đồng nên đây là quan hệ tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

Bị đơn bà Mai Hoàng O có nơi cư trú tại khu phố K, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Do đó, căn cứ vào các khoản 2, 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

[2] Về thủ tục tố tụng:

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Đỗ Việt T, bà Đỗ Mai Như Ý, bà Đỗ Ngọc T1, bà Đỗ Thị Ngọc H, ông Đỗ Tiến T2 có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 228 và điểm b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên.

[3] Về nội dung vụ án

Bà Nguyễn Thị Cẩm V cho rằng, bà có cho bà Mai Hoàng O vay số tiền 2.560.000.000 đồng, thời hạn vay là 02 tháng và không tính lãi được thể hiện tại Giấy thỏa thuận mượn tiền lập ngày 30/01/2016. Do bà O vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên bà V khởi kiện yêu cầu bà O trả số tiền nêu trên và không yêu cầu tính lãi. Bà O cho rằng số tiền 2.560.000.000 đồng là tiền của các khoản vay trước đó, tiền lãi và tiền hụi cộng lại; ngày 30/01/2016 bà O không nhận số tiền 2.560.000.000 đồng nên không đồng ý trả cho bà V.

[4] Xét yêu cầu thoanh toán tiền vay của bà V

Tại Biên bản hòa giải ngày 16/11/2023, bà O thừa nhận có nợ bà V số tiền 2.560.000.000 đồng, số tiền trong Giấy thỏa thuận mượn tiền lập ngày 30/01/2016 là do bà O viết và chữ ký trong giấy mượn tiền là của bà O. Sự thừa nhận của bà O là tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bà O cho rằng ngày 30/01/2016, bà O không nhận số tiền 2.560.000.000 đồng từ bà V, mà đây là số tiền nợ được chốt lại từ 04 khoản tiền vay, tiền lãi và tiền hụi trước đó. Tuy nhiên, bà O không cung cấp được chứng cứ chứng minh các lần vay tiền, các lần trả tiền lãi, cũng như số tiền cụ thể của từng khoản tiền lãi và tiền hụi. Bà O xuất trình các giấy tờ hụi chỉ ghi số tiền nhưng không thể hiện tên chủ hụi, tên thành viên tham gia hụi và người hốt hụi; đồng thời bà O cũng không biết họ tên của những người cùng tham gia chơi hụi. Do đó, không có căn cứ xác định số tiền 2.560.000.000 đồng trong Giấy thỏa thuận mượn tiền lập ngày 30/01/2016 là tiền lãi và tiền hụi.

Theo Giấy thỏa thuận mượn tiền lập ngày 30/01/2016, các bên thỏa thuận thời hạn vay là 02 tháng và không tính lãi nên đây là hợp đồng vay tiền có kỳ hạn và không có lãi theo quy định tại khoản 1 Điều 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Từ lúc vay tiền cho đến nay, bà O chưa trả cho bà V khoản tiền nào là vi phạm thỏa thuận của các bên, vi phạm nghĩa vụ trả nợ quy định tại Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Do vậy, bà V khởi kiện yêu cầu bà O thanh toán số tiền vay 2.560.000.000 đồng là có cơ sở chấp nhận.

[5] Xét yêu cầu độc lập của ông Đỗ Văn N yêu cầu bà Nguyễn Thị Cẩm V trả lại bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ cụ Đỗ Văn C

Xét thấy, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, bà O và bà V đều thừa nhận, khi bà O vay tiền bà V thì bà O có cầm cố cho bà V 02 bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: số O 821132 ngày 29/7/1999 thuộc thửa số 193, tờ bản đồ số 4 và số W 247178 ngày 05/5/2003 thuộc thửa số 212, tờ bản đồ số 4 cùng tọa lạc phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, do Ủy ban nhân dân huyện (nay là thành phố) Tân Uyên cấp cho hộ cụ Đỗ Văn C. Người đại diện theo ủy quyền của bà V đồng ý trả lại 02 bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên cho những người thừa kế của cụ Đỗ Văn C nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Do đó, yêu cầu độc lập của ông Đỗ Văn N là có cơ sở chấp nhận.

[6] Tại phiên tòa bà Mai Hoàng O cung cấp bản dịch được bà O dịch ra từ đoạn ghi âm lưu trữ trong USB nhưng không được cơ quan, tổ chức xác nhận nguồn gốc nên không được xem là chứng cứ theo quy định tại Điều 95 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[7] Quan điểm giải quyết vụ án đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương là có căn cứ.

[8] Về án phí dân sự sơ thẩm: căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Bà Mai Hoàng O phải chịu tiền án phí đối với yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Cẩm V được chấp nhận.

Bà Nguyễn Thị Cẩm V phải chịu tiền án phí đối với yêu cầu độc lập của ông Đỗ Văn N được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 147, 180, 227, 228, 235, 244, 266, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 398, 401 và 463, 466 và 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Cẩm V đối với bà Mai Hoàng O về việc “tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Buộc bà Mai Hoàng O phải trả cho bà Nguyễn Thị Cẩm V số tiền 2.560.000.000 đồng (hai tỷ năm trăm sáu mươi triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Đỗ Văn N đối với bà Nguyễn Thị Cẩm V về việc yêu cầu trả lại bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Buộc bà Nguyễn Thị Cẩm V trả lại 02 bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: số O 821132 ngày 29/7/1999 thuộc thửa số 193, tờ bản đồ số 4 và số W 247178 ngày 05/5/2003 thuộc thửa số 212, tờ bản đồ số 4 cùng tọa lạc phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, do Ủy ban nhân dân huyện (nay là thành phố) Tân Uyên cấp cho hộ cụ Đỗ Văn C cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ Đỗ Văn C gồm các ông, bà Đỗ Văn N, Đỗ Ngọc T1, Đỗ Tiến T2, Đỗ Thị Ngọc H.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Mai Hoàng O phải chịu số tiền 82.200.000 đồng (tám mươi hai triệu hai trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Bà Nguyễn Thị Cẩm V phải chịu số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm; được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 41.600.000 đồng (bốn mươi mốt triệu sáu trăm nghìn đồng) tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008101 ngày 04/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Trả lại cho bà Nguyễn Thị Cẩm V số tiền 41.300.000 đồng (bốn mươi mốt triệu ba trăm nghìn đồng).

Trả lại cho ông Đỗ Văn N số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001522 ngày 30/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Tân Uyên;
  • - Chi cục THADS thành phố Tân Uyên;
  • - Các đương sự (8);
  • - Lưu: Văn thư, hồ sơ vụ án, 13.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 78/2024/DS-ST ngày 08/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 78/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: vay tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger