|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 78/2024/HS-ST Ngày: 07 - 5 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Sơn
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Trần Xuân Thành
Ông Dương Thanh Cảnh
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Ngô Văn Thanh - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 02 tháng 5 và ngày 07 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 49/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 88/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: M1 (tên gọi khác: Moong P), sinh ngày 13 tháng 3 năm 1955, tại huyện K, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: bàn C, xã B, huyện K, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: làm rẫy; trình độ học vấn: 4/10; dân tộc: Khơ mú; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Moong Thảo H và bà Moong Thị H1; có vợ thứ nhất bà Moong Thị T (đã chết); có vợ thứ hai bà Moong Thị B, sinh năm: 1973 và 06 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/12/2023 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa: Ông Nguyễn Văn H2 - Trợ giúp viên, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh N. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Moong P (đã chết)
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Moong Văn T1 (cha đẻ của bị hại), sinh năm: 1967; nơi cư trú: bản C, xã B, huyện K, tỉnh Nghệ An. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là hàng thừa kế thứ nhất của bị hại đã chết:
- + Ông Moong Văn T1, sinh năm: 1967
- + Bà Cụt Mẹ A, sinh năm: 1968
- + Bà Moong Thị T2, sinh năm: 1986
- + Chị Moong Thị L, sinh năm: 2005
- + Cháu Moong Thị N, sinh ngày:02/01/2011
- + Cháu Moong Thị G, sinh ngày: 18/7/2015
- + Cháu Moong Thị B1, sinh ngày: 22/9/2020
- + Cháu Moong Văn L1, sinh ngày: 27/9/2022
Người đại diện hợp pháp của các cháu N, G, B1, L1 là mẹ đẻ bà Moong Thị T2, sinh năm: 1986.
Cùng trú tại: bản C, xã B, huyện K, tỉnh Nghệ An.
(Ông T1, bà A, bà T2, chị L có đơn xin xét xử văng mặt vắng mặt).
- Người làm chứng:
- + Ông Moong Văn T3, sinh năm: 19987
Nơi cư trú: bản C, xã B, huyện K, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 10 giờ ngày 13 tháng 12 năm 2023, Moong P, sinh năm 1955; anh Moong Phò L2, sinh năm 1987; anh Moong Văn T4, sinh năm 2001; vợ chồng ông Cụt Văn T5, sinh năm 1973 và bà Cụt Thị K, sinh năm 1977, đều trú tại bản Ca Da, xã B, huyện K, Nghệ An ngồi uống rượu ở lán của M1 tại khu vực C5 thuộc bản Ca Moong, xã L, huyện T, tỉnh Nghệ An. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày thì anh Moong Văn T4 đi rừng, những người còn lại tiếp tục ngồi uống rượu tại lán. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, Moong Phò K hết rượu nên anh Moong Phò L2 nói với ông Cụt Văn T5 mở rượu của ông T5 ra uống rồi anh L2 trả tiền cho ông T5 (vợ chồng ông T5, bà K bị câm điếc bẩm sinh, khi đi làm rẫy ông T5 thường mang rượu theo). Ông Cụt Văn T5 lấy rượu cho anh L2 và K1 uống, quá trình uống rượu ông T5 có ra ký hiệu yêu cầu anh L2 trả tiền rượu cho ông T5 nhưng anh L2 không trả tiền. Moong Phò K1 nói với anh L2 là trả tiền cho vợ chồng ông T5 và bà K nhưng anh L2 vẫn không chịu trả. Sau đó một lúc, ông Cụt Văn T5 tiếp tục ra ký hiệu yêu cầu anh L2 trả tiền rượu nhưng anh L2 vẫn không trả tiền mà còn đứng dậy lấy khúc củi trong bếp đánh vào người bà Cụt Thị K và ông Cụt Văn T5, thấy vậy Moong Phò K1 đứng dậy nói với anh L2 bằng tiếng Khơ Mú là “Cho bác xin, đừng làm thế với vợ chồng hắn, có tiền thì trả cho vợ chồng hắn đi”; anh L2 quay lại nói với K1 “Tại mi bày phải không, tau giết cả mi luôn”, nói xong thì anh L2 cầm lấy khúc củi đánh vào người K1 nhưng K1 tránh được, anh L2 thả khúc củi xuống rồi rút con dao nhọn mang theo bên người đâm K1 nhưng không trúng. Lúc này tại sàn lán cạnh vị trí Moong Phò K đứng có một con dao quắm, K1 cúi xuống cầm lấy dao, anh
Moong Phò L2 cũng cúi người xuống dùng dao đâm K1 nhưng không trúng, K1 cầm dao chém nhiều phát trúng vào vùng cổ, đầu, người của anh Moong Phò L2. Bị chém trúng người, anh Moong Phò L2 chạy ra khỏi lán khoảng 25 mét thì ngã gục. Sau khoảng 10 phút trấn tĩnh, Moong P Khoong đến vị trí anh M Phò L2 thấy anh L2 bị chết nên K1 cầm con dao dùng để chém anh L2 về trình báo với anh Moong Văn T3, sinh năm 1987, là trưởng bản Ca Da, xã B, huyện K, tỉnh Nghệ An rồi đưa con dao trên cho anh T3 giữ. Anh Moong Văn T3 đã báo sự việc trên và giao nộp con dao gây án của M1 cho Công an xã B, đồng thời thông báo cho gia đình anh Moong Phò L2 biết. Hậu quả anh Moong Phò L2 bị chết. Đến 10 giờ ngày 14/12/2023, Moong P Khoong đến trụ sở Công an xã B xin đầu thú và khai báo về hành vi phạm tội của mình.
Tại biên bản khám nghiệm tử thi ngày 14 tháng 12 năm 2023, xác định từ thi Moong P có các dấu vết, tổn thương trên cơ thể như sau:
“+ Khám bên ngoài:
- - Vùng đầu bên phải đầu, cách thẳng trên đỉnh vành tai phải 5cm, có 01 vết thương kích thước (2,4 x 0,3)cm, hướng từ phải sang trái.
- - Vùng đầu bên trái đầu, cách thẳng trên đỉnh vành tai trái 8cm, có 01 vết thương, kích thước (13,5 x 0,5)cm, hướng trên xuống dưới.
- - Vùng trán bên trái trán, mặt, cách dưới đường chân tóc trán 5cm, cách đường dọc giữa trán 3,5cm, có 01 vùng xây xát, mất lớp thượng bì da, bằm tụ máu, không liên tục, kích thước (10,5 x 5)cm.
- - Vùng bên trái cằm, cách dưới ngoài mép miệng trái 5,5cm, cách dưới trong dái tai trái 7cm, có 01 vùng xây xát, mất lớp thượng bì da, rách da, bầm tụ máu, không liên tục, kích thước (6,5 x 7)cm.
- - Phía bên phải cổ, cách thẳng dưới dái tai phải 6,5cm, có 01 vết thương, kích thước (9,5 x 1,2)cm hướng phải sang trái, chếch trên xuống dưới.
- - Phía bên trái cổ, bờ vai trái, có 01 vùng xây xát, mất lớp thượng bì da, rách da, bầm tụ máu, không liên tục, kích thước (14,5 x 9,5)cm. Trên vùng này, cách thẳng dưới dái tai trái 8cm, cách đường dọc giữa cổ 8cm, có 01 vết thương. kích thước (6,8 x 0,8)cm hướng trái sang phải, chếch dưới lên trên.
- - Vùng ngực phía bên trái, cách dưới bả vai trái 18cm, cách đường giữa xương ức 8,5cm, có 01 vùng xây xát, mất lớp thượng bì da, bầm tụ máu, không liên tục, kích thước (12 x 14,6)cm.
- - Phía sau cổ, lưng, cách thẳng dưới giữa đường chân tóc gáy 7,5cm, có 01 vùng xây xát, mất lớp thượng bì da, rách da, bầm tụ máu, không liên tục, kích thước (6,5 x 16)cm.
- - Lưng, cách dưới trong mỏm vai phải 30cm, có 01 vùng xây xát da, bầm tụ máu, không liên tục, kích thước (18 x 0,5)cm.
- - Bờ vai bên phải, có 01 vùng xây xát, mất lớp thượng bì da, bầm tụ máu, không liên tục, kích thước (14.5 x 1)cm. Trên vùng này, cách trên trong mỏm vai phải 6,3cm, cách đường dọc giữa cổ 16,5cm, có 01 vết thương, kích thước (5,7 x 0,7)cm; hướng trên xuống dưới, chếch trước ra sau.
- - 1/3 trên, ngoài cánh tay phải, cách dưới sau mỏm vai phải 7cm, cách trên ngoài mỏm khuỷu tay phải 28cm, có 01 vết thương, kích thước (9.8 x 1.1)cm; hướng trên xuống dưới, phải sang trái.
- - 1/3 trên, sau cánh tay phải, cách trên ngoài mỏm khuỷu tay phải 21cm, cách dưới ngoài mỏm vai phải 12cm, có 01 vết thương, kích thước (2 x 0,4)cm, hướng sau ra trước.
- - Bàn tay, ngón tay phải, cách dưới trong mỏm trâm quay tay phải 10,5cm, cách dưới ngoài mỏm trâm trụ tay phải 8,5cm, có 01 vết thương, kích thước (11 x 0,4)cm, hướng từ dưới lên trên. Vết thương làm đứt xương bàn, ngón IV bàn tay phải.
- * Tất cả các dấu vết mô tả trên có hình không xác định, bở mép vết thương gọn, bầm tụ máu.
- (Ngoài ra không phát hiện tôn thương nào khác)
+ Khám trong:
* Đầu - T - Mặt
- - Tương ứng với dấu vết mục 1.1.6 (phần khám ngoài): tổ chức dưới da bị bầm tụ máu nặng.
- - Tương ứng với vết thương mục 1.1.4 (phần khám ngoài): tổ chức dưới da bị bầm tụ máu nặng, xương hộp sọ bị đứt, kích thước đoạn đo được (2,2 x 0,3)cm.
- - Tương ứng với vết thương mục 1.1.5 (phần khám ngoài): tổ chức dưới da bị bầm tụ máu nặng, xương hộp sọ bị đứt, kích thước đoạn đo được (13,2 x 0,3)cm. Đứt màng cứng và tổ chức nào. Tụ máu dưới màng cứng hai bán cầu đại não.
- - Tương ứng với vết thương mục 1.1.8 (phần khám ngoài): tổ chức dưới da bị bẩm tụ máu nặng, đứt một phần xương đốt sống cổ.
* Cổ:
- - Tương ứng với vết thương mục 1.1.9 (phần khám ngoài): tổ chức dưới da bị bẩm tụ máu nặng, dứt một phần xương đốt sống cổ; đứt động mạch, tĩnh mạch cảnh trái.
- - Tương ứng với dấu vết mục 1.1.10 (phần khám ngoài): tổ chức dưới da bị bẩm tụ máu.
* Ngực - Bụng:
- - Xương sườn, xương ức không bị gãy.
- - Hai khoang lồng ngực, ổ bụng, bao tim không chứa máu.
- - Tim, phổi, gan nhạt màu, không bị tổn thương.
- - Dạ dày chứa thức ăn nhuyễn hóa lẫn dịch.
- (Ngoài ra không phát hiện tổn thương nào khác)".
Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 271/KLGĐTT-KTHS ngày 18/12/2023 của Phòng K3 Công an tỉnh N kết luận nguyên nhân chết của anh M Phò Lương như sau: “Đứt xương hộp sọ, tổ chức não, động mạch cảnh trái, tĩnh mạch cảnh trái, xương đốt sống cổ, xương bàn, ngón IV bàn tay phải, tụ máu dưới màng cứng hai bán cầu đại não trái do đa vết thương”.
Tại Bản kết luận giám định số 39/KL-KTHS(Đ2-SV) ngày 29/12/2023 của Phòng K3 Công an tỉnh N kết luận như sau:
“+ Mẫu chất màu nâu đỏ nghỉ máu thu tại khu vực bếp của lán ở hiện trường ký hiệu M1 gửi tới giám định là máu người, thuộc nhóm máu O.
+ Mẫu chất màu nâu đỏ nghi máu thu tại khu vực chân cầu thang của lán ở hiện trường ký hiệu M2 gửi tới giám định là máu người, thuộc nhóm máu Q
+ Trên con dao gửi giám định có bám dính máu người, thuộc nhóm máu O.
+ Máu tử thi Moong Phò L2 gửi tới giám định thuộc nhóm máu O”
* Về vật chứng:
Ngày 14/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N lập biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu thu giữ gồm:
- - 01 (một) con dao dài 50 cm, lưỡi dao làm bằng kim loại dài 28 cm, lưỡi dao sắc, mũi dao quắm xuống, vị trí rộng nhất trên lưỡi dao là 5,5 cm; cán dao làm bằng gỗ dài 22 cm; giữa lưỡi dao và cán dao có gắn một khuy kim loại hình tròn, dao đã qua sử dụng.
- - 01 (một) vỏ dao bằng gỗ dài 29 cm, phần rộng nhất kích thước 06 cm, dày 1,5 cm, có màu nâu xám được quần 06 đai nhựa; tại vị trí cách 1/3 phần mũi bị nứt, gãy, đầu còn lại gắn dây vải dài 39 cm; vỏ dao đã qua sử dụng; 01 (một) khúc gỗ hình trụ tròn dài 40 cm, đường kính 09 cm, một đầu được cắt bằng, một đầu bị cháy than hóa.
Các vật chứng nêu trên hiện được bảo quản tại kho vật chứng Công an tỉnh N.
* Về trách nhiệm dân sự:
Đại diện hợp pháp của bị hại Moong P, gồm có: ông Moong Văn T1, sinh năm 1967; bà Cụt Thị A1, sinh năm 1968; bà Moong Thị T2, sinh năm 1986 và chị Moong Thị L, sinh năm 2005, cùng trú tại bản C, xã B, huyện K, Nghệ An yêu cầu đền bù dân sự như sau: tiền bồi thường tổn thất về tinh thần theo quy định của pháp luật, tiền mai táng phí: 16.000.000 đồng (mười sáu triệu đồng), tiền nuôi dưỡng các cháu: Moong Thị N, sinh ngày 02/11/2011; Moong Thị G sinh ngày 18/7/2015; Moong Văn B2, sinh ngày 22/9/2020; Moong Văn L1, sinh ngày 27/9/2022 là con của anh M Phò Lương cho đến khi đủ 18 tuổi. Hiện gia đình bị can Moong Phò K2 đã đền bù được 3.000.000 đồng (ba triệu đồng).
Bản cáo trạng số 83/CT-VKS-P2 ngày 29 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An quyết định truy tố bị cáo Moong Phò K2 về tội “Giết người” theo quy định tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo Moong Phò K2 thừa nhận hành vi dùng dao chém nhiều nhát vào người anh M Phò L2, làm cho anh L2 tử vong.
- Đại diện hợp pháp của bị hại và hàng thừa kế thứ nhất của bị hại: yêu cầu bị cáo Moong P Khoong tiếp tục bồi thường tiền bồi thường dân sự về tổn thất về tinh thần theo quy định của pháp luật, tiền mai táng phí, tiền nuôi dưỡng các cháu: Moong Thị N, sinh ngày 02/11/2011; Moong Thị G sinh ngày 18/7/2015; Moong Văn B2, sinh ngày 22/9/2020; Moong Văn L1, sinh ngày 27/9/2022 là con của ông Moong Phò L2 một lần với tổng số tiền là 100.000.000 đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 123; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015. Xử phạt bị cáo Moong Phò K2 từ 07 đến 08 năm tù về tội “Giết người”.
Về trách nhiệm dân sự: buộc bị cáo phải bồi thường cho hàng thừa kế thứ nhất của bị hại các chi phí là tiền mai táng phí, tiền bồi thường tổn thất về tinh thần và tiền cấp dưỡng cho các con chưa thành niên của bị hại theo yêu cầu của hàng thừa kế thứ nhất của bị hại.
Về vật chứng vụ án: - 01 (một) con dao dài 50 cm, lưỡi dao làm bằng kim loại dài 28 cm, lưỡi dao sắc, mũi dao quắm xuống, vị trí rộng nhất trên lưỡi dao là 5,5 cm; cán dao làm bằng gỗ dài 22 cm; giữa lưỡi dao và cán dao có gắn một khuy kim loại hình tròn, dao đã qua sử dụng; - 01 (một) vỏ dao bằng gỗ dài 29 cm, phần rộng nhất kích thước 06 cm, dày 1,5 cm, có màu nâu xám được quần 06 đai nhựa; tại vị trí cách 1/3 phần mũi bị nứt, gãy, đầu còn lại gắn dây vải dài 39 cm; vỏ dao đã qua sử dụng; 01 (một) khúc gỗ hình trụ tròn dài 40 cm, đường kính 09 cm, một đầu được cắt bằng, một đầu bị cháy than hóa là công cụ thực hiện hành vi phạm tội hoặc không còn giá trị sử dụng được thu giữ trong vụ án cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Buộc bị cáo Moong Phò K2 phải chịu án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo Moong Phò K2 nêu luận điểm bào chữa: Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình nên nhất trí như tội danh Viện kiểm sát truy tố. Hành vi của bị cáo là bột phát, không có ý định từ trước, không chuẩn bị công cụ phạm tội, không có ý định bức bị hại đến chết, trước đó bị hại đã tấn công bị cáo, nếu bị cáo không tự vệ thì khả năng người chết là bị cáo, nhưng một phần bị hơi men khống chế, không làm chủ được hành vi nên đã dẫn đến án mạng đau lòng. Tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã tự khai báo về các hành vi phạm tội của mình giúp cho quá trình phát hiện và quy kết tội phạm của cơ quan chức năng được thuận lợi hơn, bị cáo đã tác động gia đình khắc phục một phần dân sự cho gia đình bị hại. Bị cáo là người dân tộc thiểu số nên nhận thức pháp luật còn hạn chế. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo Moong Phò K2 đồng ý với quan điểm bào chữa của người bào chữa, không tranh luận với quan điểm của Kiểm sát viên, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về nội dung: Tại phiên tòa, bị cáo Moong Phò K2 khai nhận hành vi phạm tội của mình, hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, Kết luận giám định của Phòng K3 Công an tỉnh N và các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong quá trình điều tra cũng như các chứng cứ, tài liệu khác được thu thập theo trình tự luật định, phản ánh đúng sự thật khách quan của vụ án.
Như vậy có đủ căn cứ để kết luận: xuất phát từ mâu thuẫn trong quá trình uống rượu, sau khi bị M Phò L2 dùng khúc củi đánh vào người nhưng bị cáo tránh được, dùng dao mang bên người đâm hai lần nhưng không trúng mà Moong Phò K2 đã lấy con dao tại sàn lán gần vị trí của mình chém nhiều phát trúng vào vùng cổ, đầu, người của ông L2. Hậu quả đã làm ông Moong Phò L2 tử vong. Hành vi của Moong Phò K2 là rất nguy hiểm, đã sử dụng hung khí (dao sắc nhọn) chém vào vùng đầu, động mạch, tĩnh mặc cổ của Moong P, hậu quả L2 tử vong chất do đa vết thương. Hành vi của Moong Phò K2 đã phạm vào tội “Giết người”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật hình sự.
Quan điểm buộc tội của viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An đối với bị cáo theo tội danh và khung hình phạt như bản cáo trạng là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2] Về tính tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Moong Phò K2 phạm tội không có tình tiết tăng nặng
Sau khi phạm tội bị cáo đã bồi thường thiệt hại và được đại diện hợp pháp của bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt. Do đó, được áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội.
Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp tới quyền được bảo hộ về tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật Hình sự bảo vệ. Hành vi của bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo nghiêm minh với mức án thật nghiêm khắc, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ điều kiện để răn đe, cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Tuy nhiên, để xảy ra sự việc cũng có một phần lỗi của bị hại khi đã dùng hung khí nguy hiểm (dao nhọn) tấn công, đe dọa giết bị cáo trước, mặc dù là không trúng, khiến cho tâm trạng của bị cáo bị kích thích, lo sợ, không đủ bình tĩnh để chọn cách xử lý khác có hậu quả thấp hơn. Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; sau khi phạm tội đã đến cơ quan có thẩm quyền đầu thú và thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, bị cáo được tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Đó là các căn cứ để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo cải tạo tốt, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.
[4] Về trách nhiệm dân sự: cần buộc bị cáo bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm gồm các khoản chi phí sau:
- - Chi phí hợp lý cho việc mai táng: bị cáo đã bồi thường cho hàng thừa kế thứ nhất của bị hại số tiền 12.000.000 đồng, gia đình bị hại không yêu cầu bồi thường thêm.
- - Bồi thường tổn thất về tinh thần: những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường tổn thất về tinh thần với số tiền 50.000.000 đồng.
- - Tiền cấp dưỡng cho các con chưa thành niên của bị hại là các cháu Moong Thị N, sinh ngày 02/11/2011; Moong Thị G sinh ngày 18/7/2015; Moong Văn B2, sinh ngày 22/9/2020; Moong Văn L1, sinh ngày 27/9/2022 là con của ông Moong Phò L2 cho đến khi đủ 18 tuổi. Đại diện hợp pháp của các cháu N, G, B2, L1 là bà Moong Thị T2 yêu cầu bị cáo cấp dưỡng một lần cho các cháu với số tiền 50.000.000 đồng.
Xét thấy, đây là sự tự nguyện của những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất và của đại diện hợp pháp của các con chưa thành niên của bị hại, phù hợp với quy định của pháp luật và bị cáo đồng ý bồi thường nên hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về các quyết định và hành vi tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh N, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa, Luật sư và bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định.
[6] Về vật chứng vụ án: cần tịch thu tiêu hủy vật chứng đã thu giữ là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội và vật chứng không còn giá trị:
- - 01 (một) con dao dài 50 cm, lưỡi dao làm bằng kim loại dài 28 cm, lưỡi dao sắc, mũi dao quắm xuống, vị trí rộng nhất trên lưỡi dao là 5,5 cm; cán dao làm bằng gỗ dài 22 cm; giữa lưỡi dao và cán dao có gắn một khuy kim loại hình tròn, dao đã qua sử dụng;
- - 01 (một) vỏ dao bằng gỗ dài 29 cm, phần rộng nhất kích thước 06 cm, dày 1,5 cm, có màu nâu xám được quần 06 đai nhựa; tại vị trí cách 1/3 phần mũi bị nứt, gãy, đầu còn lại gắn dây vải dài 39 cm; vỏ dao đã qua sử dụng;
- - 01 (một) khúc gỗ hình trụ tròn dài 40 cm, đường kính 09 cm, một đầu được cắt bằng, một đầu bị cháy than hóa.
[7] Về án phí: Buộc bị cáo Moong Phò K2 phải chịu án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ vào khoản 2 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Moong P Khoong 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Giết người”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 14/12/2023.
2. Về trách nhiệm dân sự:
- - Buộc bị cáo Moong P Khoong bồi thường cho hàng thừa kế thứ nhất của ông Moong Phò L2 (bao gồm: ông Moong Văn T1, sinh năm: 1967; bà Cụt Mẹ A, sinh năm: 1968; bà Moong Thị T2, sinh năm: 1986; chị Moong Thị L, sinh năm: 2005; cháu Moong Thị N, sinh ngày:02/01/2011; cháu Moong Thị G, sinh ngày: 18/7/2015; cháu Moong Thị B1, sinh ngày: 22/9/2020; cháu Moong Văn L1, sinh ngày: 27/9/2022; cùng trú tại: bản C, xã B, huyện K, tỉnh Nghệ An) số tiền bồi thường tổn thất về tinh thần là 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng).
- - Buộc bị cáo Moong Phò K2 cấp dưỡng nuôi con một lần cho các cháu Moong Thị N, sinh ngày:02/01/2011; cháu Moong Thị G, sinh ngày: 18/7/2015; cháu Moong Thị B1, sinh ngày: 22/9/2020; cháu Moong Văn L1, sinh ngày: 27/9/2022 - người đại diện hợp pháp của các cháu N, G, B1, L1 là mẹ đẻ bà Moong Thị T2, sinh năm: 1986; cùng trú tại: bản C, xã B, huyện K, tỉnh Nghệ An, số tiền là 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu, tiêu hủy:
- - 01 (một) con dao dài 50 cm, lưỡi dao làm bằng kim loại dài 28 cm, lưỡi dao sắc, mũi dao quắm xuống, vị trí rộng nhất trên lưỡi dao là 5,5 cm; cán dao làm bằng gỗ dài 22 cm; giữa lưỡi dao và cán dao có gắn một khuy kim loại hình tròn, dao đã qua sử dụng;
- - 01 (một) vỏ dao bằng gỗ dài 29 cm, phần rộng nhất kích thước 06 cm, dày 1,5 cm, có màu nâu xám được quần 06 đai nhựa; tại vị trí cách 1/3 phần mũi bị nứt, gãy, đầu còn lại gắn dây vải dài 39 cm; vỏ dao đã qua sử dụng;
- - 01 (một) khúc gỗ hình trụ tròn dài 40 cm, đường kính 09 cm, một đầu được cắt bằng, một đầu bị cháy than hóa
Đặc điểm tình trạng vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N và Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An ngày 29/3/2024.
4. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc Moong Phò K2 phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 5.000.000đ (năm triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo Moong Phò K2 có quyền kháng cáo Bản án lên Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội. Người đại diện hợp pháp của người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là hàng thừa kế thứ nhất của bị hại có quyền kháng cáo bản án lên Toà án cấp cao tại Hà Nội trong hạn 15 kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản bản án theo quy định./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Quốc Sơn |
Bản án số 78/2024/HS-ST ngày 07/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về hình sự - giết người
- Số bản án: 78/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Giết người
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mong Phò K - giết người - chưa đạt
