Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CAO BẰNG

TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 78/2024/HS-ST

Ngày: 07/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hanh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Hoà

2. Ông Lã Văn Luật

Thư ký phiên tòa: Bà Nông Triệu Bảo Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Tuỳ - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 44/2024/HSST ngày 05 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 110/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 08/QĐ-TA ngày 26/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đối với bị cáo:

Họ tên: Hoàng Kiềm G; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 15 tháng 9 năm 2003 tại: huyện N, tỉnh Cao Bằng; trú tại: xóm N, xã T, huyện N, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Dao; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Con ông: Hoàng Xành L, sinh năm 1985; Con bà: Hoàng Mùi P, sinh năm 1984; cùng trú tại: xóm N, xã T, huyện N, tỉnh Cao Bằng; Anh chị em ruột: Bị cáo có năm anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Vợ, con: Không có; Tiền án, tiền sự: không.

Hiện nay bị cáo đang bị áp dụng biện pháp tạm giam tại nhà tạm giữ công an thành phố C từ 15/12/2023 cho đến nay. Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: ông Triệu Bằng G - Trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh C. Có mặt.

Người làm chứng:

  1. Đặng Quốc T – Sinh năm 1994; Trú tại: Tổ A, phường Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng.
  2. Nông Thị M – sinh năm 1960; Trú tại: Tổ A, phường Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng.
  3. Nông Thu T1 – sinh năm 1977; Trú tại: Xóm G, xã B, thị trấn N, huyện H, tỉnh Cao Bằng.
  4. Đinh Anh H – sinh năm 1987; Trú tại: Tổ I, phường Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng.
  5. Nông Đoàn T2 – sinh năm 1969; Trú tại: Tổ A, phường Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng.
  6. Nguyễn Văn L – sinh năm 1966; Trú tại: Tổ A, phường Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng.
  7. Đặng Tây N – sinh năm 2002; Trú tại: Tổ A, phường Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng.
  8. Đặng Chu L1 – sinh năm 2002; Trú tại: Xóm N, xã H, huyện N, tỉnh Cao Bằng.
  9. Triệu Bình D– sinh năm 2002; Trú tại: Xóm N, xã H, huyện N, tỉnh Cao Bằng.
  10. Triệu Huy H1– sinh năm 2006; Người đại diện hợp pháp của người làm chứng H1: Ông Triệu Văn H2 Cùng trú tại: Xóm N, xã H, huyện N, tỉnh Cao Bằng.
  11. Lý Thanh B – sinh năm 2006; Trú tại: Xóm N, xã H, huyện N, tỉnh Cao Bằng

Người đại diện hợp pháp của người làm chứng B: Ông Lý Mùi C; Trú tại: Bản U, xã T, huyện H, tỉnh Cao Bằng.

(Những người làm chứng đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 21 giờ 00 phút ngày 15/04/2023, Công an thành phố C nhận tin báo của quần chúng nhân dân về việc tại đoạn đường V và khu vực Q thuộc phường Đ, thành phố C có hai nhóm nam thanh niên khoảng 40 người đi xe máy không đội mũ bảo hiểm, có cầm theo nhiều dao phớ, gậy sắt đuổi đánh nhau gây mất tình hình an ninh trật tự. Ngay sau khi nhận tin báo, Công an thành phố C đã đến hiện trường phối hợp với Công an phường Đ, Đại đội Cảnh sát Cơ động, Đội Cảnh sát 113 Công an tỉnh Cao Bằng ngăn chặn các đối tượng trên và đưa về trụ sở Công an phường Đ làm việc. Quá trình điều tra xác định được các đối tượng gồm 02 (hai) nhóm và diễn biễn sự việc như sau:

Nhóm “Thành phố - Nguyên Bình” gồm 23 đối tượng: Đàm Phi Hùng (sinh ngày 18/05/2005, HKTT: Tổ D, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng), Hà Phúc M1 (sinh ngày 06/02/2002, HKTT: Xóm B, Thị trấn N, N, Cao Bằng), Đặng Tây N (sinh ngày 13/02/2002, HKTT: Xóm N, xã H, huyện N, Cao Bằng), Đặng Chu L1 (sinh ngày 02/10/2002, HKTT: Xóm N, xã H, huyện N, tỉnh Cao Bằng), Bế Hoàng Minh Q (sinh ngày 25/05/2006, HKTT: Tổ B, phường Đ, thành phố C, Cao Bằng), Hoàng Quốc T3 (sinh ngày 15/12/2006, HKTT: Xóm B, xã T, huyện N, Cao Bằng), Lý Thanh B (sinh ngày 11/11/2006, HKTT: Xóm B, xã T, huyện N, Cao Bằng), Phạm Lục Đình T4 (sinh ngày 25/11/2005, HKTT: Tổ D, phường S, thành phố C, Cao Bằng), Triệu Bình D (sinh ngày 29/10/2005, HKTT: Xóm N, xã H, huyện N, Cao Bằng), Triệu Huy H1 (sinh ngày 21/04/2006, HKTT: Xóm N, xã H, huyện N, Cao Bằng), Triệu Tòn P (sinh ngày 26/03/2006, HKTT: Xóm Đ, H, N, Cao Bằng), Triệu Văn C1 (sinh ngày 29/07/2006, HKTT: Xóm Đ, xã H, huyện N, tỉnh Cao Bằng), Lý Kim T5 (sinh ngày 08/10/2006, HKTT: Xóm K, xã T, huyện N, Cao Bằng), Đinh Nam C2 (sinh ngày 13/01/2007, HKTT: Tổ A, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng), Hoàng Minh T6 (sinh ngày 14/09/2007, HKTT: Tổ C, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng), Hoàng Đức V (sinh ngày 27/08/2007, HKTT: Tổ A, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng), Phan Đức T7 (sinh ngày 27/11/2007, HKTT: Tổ E, phường S, thành phố C, Cao Bằng), Bàn Phúc T8 (sinh ngày 14/01/2009, HKTT: Xóm T, xã T, huyện N, tỉnh Cao Bằng), Bùi Hoàng L2 (sinh ngày 10/08/2007, HKTT: Tổ A, phường Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng), Đặng Đức D1 (sinh ngày 19/09/2007, HKTT: Xóm B, xã T, huyện N, Cao Bằng), Hoàng Ngọc K (sinh ngày 05/09/2005, HKTT: Nà Bao, xã M, huyện N, Cao Bằng), Nguyễn Quốc Minh H3 (sinh ngày 11/04/2006, Tạm trú: Nà Bao, xã M, huyện N, Cao Bằng), Hoàng Kiềm G1 (sinh năm 2003, HKTT: Xóm N, xã T, huyện N, tỉnh Cao Bằng).

Nhóm “Thành phố - H” gồm 36 đối tượng: Sầm Anh V1 (sinh ngày 04/02/2005, HKTT: Xóm A, B, Thị trấn N, H, Cao Bằng); Hoàng Anh T9 (sinh ngày 16/08/2006, HKTT: Tổ H, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng); Đàm Xuân H4 (sinh ngày 28/09/2006, HKTT: Xóm Đ, xã H, H, Cao Bằng); Đoàn Thiên  (sinh ngày 12/03/2005, HKTT: Xóm B, xã B, huyện H, Cao Bằng); Trần Đức T10 (sinh ngày 02/12/2006, HKTT: Xóm B, xã B, huyện H, Cao Bằng); Hoàng Chung K1 (sinh ngày 11/04/2004, HKTT: Xóm K, xã N, huyện H, Cao Bằng); Hà Vũ Đ (sinh ngày 22/2/2006, HKTT: Bó Lếch, xã H, H, Cao Bằng); Nông Toàn T11, SN: 12/02/2007, HKTT: Bản Nha, xã Đ, huyện H, Cao Bằng); Đặng Thanh B1 (sinh ngày 24/10/2005, HKTT: Bó Lếch, xã H, H, Cao Bằng); Trần Hoàng S (sinh ngày 04/03/2007, HKTT: Đoàn Kết, xã H, H, Cao Bằng); Triệu Đức L3 (sinh ngày 09/07/2006, HKTT: Tổ D, phường D, thành phố C); Nông Thanh N1 (sinh ngày 22/04/2006, HKTT: Xóm G, xã V, thành phố C, Cao Bằng); Đàm Văn B2 (sinh ngày 21/11/2006, HKTT: Kế Nông, xã H, H, Cao Bằng); Long Hải D2 (sinh ngày 10/12/2007, HKTT: Bó Lếch, xã H, H, Cao Bằng); Hoàng H5 (sinh ngày 08/12/2007, HKTT: Xóm N, xã B, huyện H, Cao Bằng); Lương Trần H6 (sinh ngày 31/07/2007, HKTT: Bản Sẵng, xã B, H, Cao Bằng); Đàm Đình T12 (sinh ngày 09/04/2008, HKTT: B, xã H, H, Cao Bằng); Đặng Việt A (sinh ngày 31/12/2008, HKTT: Xóm H, xã H, thành phố C, Cao Bằng); Đặng Thế N2 (sinh ngày 27/12/2007, HKTT: Xóm B, xã H, H, Cao Bằng); Nông Văn M2 (sinh ngày 05/11/2008, HKTT: Tổ H, phường H, thành phố C, Cao Bằng); Nguyễn Bách T13 (sinh ngày 08/10/2007, HKTT: Nà Lữ, xã H, H, Cao Bằng); Đàm Phương N3 (sinh ngày 19/06/2007, HKTT: Bó Lếch, xã H, H, Cao Bằng); Hoàng Sỹ L4 (sinh ngày 22/06/2008, HKTT: Tổ E, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng); Nông Trần B3 (sinh ngày 22/07/2007, HKTT: Bản Sẳng, xã B, H, Cao Bằng); Trần Đức H7 (sinh ngày 13/08/2007, HKTT: Bó Lếch, xã H, H, Cao Bằng); Chu Phương B4 (sinh ngày 05/10/2007, HKTT: Xóm K, xã K, T, Cao Bằng); Trần Thành L5 (sinh ngày 11/12/2007, HKTT: Bản Sảng, xã B, H, Cao Bằng); Đàm Ngọc D3 (sinh ngày 17/02/2008, HKTT: Xóm N, xã B, huyện H, tỉnh Cao Bằng); Nông Văn T14 (sinh ngày 12/05/2009, HKTT: Xóm N, xã B, huyện H, tỉnh Cao Bằng); Hoàng Chí T15 (sinh ngày 12/11/2006, HKTT: Xóm A, xã V, thành phố C, tỉnh Cao Bằng); Nông Văn T16 (sinh ngày 28/11/2003, HKTT: Bản Sẵng, xã B, huyện H, tỉnh Cao Bằng); Vũ Hoàng A1 (sinh ngày 23/03/2002, HKTT: Thôn B, xã H, huyện N, tỉnh Nam Định; Tạm trú: Tổ C, phường Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng); Đoàn Đức V2 (sinh ngày 07/04/2002, HKTT: Pác Háo, xã L, huyện H, Cao Bằng); Đàm Thanh T17 (sinh ngày 28/02/2006, HKTT: Đoàn kết, xã H, huyện H, Cao Bằng); Hoàng Minh T18 (sinh ngày 12/06/2006, HKTT: B, xã H, huyện H, Cao Bằng); Hoàng Minh H8 (sinh ngày 28/01/2006, HKTT: Xóm D, xã V, thành phố C, tỉnh Cao Bằng).

Đối với nhóm “Thành phố - Nguyên Bình”: Buổi chiều ngày 15/04/2023, Đàm Phi H9 cùng Phạm Đình T4, Bùi Hoàng L2, Hoàng Minh T6, Hoàng Đức V đi đến thị trấn N, huyện N, tỉnh Cao Bằng gặp Hà Phúc M1 để rủ M1 đi đánh nhau với nhóm “Thành phố - H”. M1 đồng ý và rủ Đặng Tây N, Đặng Chu L1, Hoàng Quốc T3, Lý Thanh B, Triệu Tòn P, Triệu Huy H1, Triệu Văn C1, Bàn Phúc T8, Đặng Đức H10 đi đánh nhau. Tất cả đều đồng ý và cả nhóm đi xe mô tô ra thành phố C. M1 chở bạn gái là Lý Kim T5 và mang theo 06 đến 07 tuyp sắt, 01 con dao phớ, trong đó có 03 tuýp sắt của Hoàng Ngọc K (SN: 2005), 01 (một) con dao phớ của Nguyễn Quốc Minh H3 (SN: 2006) cùng trú tại N, xã M, huyện N, Cao Bằng cung cấp cho M1; khi đưa hung khí cho M1, K và H3 biết rõ M1 dùng để đi đánh nhau. Khi nhóm của M1 đi đến thành phố C, M1 đã giấu số hung khí mang theo trên đồi tại khu vực đường V. Sau đó L2 và H9 đi mua 1,5 lít xăng để chế tạo “bom xăng” bằng vỏ chai bia. Bế Minh Q1, Đinh Nam C2 lấy 02 (hai) két vỏ chai bia bằng thủy tinh tại nhà Q1 rồi cả nhóm đi đến đường bờ kè dưới gầm cầu N thuộc phường S, thành phố C để chế tạo “bom xăng” bằng cách đổ xăng vào chai bia rồi bịt giẻ vào đầu chai. M1 và T5 trực tiếp đỗ xăng vào chai bia. Sau khi chế tạo bom xăng” xong cả nhóm gồm 21 người di chuyển bằng xe máy đi đến khu vực Q thì nhìn thấy một số đối tượng của nhóm “Thành phố - H” và cả nhóm tiếp tục đi đến khu vực đường V rồi dừng tại ngã ba rẽ vào tổ dân phố A, phường Đ để phục kích nhóm “Thành phố - H” đi qua sẽ ném “bom xăng” và vỏ chai bia vào nhóm này.

Nhóm “Thành phố - H”: Do đã có mâu thuẫn với nhóm “Thành phố - Nguyên Bình” từ trước nên nhóm “Thành phố - H” lập một nhóm trên ứng dụng nhắn tin “Mesenger” có tên nhóm là “BaLaBum” mục đích là để nói chuyện, lên kế hoạch, chuẩn bị hung khí và hẹn thời gian, địa điểm để cùng nhau đi đánh nhóm “Thành phố - N”. Khi thấy nhóm “Thành phố - N” cầm hung khí đi qua khu vực Q thì Hoàng Anh T9, Triệu Đức L3, Trần Hoàng S trong nhóm “Thành Phố - H” đi đến khu vực gần nhà Lưu Minh N4 (SN: 2004, trú tại: Xóm B, xã H, huyện H, Cao Bằng) để lấy hai bao hung khí có khoảng 13 ống tuyp sắt, dao phớ và tuyp có hàn gắn thêm dao nhọn (hay gọi là “phóng lợn”) của cả nhóm đã chuẩn bị từ trước. Tại đây nhóm này gặp Sầm Anh V1, Đặng Phương N5, Đặng Thanh B1, Đặng Thế N2 rồi tất cả di chuyển bằng xe máy đi đến đầu đường V tại khu vực ngã tư K để tập trung lại chia hung khí cho mọi người rồi đi tìm nhóm “Thành phố - N” đánh nhau.

Nhóm “Thành phố - H” tập trung tại khu vực này có 35 người đi trên khoảng 20 xe mô tô và những người ngồi sau xe mô tô cầm theo các hung khí đã chuẩn bị và gạch đá. Sau đó cả nhóm dàn hàng ngang đi trên phần đường giành cho xe máy và xe ô tô trên đường V và di chuyển theo hướng từ Ngã tư K đến cầu S. Khi cả nhóm đi được khoảng 500 mét thì đến vị trí nhóm “Thành phố - N” đang phục kích và bị ném “bom xăng” cùng vỏ chai bia nên bỏ chạy và tập trung nhau lại tại đoạn đường V hướng về ngã tư K. Sau khi tập trung lại, nhóm “Thành phố - H” tiếp tục điều khiển xe mô tô đi truy đuổi đánh nhóm “Thành phố - N”. Quá trình nhóm “Thành phố - Nguyên Bình” bỏ chạy, khi đến vòng xuyên có gắn biển Ngân hàng B5 trên đường V xe mô tô do Hoàng Quốc T3 điều khiển chở Triệu Tòn P và Bàn Phúc T8 đi vào đường một chiều nên đã đâm vào xe mô tô do một người phụ nữ điều khiển đi theo hướng từ cầu S đến Q. Sau đó lực lượng Công an đến ngăn chặn và đưa các đối tượng về trụ sở làm việc.

Tại cơ quan điều tra, các đối tượng đã khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên. Lời khai các đối tượng phù hợp với diễn biến thời gian, địa điểm mà cơ quan điều tra thu thập được. Cơ quan điều tra đã ra quyết định khởi tố đối với 36 đối tượng của cả 2 nhóm về tội Gây rồi trật tự công cộng quy định tại khoản 2 điều 318 Bộ luật Hình sự. Vụ án đã được Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng truy tố và Toà án nhân dân thành phố Cao Bằng xét xử theo quy định pháp luật.

Đối với Hoàng Kiềm G1, trong quá trình điều tra cơ quan điều tra đã triệu tập G1 nhiều lần nhưng G1 không đến làm việc. Ngày 15/11/2023, Cơ quan điều tra đã ra quyết định khởi tố bị can đối với Hoàng Kiềm G1 về hành vi gây rối trật tự công cộng quy định tại khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự. Do G1 đã bỏ trốn, không biết đang ở đâu nên ngày 04/12/2023 Cơ quan điều tra đã ra quyết định truy nã, ngày 11/12/2023 ra Quyết định tách vụ án hình sự và Quyết định tạm đỉnh chỉ điều tra vụ án hình sự. Đến ngày 15/12/2023, Công an thành phố C đã phối hợp với Phòng C3 Công an tỉnh C bắt giữ được Hoàng Kiềm G1 khi đang trốn tại Khu công nghiệp Q, huyện V, tỉnh Bắc Giang và ngày 17/12/2023 Cơ quan điều tra ra Quyết định phục hồi điều tra vụ án, bị can để tiến hành điều tra theo quy định của pháp luật.

Quá trình điều tra, Hoàng Kiềm G1 khai nhận: khoảng buổi trưa ngày 15/04/2023, G1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu TUT HONDA WAVE, BKS 11B1-512.35 đi qua khu vực chợ Nó tại thị trấn N, huyện N, tỉnh Cao Bằng thì gặp Đặng Tây N, Đặng Chu L1, Hoàng Quốc T3, Lý Thanh B, Triệu Tòn P, Triệu Huy H1, Triệu Văn C1, Bàn Phúc T8, Đặng Đức H10, Hà Phúc M1 (đều trú tại huyện N) và Đàm Phi H9, Phạm Lục Đình T4, Bùi Hoàng L2, Hoàng Minh T6, Hoàng Đức V (cùng trú tại thành phố C) đang ngồi uống rượu và bàn bạc về việc ra thành phố C đánh nhau. Do có quen biết từ trước nên Đặng Tây N đã mời G1 vào ngồi cùng uống rượu và rủ G1 ra thành phố C thì G1 đồng ý. Khoảng 17 giờ cùng ngày, G1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave màu đen, biển kiểm soát 11B1 512.35 chở Triệu Huy H1 ngồi phía sau đi cùng cả nhóm trên ra thành phố C. Khi đi đến khu vực chợ N7, cả nhóm dừng lại chờ Hà Phúc M1 đến gặp Hoàng Ngọc K và Nguyễn Quốc Minh H3 để lấy các hung khí gồm ống tuyp sắt và dao phớ rồi cả nhóm đi ra thành phố C. Khi cả nhóm đi đến khu vực đường V thuộc phường Đ đã giấu các hung khí này tại lễ đường rồi đi đến đoạn đường bờ kè tại chân cầu N thuộc tổ E, phường S, thành phố C để chế tạo “bom xăng” bằng cách đỗ xăng vào vỏ chai bia thủy tỉnh rồi lấy giẻ làm nút các chai bia lại, khi đó G1 cũng ở tại đây và được chứng kiến toàn bộ sự việc các đối tượng chế tạo “bom xăng”. Sau khi làm xong, G1 được chia cầm 05 (năm) chai “bom xăng” rồi cùng cả nhóm đi lên đường Võ Nguyên G2. Do G1 điều khiển xe mô tô chở Triệu Huy H1, nên G1 đã đưa 05 (năm) chai “bom xăng” cho H1 cầm. Khi đến đường V cả nhóm dừng tại vị trí giấu các hung khí từ trước đó, rồi chia hung khí cho mọi người, Triệu Huy H1 ngồi sau xe của G1 cầm 01 (một) thanh “phóng lợn”. Cả nhóm tiếp tục di chuyển trên đường V rồi dừng lại đường rẽ đi vào tổ A, phường Đ, thành phố C mục đích là để phục kích nhóm đối thủ. Lúc này, G1 đứng ở gần lề đường và được một người trong nhóm đưa cho cầm 01 (một) thanh tuyp sắt dài khoảng hơn 1 mét, những người khác trong nhóm G1 cũng cầm các hung khí thanh tuyp sắt, "phóng lợn”, “bom xăng”, dao phớ và đứng tại nhiều vị trí khác nhau. Khi nhóm “H – Thành phố” đi xe máy ngang qua vị trí phục kích, nhóm “N – thành phố” đã ném các vỏ chai bia và chai “bom xăng” về hướng nhóm này làm nhóm “H – thành phố” bỏ chạy về nhiều hướng khác nhau thì G1 cầm thanh tuýp sắt đuổi theo. Thấy nhóm đối phương phóng xe máy bỏ chạy, G1 để thanh tuyp sắt trên vỉa hè rồi điều khiển xe mô tô chở Triệu Huy H1 cầm trên tay thanh tuyp sắt đuổi theo nhóm đối phương theo hướng từ thành phố đi vào huyện N. Lúc này thấy nhóm đối phương đông người nên G1 điều khiển xe mô tô chở H1 đi thẳng đến thị trấn N, huyện N, tỉnh Cao Bằng và ngủ ở phòng trọ của Đặng Tây N. Sáng hôm sau (16/04/2023), G1 đi xe máy đến Khu công nghiệp Q, huyện V, tỉnh Bắc Giang làm thuê cho đến khi bị bắt.

Hành vi của Hoàng Kiềm G1 đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C lập hồ sơ đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội gây rối trật tự công cộng quy định tại khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự. Tại bản Cáo trạng số: 52/CT-VKSTP ngày 05/3/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Không có tài sản bị thu giữ cần xem xét.

Tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng rút 01 phần yêu cầu truy tố bị cáo Hoàng K2 Ghuyện theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ Luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tuyên bố bị cáo Hoàng Kiềm G1 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ Luật Hình sự. Xử phạt bị cáo từ 24 đến 27 tháng tù. Xử lý vật chứng: Không có.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Triệu Bằng G- Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh C trình bày: Nhất trí với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng. Bị cáo G1 là người có nhân thân tốt, tuổi còn trẻ, thực hiện hành vi do bị rủ rê lôi kéo. Bị cáo chỉ tham gia gây rối nhưng không gây thương tích cho ai, hành vi của bị cáo chưa gây thiệt hại lớn. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo luôn thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân tại nơi cư trú, chấp hành quy định pháp luật. Bị cáo trình độ văn hoá 6/12, sau khi thực hiện hành vi vì lo sợ nên rời khỏi nơi cư trú, đồng thời bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế khó khăn nên nhận thức còn hạn chế. Trong vụ án này, bị cáo tham gia với vai trò đồng phạm, không gây thương tích cho ai, các bị cáo khác đều được hưởng án treo nhưng do bị cáo bỏ trốn, bị truy nã nên bị bắt tạm giam. Do đó, cần áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 54 Bộ luật Hình sự. Cho bị cáo được hưởng dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Về án phí: bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên đề nghị cho bị cáo được miễn án phí. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung.

Ý kiến đại diện Viện kiểm sát tranh luận: Không nhất trí áp dụng điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo vì hành vi của bị cáo gây bất an cho người tham gia giao thông, ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội. Nếu không ngăn chặn kịp thời thì hậu quả thiệt hại xảy ra lớn. Bị cáo G1 sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã bỏ khỏi địa phương gây khó khăn cho quá trình điều tra nên cần có hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo. Việc đề nghị cho bị cáo ở mức khởi điểm của khung hình phạt là phù hợp với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo nên Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên mức đề nghị hình phạt và không nhất trí áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự. Do bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên nhất trí cho bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đề nghị cho bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Khi được nói lời sau cùng, bị cáo có ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về các hành vi và quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về tội danh: Tại cơ quan điều tra, cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung, lời khai của người làm chứng, vật chứng cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định: Do có mâu thuẫn với nhau, nhóm những người cư trú tại thành phố C - huyện N và nhóm những người cư trú tại thành phố C - huyện H có hành vi đuổi đánh nhau khoảng 21 giờ ngày 15/4/2023. Hoàng Kiềm G1 đã cùng các đối tượng trong nhóm “Thành phố - Nguyên Bình” tụ tập, chuẩn bị hung khí để đi đánh nhau giải quyết mâu thuẫn. Hoàng Kiềm ghuyện đã có hành vi sử dụng gậy tuýp sắt, bom xăng, điều khiển xe máy đuổi đánh nhau trên tuyến đường V thuộc phường Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn và gây hoang mang, lo sợ cho quần chúng nhân dân.

Bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo biết mục đích đi đánh nhau nên đã sử dụng các hung khí: ống tuýp sắt, bom xăng. Quá trình đuổi đánh nhóm Thành phố - H, bị cáo điều khiển xe mô tô chở Triệu Huy H1 cầm theo thanh tuýp sắt. Hành vi của bị cáo mặc dù không xảy ra thương tích nhưng thể hiện tính côn đồ, có sử dụng nhiều hung khí nguy hiểm và có nguy cơ gây tính sát thương cao. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ, gây tâm lý hoang mang, lo sợ trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động đi lại, an toàn cho người tham gia giao thông. Do đó, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội Gây rối trật tự công cộng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự.

Trong vụ án này, bị cáo là người được rủ rê lôi kéo và trực tiếp tham gia đánh nhau, bị cáo không được phân công nhiệm vụ cụ thể khi thực hiện hành vi phạm tội, nhưng bị cáo biết mục đích đi đánh nhau và sử dụng hung khí nguy hiểm khi thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng. Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, không phải phạm tội có tổ chức. Tại phiên toà, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng rút một phần yêu cầu truy tố bị cáo tại điểm a (phạm tội có tổ chức) khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự và đề nghị truy tố bị cáo về tội Gây rối trật tự công cộng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

[5]. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Ngoài ra, bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên cho bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[6]. Về hình phạt chính: Căn cứ vào nhân thân, tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả do hành vi bị cáo gây ra và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, có tính côn đồ, thể hiện sự suy thoái lối sống đạo đức của bị cáo khi ở độ tuổi còn trẻ. Hành vi gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự ở địa phương nên cần có một hình phạt thật nghiêm minh nhằm răn đe, giáo dục các bị cáo và là bài học cảnh tỉnh cho thế hệ trẻ đang trong giải đoạn phát triển tâm sinh lý, có học thói đua đòi. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo cố ý rời khỏi địa phương, gây khó khăn cho quá trình điều tra nên cơ quan điều tra đã ra quyết định truy nã. Xét thấy, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục cải tạo các bị cáo trở thành công dân tốt cho gia đình và xã hội. Việc áp dụng hình phạt tù ở mức khởi điểm của khung hình phạt đảm bảo tương xứng với tính chất mức độ hành vi của các bị cáo.

[7]. Về việc xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ: Không có.

[8]. Các ý kiến của đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với các bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Đối với ý kiến của người bào chữa cho các bị cáo đề nghị cho bị hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) do hành vi của bị cáo gây thiệt hại không đáng kể. Hội đồng xét xử nhận thấy, việc bị cáo sử dụng thanh tuýp sắt, bom xăng, tham gia cùng nhóm ném bom xăng, điều khiển xe mô tô đuổi đánh nhau trên tuyến đường giao thông có nhiều phương tiện đi lại là nguy hiểm cho xã hội. Mặc dù mục đích bị cáo đi đánh nhau nhưng không gây ra thương tích, tuy nhiên hành vi bị cáo thực hiện ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây tâm lý hoang mang, lo sợ và bất bình trong quần chúng và người tham gia giao thông nên việc cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 là không phù hợp. Căn cứ tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, xét thấy việc áp dụng mức hình phạt tù ở mức khởi điểm của khung hình phạt là tương xứng. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận ý kiến của người bào chữa đề nghị cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và áp dụng quy định tại Điều 54 Bộ luật Hình sự cho bị cáo hưởng dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.

Đối với các ý kiến khác của người bào chữa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[9]. Về án phí: Bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[10]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Về tội danh và điều luật áp dụng:

    Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ Luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

    Tuyên bố bị cáo Hoàng Kiềm G1 phạm tội "Gây rối trật tự công cộng".

  2. Về hình phạt:Xử phạt bị cáo Hoàng Kiềm G1 24 (Hai mươi tư) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt được tính kể từ ngày 15/12/2023.
  3. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

    Bị cáo Hoàng Kiềm G1 được miễn án phí hình sự sơ thẩm do thuộc đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn.

  4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

    Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án tỉnh Cao Bằng;
  • - Viện kiểm sát tỉnh Cao Bằng;
  • - Công an tỉnh Cao Bằng;
  • - Viện kiểm sát TP Cao Bằng;
  • - Công an TP Cao Bằng;
  • - Thi hành án DS TP Cao Bằng;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Nguyễn Thị Hanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 78/2024/HS-ST ngày 07/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG, TỈNH CAO BẰNG về hình sự - gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 78/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG, TỈNH CAO BẰNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Kiềm Ghuyện phạm tội gây rối trật tự công cộng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger